Nhân một nhà văn lớn của miền Nam trước 1975 vừa qua đời…

  • Bởi Admin
    04/08/2016
    7 phản hồi

    Song Chi

    Sau 30.4.1975, nhiều người miền Bắc vào miền Nam và nhận ra mình bị lừa, nhận ra sự dối trá của đảng và nhà nước cộng sản khi tận mắt chứng kiến sự phồn thịnh, sung túc, tự do, thoải mái, văn minh tiến bộ hơn hẳn của Sài Gòn và miền Nam. Nhưng đó chỉ mới là khía cạnh kinh tế, và sự tự do dân chủ. Còn những cái mất mát đáng tiếc nữa, nói lên sự ngu xuẩn, tội ác của nhà cầm quyền và sự éo le của lịch sử khi một chế độ lạc hậu, man rợ hơn lại thắng một chế độ văn minh hơn. Đó là sự mất mát của cả một nền văn học nghệ thuật tự do, đầy sáng tạo, đầy tính nhân văn, một nền giáo dục “nhân bản, dân tộc và khai phóng” hay một xã hội đã xây dựng được tương đối một nền nếp đạo đức, quy củ, tôn trọng luật pháp…

    Riêng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, ngay sau tháng 4.1975, nhà cầm quyền đã ra lệnh tịch thu, đốt phá cho bằng hết những sản phẩm văn hóa “đồi trụy” của miền Nam. Cùng với một số lượng lớn quân nhân công chức, trí thức của chế độ VNCH, nhiều văn nghệ sĩ miền Nam cũng phải lên đường đi học tập cải tạo, những người còn lại hầu hết buông bút, bị gạt ra ngoài lề xã hội, vất vả mưu sinh bằng những công việc khác, chả liện quan gì đến nghiệp văn, như ra chợ trời bán thuốc lá, bán đồ cũ, thậm chí làm ruộng, chăn dê (như nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ chẳng hạn). Rồi nhiều người trong số họ lần lượt phải từ bỏ đất nước ra đi tìm tự do vì không chịu nổi đời sống tinh thần, chính trị, sáng tác bức bối, kỳ thị ở VN.

    Hơn 41 năm sau, có lẽ chỉ có âm nhạc miền Nam là vẫn hiện diện thường xuyên trong đời sống tinh thần của người Việt trong và ngoài nước. Dù một số lượng tác phẩm và nghệ sĩ vẫn bị cấm biểu diễn, cấm phổ biến ở VN nhưng với những ai yêu âm nhạc miền Nam thì người ta vẫn có thể tìm nghe đủ hết, qua các kênh khác nhau. Nhiều ca sĩ, nhạc sĩ trong nước ra bên ngoài biểu diễn và nhiều ca sĩ, nhạc sĩ hải ngoại trở về nước hát, làm việc, ngay cả những người từng lớn tiếng chống Cộng hay tuyên bố không bao giờ trở về khi chế độ cộng sản còn tồn tại…Nhưng văn chương thì khó hơn nhiều. (Và điện ảnh chẳng hạn, tất nhiên càng không có cơ hội). Hơn 41 năm, một nền văn chương miền Nam dưới chế độ VNCH cực kỳ phong phú, đa dạng, tự do, sáng tạo, vẫn bị xem như chưa hề tồn tại.

    Sự ngu xuẩn của nhà cầm quyền là ở chỗ trong khi Trung Cộng đã và vẫn đang, sẽ là kẻ thù lâu dài của dân tộc VN, là mối đe dọa lớn nhất đối với chủ quyền, độc lập toàn vẹn lãnh thổ, thì nhà cầm quyền lại tiếp sức, tuyên truyền không công cho văn hóa của họ. Sách, tiểu thuyết Trung Quốc được in đầy rẫy trong các nhà sách lớn nhỏ từ Nam ra Bắc, kể cả những loại ngôn tình nhảm nhí cho tới những quyển sách ca ngợi Mao Trạch Đông, ca ngợi Đặng Tiểu Bình- kẻ đã ra lệnh phát động cuộc chiến 1979 để “dạy cho VN một bài học”; phim truyền hình Trung Quốc chiếu tràn lan dày đặc trên các kênh từ trung ương đến địa phương.

    Tội ác của nhả cầm quyền là ở chỗ đã bức hại hàng trăm, hàng ngàn văn nghệ sĩ miền Nam sau 1975 khiến họ phải đi học tập cải tạo, phải lăn lộn với những công việc lao động vất vả để mưu sinh, khiến tài năng họ mỏi mòn, thui chột, cho dù khi phải sống thầm lặng trên quê hương hay khi phải lang bạt tha hương trên xứ người.

    Đôi khi tôi cứ nghĩ, nếu không có biến cố tháng 4.1975 thì văn học dịch thuật, khảo cứu ở miền Nam còn tiến tới đâu? Thì những nhà thơ như Nguyên Sa, Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Trần Dạ Từ, Cung Trầm Tưởng, Trần Tuấn Kiệt,Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Du Tử Lê….; những nhà văn như Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng, Trần Thị NgH, Nguyễn Thị Hoàng, Mai Thảo, Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền, Hoàng Ngọc Biên…; hay mảng nghiên cứu, phê bình, dịch thuật, triết học, phật giáo và công giáo với những cây bút như Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Hoài Khanh, Phạm Công Thiện, các giáo sư và linh mục Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Thích, Hoàng Sỹ Quý, Nguyễn Khắc Xuyên, Kim Định…sẽ còn tiếp tục cho ra đời bao nhiêu tác phẩm, công trình khác nữa?

    Và chắc chắn với bầu không khí tự do, yêu chuộng văn chương học thuật của miền Nam sẽ còn có rất nhiều gương mặt mới, thế hệ mới xuất hiện, nhiều nhà sách, tạp chí, nhiều nhóm văn nghệ, tư tưởng ra đời như đã có nhóm Bách Khoa, Nhân Loại, Nhận Thức (Huế), Tinh-Việt văn-đoàn, Sống Đạo, Phương Đông, Đối Diện, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Gió Mới, Nghệ Thuật…Các tạp chí chuyên về tư tưởng, triết học như Tư Tưởng, Vạn Hạnh, Giữ Thơm Quê Mẹ, các nhà xuất bản Lá Bối, An Tiêm, Ca Dao..., và vô số những tờ báo, tạp chí văn học nghệ thuật như Sáng Tạo, Quan Điểm, Văn Hóa Ngày Nay, Nhân Loại, Văn Đàn, Bách Khoa, Văn Học, Văn, Nghệ Thuật, Tiếng Nói…không thể kể hết.

    Gia tài văn học nghệ thuật của VN vốn đã mỏng, đã ít ỏi, lại còn bị triệt hạ, thủ tiêu tàn nhẫn bởi “bên thắng cuộc”.

    Như nhà văn Dương Nghiễm Mậu, một nhà văn lớn của miền Nam vừa mới qua đời tối ngày 2.8.2016 tại Sài Gòn, nếu không có biến cố 30.4.1975 chắc chắn số lượng tác phẩm và sức sáng tạo của ông đã không dừng ở đó. Sau khi đi học tập cải tạo về, ông sống lặng lẽ bằng công việc vẽ tranh sơn mài cho đến khi nằm xuống vĩnh viễn. Vậy mà năm 2007, khi công ty Phương Nam và NXB Văn Nghệ tái bản bốn tập truyện của ông gồm: Nhan sắc, Đôi mắt trên trời, Tiếng sáo người em út, Cũng đành, ông vẫn bị “đấu tố” tưng bừng, bởi những cây bút đầy ghen tị, với nhân cách và tài năng “nhỏ bé” hơn ông.

    Tính từ thế kỷ XX cho đến nay, lịch sử VN có quá nhiều biến cố bị che dấu, bị bóp méo, thậm chí bị xóa trắng, mà các nhà văn nhà thơ, nhà nghiên cứu cần tiếp tục viết nhiều, nhiều hơn nữa để cho các thế hệ sau và thế giới hiểu được sự thật, hiểu được những năm tháng sai lầm, ngang trái, bi kịch trên đất nước này.

    Chỉ hy vọng rằng trong số những nhà văn còn lại của miền Nam phải im lặng sống tại quê nhà bao nhiêu năm hay phải tha hương trên đất khách vẫn giữ trong tim ngọn lửa văn chương chữ nghĩa, âm thầm viết để rồi một ngày nào đó chúng ta sẽ được đọc những tác phẩm của họ. Và những nhà văn thuộc thế hệ hôm nay, sinh ra, lớn lên sau chiến tranh, trong và ngoài nước, nhưng canh cánh một tấm lòng đối với nước mẹ VN, cũng vậy.

    Bởi đó là món nợ của văn nghệ sĩ trí thức đích thực đối với lịch sử và với đất nước.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Tôi không biết Phan Huy miền Nam hay miền Bắc, nhưng có một Phan Huy MPH tại blog http://fdfvn.wordpress.com đăng hàng trăm bài thơ, trong đó có cả hai bài Cảm Tạ Miền Nam và Tâm Sự Một Đảng Viên mà ông Nguyễn Jung đã giới thiệu.

    "Sau 30.4.1975, nhiều người miền Bắc vào miền Nam và nhận ra mình bị lừa, nhận ra sự dối trá của đảng và nhà nước cộng sản khi tận mắt chứng kiến sự phồn thịnh, sung túc, tự do, thoải mái, văn minh tiến bộ hơn hẳn của Sài Gòn và miền Nam."
    Mãi sau 30-4-1945 mới nhận ra bộ mặt thật của Đảng và nhà nước CS và sự thật của chế độ miền Nam, thế còn tại sao miền Nam không nhận ra sự tốt đẹp của chế độ miền Nam mà họ đang sống? Lạ thật. Người dân miền Nam được hưởng mọi điều kiện văn minh, trình độ dân trí cao mà sao lại dễ bị lừa như vậy? Người dân bưng biển có thể chưa nhận thức ra chế độ lừa dối của CS, thế nhưng nhiều trí thức miền Nam như các ông luật sư Nguyễn Hữu Thọ, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, giáo sư Lê Quang Vịnh... cũng theo CS đấy thôi? Cái nghệ thuật tuyên truyền, lừa dối của CS siêu thật!!!
    Giá như tác giả Song Chi giới thiệu (trích thôi) vài tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn miền Nam cho độc giả miền Bắc được thưởng thức thì hay biết mấy.
    Ở các thành phố lớn của miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng (trước kia ở miền Bắc chỉ có hai thành phố tiêu biểu này thôi) thì đời sống cũng chẳng thua kém các thành phố miền Nam là mấy. Nhưng sau khi bị CS chiếm thì như một nhà báo Ba Lan đã nhận xét: "Hà Nội muốn đuổi kịp Vác sô vi thì càn 20 năm, Vác sô vi muốn đuổi kịp Sài Gòn thì cần 5- hay 10 năm- gì đó, còn Sài Gòn muốn đuổi kịp Hà Nội thì chỉ cần 3 năm". CS đi đến đâu thì tốc độ ở đó xuống cấp rất nhanh chóng.
    Việt cộng vừa tiếp quản miền Bắc xong thì nạn đói đến ngay tức khắc. Đói thì người ta cần cơm gạo chứ chẳng ai cần chữ nghĩa văn thơ.
    Sau khi CS tiếp quản miền Bắc thì chỉ có phong trào văn hóa văn nghệ quàn chúng nhẩy múa son mì ( sòn sòn sòn đô mì...) là phát triển từ thành thị đến nông thôn. Khi đi đấu tố địa chủ cũng nhẩy múa son mì

    @ bác NVHN,
    cám ơn bác đã cho biết "tông tích" của tg Phan Huy.
    Tôi nhận được bài thơ của Phan Huy từ một người bạn, qua email. Post toàn bộ lên DL.

    Tôi đã lò mò tìm xem Phan Huy là ai, nhưng không tìm thấy vì chỉ đi tìm Phan Huy mà không tìm bài thơ.
    Đọc bài thơ của Phan Huy và lời bình của "ai đó" về xuất xứ của thi nhân, tôi cũng để nguyên "xi".

    Xin lỗi tg Phan Huy và các bác vì sự nhầm lẫn này.

    Nguyễn Jung

    Mặc dù tác giả đã dùng ..... sau những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của VN.

    Với cá nhân, chỉ muốn thêm 3 tên cho vui: Chu Tử, Duyên Anh, Ngọc Thái Lang.

    Nhà văn Chu Tử đã kể 1 câu chuyện thật nhưng khó thể tin liên quan đến 1 nàng có nhan sắc mặn mà. Đáng để cho mấy chàng học đẩy đưa :).

    Có 1 thời, cả nam lẫn nữ đã bị nhà văn Duyên Anh thôi miên. Ngòi bút của ông có sức ma lực, quấn hút mê ly với giới trẻ. Trình phịa của ông là tới đỉnh. Ông nốc, ông phê và chỉ nghe qua lời kể của Hoàng Hải Thủy về chuyện tù khám Chí Hòa, ông nặn ra những tác phẩm đầy máu me giang hồ.

    Nếu có ai từng đọc qua tác phẩm Bố Già cả 2 âm bản, Mỹ & Việt, tài dịch của Ngọc Thái Lang quá hay. Với cá nhân, bản Việt còn hay hơn cha đẻ của nó: Mario Puzo.

    Kiếp trước Ngọc Thứ Lang đã từng là tuyển thủ đầu quân cho Italiana :).

    Bác NJ,

    Từ chỗ quý mến vì tấm lòng với đất nước, nhiệt thành, ngay thẳng trong các ý kiến, nên tôi mạnh dạn thưa với bác rằng, tôi không biết chắc còn ông nhà thơ Phan Huy nào nữa có gốc gác ở miền Bắc hay không, nhưng tôi biết rõ một ông, khi làm thơ thì cũng lấy bút danh là Phan Huy (do chỗ quen biết và từng tặng cho ông mỹ danh, "người tiếp nối dòng thơ Nguyễn Chí Thiện" ), cũng là tác giả bài thơ "Cảm Tạ Miền Nam" mà bác trích dẫn. Để kiểm chứng thực, hư về tác giả bài thơ và "tung tích" của ông ta, mời bác vào địa chỉ sau:

    radiolmdcvn.com/blog/cam-ta-mien-nam/

    Trân trọng.

    CẢM TẠ MIỀN NAM.
    Để biết đâu mới là Thiên Đường-

    Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc, Phan Huy đã viết một bài thơ có tựa đề là“Cảm Tạ miền Nam” rất cảm động.
    Ngay trong phần mở đầu ông viết:

    “Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
    Với miền Nam, miền đất mới thân quen
    Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
    Của miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.”

    Sau cái gọi giải phóng và thống nhất, ông Huy đã có dịp vào miền Nam và ông đã nhận ra miền Nam không tồi tệ như bác và đảng đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu ông và khi đã nhận ra một sự thật phũ phàng, ông Huy đã bật khóc:

    "Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động
    “Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
    Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
    Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.
    Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
    Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
    Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
    Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.
    Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động
    Đất nước con người dân chủ, tự do
    Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
    Giận đảng, giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”

    Phan Huy cũng không quên mô tả cuộc sống ở miền Bắc cs, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, vô cùng tồi tệ. Đời sống của nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cầy thay trâu và nhân phẩm của nhân dân miền Bắc bị xô đẩy xuống tới mức ngang hàng với bèo dâu:

    Xã hội sơ khai, tẩy não
    Một chiều “Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
    Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng "kính yêu"
    Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
    Con người nói năng như là chim vẹt.
    Mở miệng ra là: "Nhờ ơn bác đảng
    Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
    Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
    Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.
    Hai mươi mốt năm
    trên đường cách mạng
    Xã hội thụt lùi, người kéo thay trâu
    Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
    Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”

    Trong phần cuối bài thơ, ông Huy kết luận rằng, ngày 30-04-1975 thật sự không phải là ngày cộng sản miền Bắc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, mà ngược lại là ngày miền Nam đã phá màn u tối, đã khai đường chỉ lối, đã khai sáng cho nhân dân miền Bắcthấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản, thật sự chúng chỉ là một bầy ác quỷ và ông đã không tiếc lời cảm tạ nhân dân miền Nam:

    Giải phóng tháng tư đen
    “Cảm tạ miền Nam phá màn u tối
    Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
    Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
    Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.
    Cảm tạ miền Nam khai đường chỉ lối
    Đưa tôi trở về
    tổ quốc thiêng liêng
    Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
    Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.
    Cảm tạ miền nam mở lòng khai sáng
    Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
    Mà trước đây tôi có biết gì đâu
    Ngoài Trung cộng và Liên sô đại vĩ
    Cảm tạ miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
    Chống lại cộng nô cuồng vọng xâm lăng
    Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
    Dù không thành công cũng đã thành
    > danh.”

    Trong một bài thơ khác có nhan đề là “Tâm sự một đảng viên” ông Phan Huy đắng cay bộc lộ rằng, sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì ông quá tin nghe theo lời Hồ già dạy bảo: “Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

    “Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
    Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
    Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”

    Và sở dĩ ông đã xung phong đi cứu miền Nam ruột thịt là vì ông tin vào lời tuyên truyền của Hồ già và đảng cs:
    Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn:
    “Rằng tại miền Nam, ngụy quyền bách hại
    Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
    Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
    Đang rên siết kêu than cần giải phóng”

    Khi dự tính vào miền Nam thăm, viếng một người bà con họ hàng, vì tin vào lời tuyên truyền của bác và đảng là người dân miền Nam đói khổ, nên ông đã chẳng quản đường xa diệu vợi mang theo một mớ gạo mà ông đã phải, dành dụm trong nhiều ngày mới có được, để biếu người bà con đói khổ:
    “Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
    Biếu người bà con trong nầy túng thiếu”
    “Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
    Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
    Khi điêu ngoa, dối trá hiện nguyên hình
    Trước thành phố tự do và nhân bản.”

    Khi đến và đứng trước nhà người bà con, ông Phan Huy mới nhận ra rằng, mớ gạo mà ông nâng niu mang từ miền Bắc thiên đường cộng sản, với hảo ý để biếu người bà con miền Nam bị Mỹ Ngụy kìm kẹp đói khó là một điều điều “lăng mạ” người bà con này:
    Mộng miền Nam
    “Tôi tìm đến người bà con trong xóm
    Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
    Ký gạo đem theo nay đã mốc xì
    Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
    Anh bà con tôi- một người công chức ngụy
    Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
    Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
    Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
    Rồi anh nói: "Ngày mai đi cải tạo
    Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
    Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
    Một chút tình người bà con Nam bộ."

    Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của toàn dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của Hồ già và đảng
    cs, ông Huy cảm thấy hổ thẹn với lương tâm nên đã than khóc:

    “Trên đường về, đất trời như sụp đổ
    Tôi thấy
    mình tội lỗi với miền Nam
    Tôi thấy
    mình hổ thẹn với lương tâm
    Tôi đã khóc, cho mình và đất nước”.

    Nguyễn Jung