Đấu tranh ôn hòa

  • Bởi Admin
    01/08/2016
    4 phản hồi

    Hà Huy Toàn

    Trong Bách khoa Toàn thư Mở (www.wikipedia.org), người ta nói về đấu tranh bất bạo động hoặc đấu tranh ôn hòa như sau:

    “Đấu tranh bất bạo động là một hình thức đấu tranh không dùng vũ khí mà dùng số đông quần chúng và chính nghĩa của họ làm sức mạnh để áp lực và hóa giải một thế lực mạnh hơn gấp nhiều lần.

    Mahatma Gandhi được coi là người đầu tiên áp dụng thể đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn độ khỏi sự đô hộ của Anh mà dân chúng Ấn độ không phải hy sinh một giọt máu nào cho sự độc lập của quốc gia họ. Đấu tranh bất bạo động cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ được lãnh đạo bởi Tiến sỹ Martin Luther King, và cũng đã được áp dụng bởi nhiều dân tộc trên thế giới, như các nước ở Đông Âu châu và hàng loạt các nước khác trong Liên bang Soviet, làm tan rã chính Liên bang Soviet.

    Đây là một phương pháp đấu tranh bất bạo động nhưng không thụ động. Nó không phải là không hành động. Nó là hành động không dùng bạo lực, nhưng đòi hỏi sự kiên trì và quyết tâm cao độ, đòi hỏi một chính nghĩa để có được sự ủng hộ của số đông.

    Các ứng dụng của đấu tranh bất bạo động. Đấu tranh bất bạo động có thể và đã được dùng để:

    1/ Cải thiện một khiếm khuyết trong xã hội như các cuộc đình công của công nhân hoặc bày tỏ một quan điểm của mình về một vấn đề nào đó, như vụ chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

    2/ Lật đổ một nhà độc tài, một thể chế chính trị không vừa lòng dân: có phạm vi rộng lớn, với sự tham gia của nhiều thành phần quần chúng.

    Các nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động. Đây là một biện pháp hữu hiệu cho một khối đông yếu thế chống lại một thiểu số có quyền lực trong tay.

    Có nhiều phương thức đấu tranh bất bạo động nhưng tựu trung có thể bao gồm các nguyên tắc sau:

    1/ Bất tuân dân sự, tức là người tham gia đấu tranh có thể từ chối thực hiện những việc mà họ vẫn thường làm, hoặc được trông đợi sẽ làm, hoặc bắt buộc phải làm theo yêu cầu của pháp luật.

    2/ Hành động cố ý thực hiện, tức là người tham gia đấu tranh có thể thực hiện những việc mà họ thường không làm, hoặc không được trông đợi sẽ làm, hoặc bị cấm thực hiện, như các cuộc đình công, biểu tình của dân chúng, v. v..

    3/ Thuyết phục và thương lượng để bắt đối phương chấp nhận các điều kiện của mình. Sự thể này chỉ thực hiện được ở giai đoạn cuối cùng, khi phe đối lập đã bị dồn vào thế phải nhượng bộ.

    Những phương cách hành động:

    1/ Nêu tội danh (Naming): các tổ chức không chính phủ, các cơ quan truyền thông, các quốc gia đơn lẻ, các tổ chức quốc tế có thể đóng vai trò quyết định trong việc nêu rõ những vi phạm nhân quyền và việc không thực thi dân chủ của các nhà độc tài. Họ có thể thu thập tin tức, trình bày từng trường hợp cá biệt và gây chú ý cho quần chúng. Amnesty International (Ân xá Quốc tế), Human Rights Watch và các tổ chức nhân quyền khác đóng một vai trò đặc biệt can đảm và quan trọng trong lĩnh vực này.

    2/ Lên án (Shaming): vào thời buổi văn hóa trở thành toàn cầu, các nhà độc tài ít nhất cũng mong muốn bày tỏ tính cách chính thống của họ. Các thế lực quốc tế có thể phơi bày những hành động xấu xa của các bạo chúa và phủ nhận công khai những hành vi của họ.

    3/ Cố vấn chiến lược (Strategic advice): không phải tất cả mọi phương thức nào cũng được áp dụng cho tất cả mọi trường hợp. Phần tìm hiểu học tập về những phương thức sẵn có giúp khai mở những đường hướng mới cho một phong trào dân chủ. Những tổ chức bất bạo động đề nghị một số phương thức phân phối thông tin, trong đó kể đến việc tán phát một tập san về chiến lược đấu tranh bất bạo động và chương trình phát thanh hướng dẫn đối kháng dân sự. Việc huấn luyện có tính cách quyết định.

    Hỗ trợ vật liệu cho những dự án đặc biệt (Material Assistance For Specific Projects): trong giai đoạn khởi sự, hỗ trợ là việc làm cần thiết, ví dụ để trang bị vật liệu in ấn và phân phối tin tức. Hỗ trợ tài chính và các hỗ trợ khác để giúp các tổ chức dân sự làm việc và vận hành tốt là một việc làm cần thiết.

    Tiến sỹ Gene Sharp, một viện sỹ của Học viện Albert Einstein, đã tổng hợp kinh nghiệm đấu tranh bất bạo động hữu hiệu của nhiều dân tộc trên toàn thế giới đã đưa ra bảng liệt kê gần 200 phương cách đấu tranh trong cuốn sách của ông: From Dictatorship To Democracy.

    Trên tổng thể, các phương cách này dựa vào 4 phương thức lớn sau:

    1/ Phương thức phản đối và thuyết phục bất bạo động, phương thức bất tuân dân sự.

    2/ Phương thức bất hợp tác kinh tế:

    a) Tẩy chay kinh tế.

    b) Đình công.

    3/ Phương thức bất hợp tác chính trị.

    4/ Phương thức can dự bất bạo động” 1).

    Bài viết này có một số thiếu sót nghiêm trọng:

    1/ Mahatma Gandhi là người đầu tiên áp dụng đấu tranh bất bạo động nhưng không phải là người đầu tiên xác lập phương thức đấu tranh này 2). Người đầu tiên xác lập phương thức đấu tranh này chính là Chúa Jesus (Jesus Christ) ở Israel vào đầu Công nguyên hoặc ít nhất cũng có trong Kinh thánh 3), sau đó được khái quát thành một lý thuyết chính trị bởi Henry David ThoreauMỹ vào khoảng giữa thế kỷ XIX 4).

    2/ Phương thức đấu tranh nào cũng có nền tảng triết lý tương ứng, đấu tranh bất bạo động cũng thế, nó đòi hỏi phải có một lý thuyết khoa học về chế độ dân chủ, giải đáp được thấu đáo các vấn đề hệ trọng, như: Dân chủ là gì? Làm thế nào để có dân chủ? Tại sao lại phải làm thế? v. v.. Thực tế chính trị đã cho thấy rằng đấu tranh bất bạo động chỉ đạt được kết quả mỹ mãn ở những nước nào đã có đầy đủ một triết lý khoa học về chế độ dân chủ.

    3/ Gene Sharp cũng có một số thiếu sót cần phải được khắc phục: ông đã suy diễn bằng kinh nghiệm thực tế nhiều hơn lập luận bằng khái quát trừu tượng dẫn đến coi trọng sức mạnh vật lý hơn sức mạnh luân lý. Sự thể này chắc chắn mâu thuẫn với đấu tranh bất bạo động vốn đòi hỏi phải coi trọng sức mạnh luân lý hơn sức mạnh vật lý 5).

    Có nhiều nhà lãnh đạo cùng với các nhà tư tưởng đã từng xem xét bất bạo động về cả tinh thần lẫn thực tiễn, như: Lev Nikolayevich Tolstoy, Lech Wałesa, Petra Kelly, Thích Nhất Hạnh, Dorothy Day, Ammon Hennacy, Albert Einstein, John Howard Yoder, Stanley Hauerwas, David McReynolds, Johan Galtung, Martin Luther King, Mohandas Karamchand Gandhi, Daniel Berrigan, Khan Abdul Ghaffar Khan, Mario Rodríguez CobosCésar Chávez, v. v..

    Ở Việt nam, đấu tranh bất bạo động đã từng được đề xuất bởi một số ít trí thức đầu tiên với hình mẫu điển hình nhất phải thuộc về Phan Châu Trinh nhằm giải phóng dân tộc mình khỏi chế độ thực dân Pháp. Tiếp nhận ảnh hưởng tư tưởng từ Phong trào Khai minhTây phương, Phan Châu Trinh chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, tức là trước hết phải mở mang tri thức cho nhân dân rồi mới có thể làm cho nhân dân no ấm hoặc giàu có, nhờ đó làm cho quốc gia hùng mạnh; ông nhấn mạnh rằng: “bất bạo động, bạo động tắc tử; bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu!”, tức là không dùng bạo lực, dùng bạo lực ắt sẽ chết; không đợi chờ bên ngoài giúp đỡ, đợi chờ bên ngoài giúp đỡ là ngu; hoặc có thể được hiểu rằng nếu đấu tranh thì phải đấu tranh bằng ý chí hoặc các biện pháp ôn hoà đồng thời phải dựa vào chính mìnhkhông được dựa vào người khác. Chính chủ trương này đã làm cho Phan Châu Trinh trở thành nhà tư tưởng lớn nhất tại Việt nam từ trước đến nay 6). Phạm Quỳnh tiếp tục phát triển Phan Châu Trinh bằng những đóng góp quan trọng về văn hoátư tưởng, ông vừa xây dựng khoa học xã hội cho Việt nam vừa phát triển Việt ngữ nhằm giúp tầng lớp trí thức còn rất non trẻ phổ biến rộng rãi kiến thức về mọi lĩnh vực cho nhân dân để nhân dân tự giải phóng mình bằng các biện pháp hoà bình, ông chủ trương vừa hợp tác với thực dân Pháp để thăng tiến đất nước về cả kinh tế, chính trị và văn hoá, vừa đấu tranh với thực dân Pháp để đòi hỏi độc lập tự do cho tổ quốc, tức là lợi dụng Tây phương để phát triển đất nước mình. Đó thật sự là một tư tưởng vượt thời đại. Nhưng thật đáng tiếc, ông đã bị quy chụp thành Việt gian bán nước rồi bị hạ sát bởi lực lượng Việt minh vào ngày 05 Tháng Chín 1945, đó chính là cái chết oan khuất nhất tại Việt nam vào thế kỷ XX 7). Cái chết này cho thấy tâm lý hiếu chiến đã chiến thắng tâm lý ôn hoà tại Việt nam đồng thời đã mở đường cho tầng lớp trí thức vốn còn rất non trẻ ở Việt nam nhanh chóng đi đến sự tuyệt chủngmiền Bắc vào khoảng giữa thập niên 1960 8).

    Kinh nghiệm lịch sử tại Việt nam vào thế kỷ XX đã cho thấy rất rõ ràng rằng đấu tranh bạo động không chỉ vô tác dụng mà còn phản tác dụng: khoảng mười triệu người, bao gồm cả binh lính lẫn dân thường, ở Việt nam đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh khốc liệt chống “Đế quốcThực dân” nhằm giành lấy độc lập tự do cho dân tộc nhưng không những không đạt được mục đích đó mà còn rời xa mục đích đó (có thể nước đã được độc lập nhưng dân vẫn chưa được tự do), cái gì làm lợi cho quan chức lại có thể làm hại cho dân chúng hoặc cái gì làm lợi cho dân chúng lại có thể làm hại cho quan chức, hệ quả đó trái ngược hẳn với tự do (cần xem lại tự do đã được định nghĩa như thế nào theo quan điểm khoa học để so sánh tự do với nô lệ hoặc so sánh công bằng với xiêu lệch hoặc bất công) 9). Quả thật, Ý Đảng thể hiện Lòng Dân nhưng Lòng Dân lại mang tính chất hai mặt thể hiện đúng cái biện chứng duy vật trong não trạng chính trị vốn đã được nuôi dưỡng lâu đời bởi Nho giáo: Lòng Dân vừa muốn tự do vừa muốn làm theo Ý Đảng 10). Không hiểu được cái não trạng này sẽ không thể hiểu được Bi kịch Chính trị tại Việt nam từ xưa đến nay! Ở Nam Việt nam từ năm 1960 đến năm 1975, đấu tranh bạo động không chỉ vô tác dụng mà còn phản tác dụng: không những không bảo vệ được nền Cộng hoà Non trẻ vốn còn nhiều khuyết tật nghiêm trọng mà còn làm cho nền cộng hoà đó chết nhanh hơn, khoảng ba triệu người (bao gồm cả binh lính lẫn dân thường) đã bỏ mình trong cuộc chiến tranh khốc liệt chống chủ nghĩa cộng sản nhưng không những không làm cho chủ nghĩa cộng sản tiêu vong mà còn làm cho chủ nghĩa cộng sản mạnh hơn để bao phủ toàn bộ Việt nam từ sau năm 1975. Không hiểu được cái văn hóa độc đoán, bao gồm Nho giáo pha trộn với Chủ nghĩa Marx – Lenin, sẽ không thể hiểu được Bi kịch Chính trị tại Việt nam từ xưa đến nay! 11). Cái văn hóa đó không chỉ gây ra bi kịch chính trị cho Việt nam mà còn gây ra bi kịch chính trị cho cả nước Tàu nữa.

    Sau thất bại vào năm 1975, phong trào dân chủ tại Việt nam bước vào một khúc quanh quan trọng: tìm kiếm con đường đúng đắn cho công cuộc dân chủ hoá đất nước. Vào những năm cuối thế kỷ XX đã xuất hiện một số trí thức xuất chúng có khả năng xuất sắc về lý luận, họ đã đấu tranh kiên trì cho chủ trương bất bạo động, tức là quay trở về đường lối ôn hoà (Bất Bạo động) đã từng được khởi xướng từ đầu thế kỷ XX bởi Phan Châu Trinh. Đến đầu thế kỷ XXI, phong trào này đã đoạn tuyệt dứt khoát với đấu tranh bạo động đồng thời theo đuổi chủ trương đấu tranh bất bạo động để thu hút số người tham gia ngày càng đông hơn. Trong cuộc đấu tranh kiên trì cho chủ trương bất bạo động, vai trò quan trọng nhất có lẽ phải thuộc về Nguyễn Gia Kiểng 12). Nói cho thật chính xác: Nguyễn Gia Kiểng đã góp phần quyết định vào việc làm sống lại Phan Châu Trinh!

    Qua quan sát thực tế, tôi nhận thấy cả Việt nam lẫn Trung quốc đều rất đúng đắn khi bác bỏ đấu tranh bạo động nhưng vẫn chưa có những cơ sở cần thiết để áp dụng thành công phương thức đấu tranh bất bạo động. Thời thế có vẻ như đã chấm hết đối với giới nghệ sỹ; thay vào đó, bắt đầu xuất hiện giới luật sư trên vũ đài chính trị trong công cuộc dân chủ hoá xã hội khiến người ta tin rằng thời thế cho giới luật sư đã bắt đầu! Nhưng tôi không vội vã tin tưởng giới luật sư có thể thành công, tôi nghĩ rằng nếu chưa xây dựng được một triết lý khoa học về chế độ dân chủ thì dù giới luật sư có can đảm dấn thân đến đâu cũng chỉ làm những con thiêu thân dân chủ mà thôi, hết người này đến người khác đua nhau vào tù mà kết quả chẳng được bao nhiêu, nhỏ giọt lắm!

    Thật ra, triết lý khoa học về chế độ dân chủ đã được xác lập bước đầu cho Việt nam bởi một học giả lỗi lạc, đó là Giáo sư Nguyễn Văn Bông với một tác phẩm kinh điển về triết lý chính trị: Luật Hiến pháp và Chính trị học. Nhưng tác gia này đã bị vùi lấp tàn nhẫn bởi chủ nghĩa cộng sản 13). Hơn bao giờ hết, phong trào dân chủ tại Việt nam hiện nay cần phải làm sống lại rồi phát triển triết lý khoa học về chế độ dân chủ đã được xác lập bước đầu bởi chính Giáo sư Nguyễn Văn Bông. Tôi đã lao tâm khổ tứ nhằm góp phần khiêm tốn vào công việc đó 14).

    Nhà nước nào cũng có tính chất nhân dân, quan chức nào cũng xuất thân từ nhân dân, làm cho nhà nước nào cũng “của dân”, “do dân”, “vì dân”. Nhắc đi nhắc lại rằng: “nhà nước của dân, nhà nước do dân, nhà nước vì dân”, chẳng qua chỉ nhai đi nhai lại một mệnh đề vô nghĩa chẳng có tác dụng gì ngoài tác dụng lừa bịp: mỵ dân để dân tự mỵ. Vấn đề quan trọng là nhân dân nào làm thế nào theo cơ chế nào để quan chức nào xuất thân thế nào từ nhân dân đó rồi nhờ đó mà có tác dụng thế nào đối với chính nhân dân đó; hoặc quan chức nào cũng xuất thân từ nhân dân nhưng xuất thân thế nào từ nhân dân nào để có tác dụng thế nào đối với chính nhân dân đó? Nếu nhân dân khôn ngoan thì nhân dân đó sẽ có chính thể dân chủ để họ có thể lựa chọn được những cá nhân tử tế nhất làm quan chức nhà nước bằng các cuộc bầu cử tự do khiến quan chức nhà nước phải có tác dụng tốt đẹp đối với chính nhân dân đó, hoặc quan chức nhà nước phải xuất thân từ nhân dân đó thông qua các cuộc bầu cử tự do để có tác dụng tích cực đối với chính nhân dân đó; ngược lại, nếu nhân dân dại khờ thì nhân dân đó chỉ có thể có chính thể chuyên chế để một số ít cá nhân tồi dở nhất ngoi lên làm quan chức nhà nước bằng các mánh khoé bịp bợm làm cho quan chức nhà nước chỉ có thể có tác dụng tai ác đối với chính nhân dân đó. Vậy chung quy lại, vấn đề mấu chốt ở đây là nhân dân nhận thức thế nào? Nếu nhận thức đúng đắn thì nhân dân sẽ có chính thể dân chủ; hoặc ngược lại, nếu nhận thức sai lầm thì nhân dân sẽ chỉ có chính thể chuyên chế mà thôi; nhân dân quan niệm thế nào về chính mình sẽ làm cho họ trở nên như thế. Chính triết học khoa học đã chứng thực rõ ràng như vậy bằng cả lý thuyết tương đối lẫn lý thuyết lượng tử!

    Thế giới Tây phương đã từng quan niệm rất đúng rằng: “nhân dân nào, chính quyền đó”; từ đó tôi suy ra rằng: nếu “chúng ta” có một chính quyền tồi dở thì điều đó chỉ chứng tỏ rằng “chúng ta” có vấn đề về văn hoá! Người ta đang bị nô dịch về văn hoátư tưởng bởi cái văn hoá độc đoán bao gồm Nho giáo pha trộn với Chủ nghĩa Marx. Người ta chưa làm được một cuộc cách mạng văn hoá nhằm xoá bỏ cái văn hoá đó mà đã vội vã đấu tranh nhằm thay đổi chế độ chính trị. Thật phiêu lưu quá đáng! Người ta không biết rằng mọi chính quyền dù tử tế hay tồi dở đều xuất thân từ nhân dân, nếu nhân dân mà khôn ngoan thì họ sẽ có một chính quyền tử tế; ngược lại, nếu nhân dân mà dại khờ thì họ chỉ có thể có một chính quyền tồi dở mà thôi. Từ đó lại có thể suy ra rằng nếu muốn sửa chữa một chính quyền tồi dở thì trước hết cần phải soi sáng cái nhân dân làm nền tảng chính trị cho chính quyền đó, tức là phải khai sáng cho nhân dân trước khi sửa chữa chính quyền, nếu làm khác đi thì thật khó mà thành công hoặc thậm chí sẽ thất bại thảm hại. Một khi nhân dân đã được khai sáng, chính quyền sẽ tự động chuyển hóa theo nhân dân. Nhưng thật đáng tiếc, Việt tộc cũng như Hán tộc lại chưa quan tâm đến nguyên lý này!

    Muốn thay đổi chế độ chính trị, trước hết phải làm một cuộc cách mạng văn hoá hoặc một cuộc cách mạng tư tưởng; cuộc cách mạng này lại phải được bắt đầu từ cuộc cách mạng sự thật. Đấu tranh bất bạo động phải lấy cách mạng sự thật làm nền tảng triết lý cho mình mới có thể thành công. Cách mạng sự thật sẽ cho thấy nhân loại có bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết; bản năng này làm cho cá nhân nào cũng có bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợitham lam; bản tính này chỉ xấu xa khi thôi thúc người ta làm điều xấu xa hoặc chỉ tốt đẹp khi thôi thúc người ta làm điều tốt đẹp. Bản năng sinh tồn cùng với bản tính vị kỷ mách bảo chúng ta rằng: vì cá nhân nào cũng ham sống mà sợ chết đồng thời có thể lạm dụng được mọi thứ làm cho mọi thứ trở nên tồi tệ nên khi nỗ lực vận động cho việc thiết lập trật tự bình đẳng hoặc chế độ dân chủ, chớ làm bất cứ điều gì trái ngược với trật tự đó: chớ bạo hành, chớ cướp bóc, chớ dối trá, v. v.. Đó là những yếu tố cơ bản cần thiết nhất cấu thành đấu tranh ôn hòa hoặc đấu tranh bất bạo động. Vì cá nhân nào cũng có bản năng sinh tồn cùng với bản tính vị kỷ khiến cá nhân nào cũng có QUYỀN SỐNG, QUYỀN TỰ DOQUYỀN MƯU CẦU HẠNH PHÚC nên KHI THAM GIA ĐẤU TRANH, CẦN PHẢI TÔN TRỌNG ĐỐI THỦ ĐỂ SAO CHO TẤT CẢ CÁC BÊN TRANH CHẤP CÙNG THẮNGKHÔNG MỘT BÊN NÀO BỊ THUA. ĐÓ CHÍNH LÀ NGUYÊN TẮC CÙNG THẮNG (the principle of win – win). NGUYÊN TẮC NÀY CHO PHÉP TẤT CẢ CÁC BÊN TRANH CHẤP ĐỀU CÓ THỂ BIẾN KẺ THÙ THÀNH BẠN HỮU HOẶC BIẾN ĐỐI THỦ THÀNH ĐỐI TÁC. NGUYÊN TẮC CÙNG THẮNG CẦN PHẢI ĐƯỢC LẤY LÀM NGUYÊN TẮC NỀN TẢNG CHO CHÍNH TRỊ HIỆN ĐẠI!

    Với phương thức vận hành như vậy, đấu tranh ôn hòa phải đạt được mục đích cuối cùng: thiết lập hoặc bảo tồn chế độ dân chủ.

    Chế độ dân chủ là chế độ chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có thể làm chủ bản thân bằng ý chí biểu hiện thành pháp luật dựa trên ba thiết chế cơ bản: 1/ Nhà nước dân chủ phải được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, theo đó nhà nước này phải được phân chia độc lập về nhân sự thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện ba quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp; sự phân chia quyền lực như vậy làm cho các nhà cầm quyền không thể lạm dụng được quyền lực nhà nước; 2/ Nhà nước dân chủ phải được làm chủ theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bởi toàn thể nhân dân, theo đó nhà nước này phải bị kiểm sát chặt chẽ bởi nhiều tổ chức độc lập để ngăn ngừa các điều luật bất công dẫn đến tai hoạ cho dân chúng, cũng như phương tiện giao thông phải có phanh hãm thật tốt để phòng tránh tai nạn giao thông; 3/ Nhà nước dân chủ phải được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do hoặc phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi cá nhân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp.

    Hơn bao giờ hết, phong trào dân chủ tại Việt nam hiện nay cần phải ưu tiên đầu tư mọi nguồn lực có thể vào việc phát triển triết lý khoa học về chế độ dân chủ. Cái triết lý đó phát biểu rằng: chính bản tính vị kỷ ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc làm cơ sở tự nhiên cho quyền lực nhà nước, rằng: trên đời này không có gì đáng sợ bằng quyền lực nhà nước, rằng: với quyền lực nhà nước trong tay, nhà cầm quyền có thể tiêu diệt bất cứ kẻ nào vào bất cứ lúc nào bất kể kẻ đó tốt hay xấu, rằng: vì trên đời này không có gì đáng sợ bằng quyền lực nhà nước nên cần phải kiểm soát quyền lực nhà nước bằng ba thiết chế cơ bản đã được trình bày vắn tắt ở trên đây.

    Tôi tình cờ biết đến Gene Sharp qua Internet. Gene Sharp làm Giám đốc cho Học viện Albert EinsteinMỹ. Cái học viện đó làm gì, làm cho ai, làm như thế nào, tôi không hề biếtcũng không cần biết, lại càng không cần biết người nào đã đẻ ra nó hoặc làm Giám đốc cho nó. Có lẽ sẽ mãi mãi như thế một khi không có một lý do đặc biệt khiến tôi phải thay đổi thái độ. Lý do đó chính là cái tên gọi của cái học viện kia: nó mang tên gọi của một học giả lỗi lạc nhất đối với mọi thời đại: Albert Einstein! Chính vì đặc biệt hâm mộ A. Einstein nên tôi đã tò mò tìm hiểu xem liệu A. Einstein có hay không bị lạm dụng bởi những người đã tạo ra cái học viện kia! Qua việc tìm hiểu tò mò như vậy tôi đã được đọc tác phẩm của G. Sharp: From Dictatorship To Democracy, qua bản dịch Việt ngữ được thực hiện rất hoàn hảo bởi những người Việt nam yêu nước ở hải ngoại (Từ Độc tài Đến Dân chủ). Đọc xong, tôi cảm thấy cái học viện kia hoàn toàn xứng đáng với tên gọi của nó; hơn nữa, tôi còn cảm thấy G. Sharp có lẽ đã hiện thân cho A. Einstein trong chính trị học!

    Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy các ý tưởng của G. Sharp rất gần gũi với các kết luận của tôi. Chúng tôi: cả tôi lẫn G. Sharp, đều xác tín rằng đấu tranh bằng ý chí hoặc đấu tranh bất bạo độngcon đường tốt nhất hoặc giải pháp tốt đẹp nhất để thiết lập thành công chế độ dân chủ đồng thời bảo vệ vững chắc chế độ đó, mặc dù giữa tôi với G. Sharp có một sự khác biệt rõ rệt nhưng lại bổ sung cho nhau: nếu tôi thiên về lý thuyết thì G. Sharp lại thiên về thực hành, lý thuyết của tôi đã xác lập được cơ sở khoa học cho lý thuyết của G. Sharp, còn lý thuyết của G. Sharp lại nối tiếp lý thuyết của tôi để lý thuyết của tôi có thể được vận hành vào đời sống thực tế. Tóm lại, G. Sharp đã giải đáp được vấn đề thực tế: đấu tranh bằng ý chí vận hành thế nào? Còn tôi lại giải đáp được vấn đề lý thuyết: tại sao đấu tranh bằng ý chí lại vận hành như thế?

    Tuy nhiên, con đường chính trị được hoạch định bởi G. Sharp có thể còn có một số nẻo đoạn gập ghềnh khúc khuỷu quanh co cần phải được san phẳng hoặc nắn thẳng để ngay cả lữ khách yếu ớt nhất cũng có thể đi được dễ dàng hơn theo con đường đó đến cái đích cuối cùng. Thứ nhất, khi so sánh đấu tranh bằng ý chí với đấu tranh bằng bạo lực, G. Sharp đã quan niệm rằng đấu tranh bằng ý chí cũng có một số tính chất tiêu cực so với đấu tranh bằng bạo lực, rằng: “… Trước hết, phải nói một phần tác động dân chủ hóa này mang tính chất tiêu cực. Nếu trong đấu tranh bạo động, các biện pháp quân sự dễ dàng cung cấp cho thành phần lãnh đạo phương tiện trấn áp đối với đám đông đi theo để thiết lập hoặc duy trì quyền chỉ huy tuyệt đối, thì trong phản kháng chính trị, những người cầm đầu các phong trào chỉ có thể dùng ảnh hưởng và tạo áp lực tinh thần lên số đông đi theo, chứ không thể bỏ tù hoặc thủ tiêu ai khi thấy họ tỏ vẻ bất đồng ý kiến với lãnh đạo hoặc ngay cả lựa chọn những người lãnh đạo khác… ” (chương 5). Thật ra, các tính chất đó lại rất cần thiết để đấu tranh bằng ý chí có thể thu hút được nhiều người tham gia, tức là các tính chất đó không hề tiêu cực mà hoàn toàn tích cực so với đấu tranh bằng bạo lực vốn đòi hỏi tâm lý cực đoan khiến chỉ một số ít người bị đẩy vào đường cùng mới có thể tham gia được. Thứ hai, đấu tranh chính trị dù bằng phương tiện nào, bạo lực hay ý chí, cũng luôn luôn có sự thống nhất hữu cơ giữa nguyên tắc vật lý với nguyên tắc luân lý mặc dù đấu tranh bằng bạo lực tuân theo nguyên tắc vật lý nhiều hơn tuân theo nguyên tắc luân lý đối lập với đấu tranh bằng ý chí vốn tuân theo nguyên tắc luân lý nhiều hơn tuân theo nguyên tắc vật lý, hoặc nói cụ thể hơn: đấu tranh bằng bạo lực phải tuân theo nguyên tắc vật lý để làm thay đổi nguyên tắc luân lý đối lập với đấu tranh bằng ý chí lại chỉ tuân theo nguyên tắc luân lý để làm thay đổi nguyên tắc vật lý. G. Sharp chủ trương đấu tranh bằng ý chí (cả bất hợp tác lẫn phản kháng chính trị) nhưng hình như ông chỉ đi sâu vào nguyên tắc vật lý nhiều hơn đề cập đến nguyên tắc luân lý, ông đặt nặng việc gia tăng áp lực vào làm thay đổi tương quan thế lực giữa nhà nước độc tài với lực lượng dân chủ mà hầu như rất ít đếm xỉa đến việc vận dụng nguyên tắc luân lý vào làm thay đổi tương quan đó, ông đề cập đến cảm hoá như một trong nhiều phương cách hữu ích nhất thuộc về nguyên tắc luân lý có thể được vận dụng tốt nhất vào làm thay đổi tương quan kia nhưng lại giảm nhẹ tác dụng chuyển hoá từ phương cách đó: “… Cách đầu tiên có xác suất thấp nhất mặc dù đã từng xảy ra. Một số thành viên của phía đối phương xúc động khi thấy sự chịu đựng đau khổ của các nhà đối kháng can đảm bất bạo động dưới sự đàn áp của bạo quyền, hoặc khi được thuyết phục bằng lý trí rằng các nhà đối kháng quả thật có chính nghĩa, họ tiến đến thái độ chấp nhận các mục tiêu được theo đuổi bởi các nhà đối kháng. Phương cách tạo thay đổi này được gọi là cảm hoá. Mặc dù việc cảm hoá đã từng xảy ra trong đấu tranh bất bạo động nhưng rất hiếm. Trong hầu hết các cuộc tranh chấp, loại chuyển động này không thấy xảy ra hoặc chỉ xảy ra ở mức độ không đáng kể” (chương 5). Sự thể đó đã giải thích được tại sao G. Sharp không viện dẫn một số chính khách xuất chúng được tôn sùng chính đáng như một biểu tượng tôn giáo, như Mahatma Gandhi chẳng hạn; lại càng có vẻ như không muốn gợi mở cho phong trào dân chủ vận dụng các tôn giáo lành mạnh, như Chúa giáo chẳng hạn, vào công cuộc đấu tranh cho lợi ích chung biểu hiện cụ thể thành tự do vốn được minh định thành một giá trị thiêng liêng nhất đối với mọi người. Người ta có thể cảm hoá được đối phương hoặc kẻ thù bằng nhiều giá trị thuộc về ChânThiệnMỹ để có thể biến kẻ thù thành bạn hữu hoặc đối tác nhờ đó mà hoàn toàn có thể làm thay đổi tương quan thế lực giữa nhà nước độc tài với lực lượng dân chủ đồng thời có thể phân phối đồng đều quyền lực chính trị cho mọi cá nhân trong xã hội tự do. Nhưng dường như G. Sharp chưa đặt nặng việc định hướng cho đấu tranh bằng ý chí theo chiều hướng đó (định hướng cho đấu tranh bằng ý chí tuân theo nguyên tắc luân lý để làm thay đổi nguyên tắc vật lý). Thiếu sót này chỉ có thể được giải thích thoả đáng bởi việc thiếu hụt một triết lý khoa học về đời sống chính trị 15).

    Chiếc cầu nối logic giữa tôi với G. Sharp có lẽ biểu hiện cụ thể nhất qua cái yêu cầu thực tế về sự cần thiết phải thảo soạn hiến pháp cho thể chế dân chủ. G. Sharp đề ra yêu cầu đó ở chương 10: “… Thể chế dân chủ cần có một hiến pháp để thiếp lập cái khung sườn mong muốn cho một chính phủ dân chủ… ”. Tôi cũng đã từng xác quyết như vậy bằng một công cuộc nghiên cứu vừa công phu vừa nghiêm túc 16). Điều quan trọng cần phải được nói ra ở đây là tôi đã làm việc đó trước khi biết đến G. Sharp, tôi làm việc kia từ năm 2003 nhưng mãi đến năm 2006 mới biết G. Sharp, tôi làm việc độc lậpkhông hề bị ảnh hưởng bởi G. Sharp. Vả lại, G. Sharp chỉ đề xuất yêu cầu phải thiết lập hiến pháp cho một dân tộc nào đó mà không cho cả nhân loại, còn tôi lại đề xuất yêu cầu phải thiết lập hiến pháp cho cả thế giới được giả định như một hệ thống chính trị thống nhất mà kết quả sẽ cho phép tất cả các dân tộc đều có thể vận dụng cho mình, chỉ cần thảo luận kỹ lưỡng rồi phê chuẩn; qua đó sẽ có thể thiết lập được một thế giới đại đồng với một nhà nước chung hoạt động theo nguyên tắc dân chủ. Tôi nghĩ rằng việc chuẩn bị trước một hiến pháp cho tương lai sẽ giúp nhân loại né tránh được những tai hoạ khủng khiếp có thể xảy ra trong giai đoạn quá độ từ chính thể chuyên chế lên chính thể dân chủ.

    Để kết thúc bài viết này, tôi xin giới thiệu cho đông đảo độc giả biết một tác phẩm triết học được tạo tác bởi C. S. Montesquieu: Tinh thần Pháp luật, với lời Tựa chứa đựng một trong những đoạn văn hay nhất cho mọi thời đại để có thể được lấy làm ngọn đuốc vĩnh cửu, ngọn đuốc này chỉ được thắp lên một lần mà không bao giờ tắt để có thể soi sáng cho mọi thế hệ mai sau:

    Nhân dân cần được soi sáng, đó là điều mà ta chớ thờ ơ. Những định kiến của các nhà cầm quyền thường bắt đầu từ định kiến của dân tộc. Thuở con dốt nát, người ta chẳng hoài nghi gì ngay cả khi làm điều bậy bạ nhất. Đến thời sáng suốt, người ta còn run lên khi đã làm điều tốt đẹp nhất. Người ta biết điều lạm dụng ngày xưa đồng thời cũng tìm thấy cách sửa chữa, nhưng người ta còn thấy cả sự lạm dụng ngay trong khi sửa chữa nữa; người ta để nguyên cái xấu khi sợ cái tồi tệ hơn; người ta giữ cái tốt vừa phải một khi còn hoài nghi cái ưu việt hơn; người ta chỉ nhìn vào cái cục bộ để phán đoán cái tổng thể; người ta xem xét mọi nguyên nhân để nhìn cho ra những kết quả.

    Tôi sẽ vui sướng nhất đời nếu có cách gì làm cho mọi người đều thích thú với nhiệm vụ của mình, để yêu nhà vua 17), yêu tổ quốc, yêu pháp luật của mình; làm cho mọi người cảm nhận sâu hơn niềm hạnh phúc ngay trong xứ sở, trong nền cai trị, trong cương vị công tác của mình.

    Tôi cũng sẽ vui sướng nhất đời nếu có cách gì làm cho nhà cầm quyền tăng thêm được tri thức về những công việc được quản lý bởi chính họ, làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi tuân lệnh.

    Tôi cũng sẽ vui sướng hơn nữa nếu có cách gì làm cho người đời chữa khỏi thành kiến. Thành kiến, theo tôi, không phải vì người ta không biết một điều gì đó mà vì người ta không tự biết chính mình!

    Trong khi giáo dục người đời, ta mới hiểu được lòng bác ái.

    Người là loài có thể uốn nắn được, họ bị uốn nắn theo tư tưởng của người khác trong xã hội, nếu có người chỉ dẫn chỉ ra cho họ thì họ có thể hiểu biết được chính mình; nhưng khi bị tước đoạt, họ có thể bị mất cả cảm giác về bản chất của chính mình!” 18).

    Tôi rất mong muốn quý độc giả hãy đọc thật chậm rãi đoạn văn được trích dẫn trên đây rồi suy niệm thật nghiêm túc để tìm kiếm lời giải đáp cho những vấn đề sau đây: Tại sao nhân dân cần được soi sáng? Tại sao những định kiến của các nhà cầm quyền thường bắt đầu từ định kiến của dân tộc? Tại sao người ta còn thấy cả sự lạm dụng ngay trong khi sửa chữa nữa? Tại sao người ta để nguyên cái xấu khi sợ cái tồi tệ hơn? Tại sao người ta giữ cái tốt vừa phải một khi còn hoài nghi cái ưu việt hơn? Tại sao người đời có thành kiến hoặc không tự biết chính mình? Tại sao chỉ khi giáo dục người đời ta mới hiểu được lòng bác ái? Tại sao khi bị tước đoạt, người ta có thể bị mất cả cảm giác về bản chất của chính mình? Tại sao nếu có người chỉ dẫn chỉ ra cho họ thì họ có thể hiểu biết được chính mình?

    Chúng ta sẽ suy nghĩ thế nào khi đọc thấy C. S. Montesquieu viết rằng: “… Chỉ những người thông minh bẩm sinh, hiểu thấu Hiến pháp nước nhà mới kiến nghị được những điều thay đổi!”? Hình như câu trả lời không khó lắm!

    HÀ HUY TOÀN

    _______________________

    1) Xem thông tin về Đấu tranh Bất Bạo động tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Nonviolent_resistance) hoặc Việt ngữ (http://vi.wikipedia.org/wiki/Đấu_tranh_bất_bạo_động) hoặc Trung văn (https://zh.wikipedia.org/wiki/非暴力抵抗), v. v.. Truy cập ngày 9 Tháng Mười 2009.

    2) Xem thông tin về Mahatma Gandhi tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Gujarati (https://gu.wikipedia.org/wiki/મહાત્મા_ગાંધી) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Mahatma_Gandhi) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Mahatma_Gandhi), v. v..

    3) Xem: τὰ βιβλία, tà biblía. Latin: Biblia. Việt ngữ: Kinh thánh. Cả bộ: bao gồm cả Cựu ước lẫn Tân ước. Nhà xuất bản Tôn giáo, Hà nội 2003.

    4) Xem thông tin về Henry David Thoreau tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_David_Thoreau) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Henry_David_Thoreau) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Henry_David_Thoreau), v. v.. Đặc biệt nên xem thêm Robert B. Downs: Books That Changed The World. New American Library, 1956. Hoài Châu cùng Từ Huệ chuyển dịch từ Anh văn sang Việt ngữ: Những tác phẩm làm biến đổi thế giới. Nhà xuất bản Văn đàn, Sài gòn 1970. 400 trang. Tác phẩm thứ năm: Công dân Bất Phục tùng, từ trang 111 đến trang 132. Ấn phẩm đó đã được xào nấu cẩu thả thành “Những luận thuyết nổi tiếng thế giới” bởi Vũ Đình Phòng cùng với Lê Huy Hòa. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà nội 1999. 520 trang. Trong đó “Công dân Bất Phục tùng” đã được xào nấu quay quắt thành “Cá nhân với Nhà nước” từ trang 110 đến trang 131.

    5) Gene Sharp: From Dictatorship To Democracy. Albert Einstein Institution (http://www.aeinstein.org/organizations/org/FDTD.pdf). Bản dịch Việt ngữ: Từ Độc tài Đến Dân chủ. Học viện Albert Einstein (http://www.aeinstein.org/organizations/org/FDTD-Vietnamese.pdf). Xin quý độc giả chú ý: vì tôi không biết G. Sharp đã thay đổi thế nào sau khi công bố tác phẩm này nên tôi nhận xét phê bình như trên có thể chỉ đúng với thời điểm công bố tác phẩm này mà thôi, nếu G. Sharp đã thay đổi như tôi kỳ vọng thì nhận xét phê bình ở đây sẽ không nhất thiết phải đúng.

    6) Xem thông tin về Phan Châu Trinh tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Châu_Trinh) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Phan_Châu_Trinh) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Phan_Chu_Trinh) hoặc Trung văn (https://zh.wikipedia.org/wiki/潘周楨), v. v..

    7) Xem thông tin về Phạm Quỳnh tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Phạm_Quỳnh) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Phạm_Quỳnh) hoặc Trung văn (https://zh.wikipedia.org/wiki/范瓊), v. v..

    8) Chu Hảo: Thử Tìm hiểu Tầng lớp Trí thức Việt nam. Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 Tháng Giêng 2011 (http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/chu-hao-tang-lop-tri-thuc-viet-nam.html).

    9) Xem khái niệm về tự do đã được định nghĩa chính xác như sau: đó là tình trạng được làm tất cả những gì có lợi cho mình đồng thời cũng có lợi cho cả người khác khiến người ta phải suy nghĩ chín chắn trước khi hành động để tránh sai lầm. Xem Hà Huy Toàn: Quan niệm đúng về Hiến pháp. Dân Luận, ngày 20/5/2016 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20160520/quan-niem-dung-ve-hien-phap).

    10) Xem Hà Huy Toàn: Nho giáomột hệ tư tưởng nguy hiểm. Dân Luận, ngày 10 Tháng Tám 2015. Xem cả đoạn 1 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-1) lẫn đoạn 2 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-2).

    11) Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 14 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx).

    12) Xem Nguyễn Gia Kiểng: Tổ quốc Ăn năn. Paris 2004. Có thể xem tác phẩm này tại Vinadia trên Internet (http://www.vinadia.org/to-quoc-an-nan-nguyen-gia-kieng/). Xem thông tin về Nguyễn Gia Kiểng tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Gia_Kiểng). Truy cập ngày 9 Tháng Bảy 2016. Tính đến thời điểm đó, Bách khoa Toàn thư Mở vẫn chưa có thông tin bằng ngôn ngữ khác về tác gia này.

    13) Xem thông tin về Nguyễn Văn Bông tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Văn_Bông). Thông tin về “Luật Hiến pháp và Chính trị học” cũng có trên Internet (http://www.vietnamvanhien.net/LuatHienPhapvaChinhTriHoc.pdf). Tính đến ngày 18 Tháng Bảy 2016, thông tin về cả Nguyễn Văn Bông lẫn “Luật Hiến pháp và Chính trị học” vẫn chưa được phổ biến trên Bách khoa Toàn thư Mở bằng các ngôn ngữ khác. Thái độ bất công vẫn được kéo dài đối với Nguyễn Văn Bông nhưng đối với nhân vật này, thái độ đó còn được đề cao hơn hết ở Việt nam. Xin hãy xem Vũ Quang Hùng tuyên bố công khai: “Tôi ám sát người sắp làm Thủ tướng Sài gòn”, trên “Dân Việt” ngày 30 Tháng Tư 2011 (http://danviet.vn/tin-tuc/toi-am-sat-nguoi-sap-lam-thu-tuong-sai-gon-48833.html), hoặc xem Trần Thanh chất vấn dư luận: “Ai đã giết Giáo sư Nguyễn Văn Bông”, trên “Tin Paris” Tháng Chín 2007 (http://www.tinparis.net/thoisu/2008_09_14_AigietGsNguyenvanBong_TranThanh.html).

    14) Xem Hà Huy Toàn: Quan niệm đúng về Hiến pháp. Dân Luận, ngày 20/5/2016 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20160520/quan-niem-dung-ve-hien-phap).

    15) Xem chú thích 5 ở trên đây.

    16) Xem chú thích 14 ở trên đây.

    17) Mặc dù C. S. Montesquieu chỉ nói về “nhà vua” theo nghĩa đen hoặc nghĩa hẹp, tức chỉ là một ông vua nắm toàn quyền cai trị, nhưng vì tư tưởng chính trị của ông mang giá trị phổ quát nên “nhà vua” được trích dẫn ở đây phải được hiểu theo ý nghĩa rộng nhất: tức là nhà cầm quyền nói chung, chứ không phải chỉ là một ông vua nắm toàn quyền cai trị.

    18) Charles de Secondat Montesquieu: De l’Esprit des Lois. Traité, Geneve 1748. Garnier Frères, Libraires-Éditeurs. Paris 1874. Hoàng Thanh Đạm chuyển dịch từ Pháp ngữ sang Việt ngữ: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia tại Hà nội cũng đã xuất bản bản dịch này lần thứ nhất vào năm 2004 rồi sau đó xuất bản lần thứ hai vào năm 2006. Có thể xem tác phẩm này trên Internet bằng Pháp ngữ (http://www.ecole-alsacienne.org/CDI/pdf/1400/14055_MONT.pdf) hoặc Anh văn (https://archive.org/details/spiritoflaws01montuoft), v. v..

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Toàn là những suy nghĩ hảo huyền, nhảm nhí. Đấu tranh với người Anh và VNCH trước đây khác hẳn với CS, bất bạo động thành công vì họ tôn trọng dân chủ còn với CS mà cứ như thế sẽ nướng hết không còn một mống nào, giơ đầu cho chúng đập thoải mái nên đến giờ này biểu tình còn vài ba mạng cùi thấy thảm gì đâu. Mấy cha dân chủ làm ơn thức tỉnh đi nếu cứ như vầy hoài sẽ không còn ai ló mặt ở các cuộc biểu tình nữa đâu, không chết hay bị nhốt cũng ra nước ngoài sạch sành sanh cả.

    Bài này viết công phu, nêu nhiều lý thuyết cao siêu, đúng là bài của một trí thức salon, ba hoa xích tốc siêu hạng, lại còn tự cao tự đại, đề cao mình nữa chứ.
    Tác giả đề ra lý thuyết, vậy tác giả hãy thực hiện những điều mình nêu trên lý thuyết xem có đem lại được kết quả gì không? Tác giả viết: "...còn tôi lại đề xuất yêu cầu phải thiết lập hiến pháp cho cả thế giới được giả định như một hệ thống chính trị thống nhất mà kết quả sẽ cho phép tất cả các dân tộc đều có thể vận dụng cho mình, chỉ cần thảo luận kỹ lưỡng rồi phê chuẩn; qua đó sẽ có thể thiết lập được một thế giới đại đồng với một nhà nước chung hoạt động theo nguyên tắc dân chủ." Nếu đúng như thế thì tác giả là nhà tư tưởng vĩ đại nhất thế giới trong thời buổi hiện nay và chẳng biết có những dân tộc nào dã "vận dụng cho mình" và có đem lại kết quả gì không?
    Tác giả cũng ca ngợi ông Nguyễn Gia Kiểng, vậy xin hỏi: Ông Nguyễn Gia Kiểng đã đem lại những kết quả gì trong công cuộc đấu tranh đòi dân chủ và hòa giải dân tộc?
    Tác giả viết: "Một khi nhân dân đã được khai sáng, chính quyền sẽ tự động chuyển hóa theo nhân dân."
    Vậy xin hỏi: Muốn khai sáng cho nhân dân như tinh thần của cụ Phan Chu Trinh thì thời đại ngày nay cần làm những gì? Tác giả đã làm được gì?
    Tác giả còn viết: "Muốn thay đổi chế độ chính trị, trước hết phải làm một cuộc cách mạng văn hoá hoặc một cuộc cách mạng tư tưởng; cuộc cách mạng này lại phải được bắt đầu từ cuộc cách mạng sự thật"
    Xin thưa, cộng sản đã có chương trình và tiến độ của cuộc cách mạng XHCN rồi đấy ạ, đó là thực hiện 3 cuộc cách mạng: CM quan hệ sản xuất, CM khoa học kỹ thuật và CM văn hóa tư tưởng. Rất tiếc là CS cũng giống như tác giả (Hà Huy Toàn) là nói rất hay, nhưng thực hiện trong thực tế thì thất bại thảm hại.
    Trí thức ta thì cứ hô hào suông "khai dân trí" và chẳng đem lại kết quả gì. CS thì thực hiện "trí phú địa hào đào tận gốc…" thực hiện chế độ ngu dân thì thắng lợi. Cái thắng lợi này kèm theo tội ác giết người và kìm hãm sự phát triển của đất nước, kéo lùi lịch sử, làm cho dân tộc ta ngày càng thua kém các dân tộc khác.
    Ông Hà Huy Toàn có biết muốn mở mang dân trí, giác ngộ quần chúng trong thời buổi hiện nay thì phải làm những gì không? Ông có biết CS sợ nhất cái gì không? Các trí thức ta có biết điểm yếu ấy của CS để cứ thế mà tương không? Chắc là ông nghĩ không ra đâ, vì ông chỉ tìm trên sách báo thì không thấy, thế nhưng điều này thì lại diễn ra trong đời thường từng ngày từng giờ. Phải rời phòng lạnh đi ra ngoài tiếp xúc với mọi tầng lớp nhân dân, kể cả tầng lớp dưới đáy của xã hội thì ông sẽ tìm thấy lời giải đáp.

    Bài này viết rất công phu, có nhiều ý kiến mới. Nhưng thật quả tình, với trình độ thấp kém của tôi, tôi không biết là ý kiến đúng hay sai, chỉ thấy trong thực tế không thể áp dụng được.
    Trên chiến trường thì tùy trận địa thế nào mà phải có phương án tác chiến cho phù hợp mới mong thắng lợi. Có lẽ trên chính trường cũng phải như thế.
    Tác giả có viết: "Với phương thức vận hành như vậy, đấu tranh ôn hòa phải đạt được mục đích cuối cùng: thiết lập hoặc bảo tồn chế độ dân chủ."
    Trước đây hàng mấy trăm năm có ông vua nhà Trần cũng nói như thế, nghĩa là làm cái hay, cái dở, cứ xem kết quả cuối cùng. Ta thử xem những kết quả cuối cùng của phong trào đấu tranh bất bạo động ở ta thì sao? Học giả Nguyễn Văn Bông chỉ nêu ra quan điểm phải tôn trọng các quan điểm đối lập, tức là chấp nhận những ý kiến trái chiều với mình mà bị biệt động Sài Gòn ám sát ngay trên đường đi. Nghiã là CS bất chấp điều hay lẽ phải, cứ ai nói trái ý CS thì CS dùng vũ lực sát hại.
    Ngày nay thì bọn IS cũng vậy, chúng có coi tính mạng ra gì đâu, sẵn sàng đánh bom liều chết đấy thôi, chẳng cần phải trái gì hết, giống hệt CS. Nghĩa là I Ét giống hệt Xê ÉT. Thế thì cứ bất động để nướng thân hay sao? Thử đấu tranh bất động với IS xem sao, còn trong thực tế, đấu tranh bất động với CS thì đổ máu nhiều rồi, tác gảiicó chứng kiến cảnh công an và côn đồ đàn áp những người đấu tranh dân chủ trong tay không một tấc sất không? Họ đều đấu tranh ôn hòa cả đấy chứ. Ông Nguyễn Gia Kiẻng nói sao về điều này? Còn đấu tranh vũ trang thì rơi vào tình trạng người mình giết người mình, khốc liệt lắm, tàn nhãn lắm. Điều này là nói với dân ta thôi, còn CS thì bất cần, cứ đạt được mục đích là chơi hết, chết cả triệu đồng bào để xây dựng CNCS (ảo tưởng) cũng sẵn sàng chơi tuốt, bất cần luật pháp và lẽ phải.
    Tôi ít học, không biết lý thuyết sách vở, chỉ nêu lên vài điều mắt thấy tai nghe thôi. Xin tiếp thu những lời dạy bảo của các vị.

    Tên tác giả viết:
    Chúng ta sẽ suy nghĩ thế nào khi đọc thấy C. S. Montesquieu viết rằng: “… Chỉ những người thông minh bẩm sinh, hiểu thấu Hiến pháp nước nhà mới kiến nghị được những điều thay đổi!”? Hình như câu trả lời không khó lắm!

    Hehe, tớ đã từng "hoan nghênh" các "ngài trí thức phản biện trung thành" của nhà sản.
    Các "ngài" trí thức nhà sản ắt là "người thông minh bẩm sinh, hiểu thấu Hiến pháp nước nhà mới kiến nghị được những điều thay đổi".
    Dzưng tiếc thay, hu hu, các kiến nghị xin thay đổi nì đã được tứ trụ dà 16 "ngài" trong bộ chính trị nhà sản ném dô thùng rác.
    Một đống kiến nghị là thêm một đống rác giấy ở trung ương nhà sản.
    Câu trả lời quả là không khó nhể, "tài năng" của các trí thức phản biện trung thành đã được chính cái chính quyền của bỏn đánh giá theo câu nói vang lừng 5 châu, gây chấn động địa cầu của Mao: " trí thức là cục ..." Mao vừa là tấm gương chói sáng vừa là thầy của Hồ, học trò (của) Hồ:
    "Tôi có thể sai, các chú có thể sai, chứ bác Mao không bao giờ sai" ====> Thiên triều muôn năm! D
    Cbn.

    Một bài viết tâm huyết của tác giả Hà Huy Toàn, trong bài viết này t/g hô hào đấu tranh bất bạo động.

    Hà Huy Toàn viết:
    Vì cá nhân nào cũng có bản năng sinh tồn cùng với bản tính vị kỷ khiến cá nhân nào cũng có QUYỀN SỐNG, QUYỀN TỰ DO và QUYỀN MƯU CẦU HẠNH PHÚC nên KHI THAM GIA ĐẤU TRANH, CẦN PHẢI TÔN TRỌNG ĐỐI THỦ ĐỂ SAO CHO TẤT CẢ CÁC BÊN TRANH CHẤP CÙNG THẮNG MÀ KHÔNG MỘT BÊN NÀO BỊ THUA. ĐÓ CHÍNH LÀ NGUYÊN TẮC CÙNG THẮNG (the principle of win – win). NGUYÊN TẮC NÀY CHO PHÉP TẤT CẢ CÁC BÊN TRANH CHẤP ĐỀU CÓ THỂ BIẾN KẺ THÙ THÀNH BẠN HỮU HOẶC BIẾN ĐỐI THỦ THÀNH ĐỐI TÁC. NGUYÊN TẮC CÙNG THẮNG CẦN PHẢI ĐƯỢC LẤY LÀM NGUYÊN TẮC NỀN TẢNG CHO CHÍNH TRỊ HIỆN ĐẠI!

    Và t/g có cùng một tư tưởng với ông Nguyễn Gia Kiễng của tập hợp dân chũ đa nguyên, ông Kiễng thì kêu gọi hoà hợp hoà giải, t/g thì kêu gọi tôn trọng mọi đối tác. Vây xin đặt câu hỏi cho hai vị.

    1/ Chính quyền csVN hiện nay có coi cánh dân chủ hiện nay chưa tổ chức, chưa chất luợng tai VN là đối tác hay họ sẽ đè bẹp bằng mọi giá từ trong trứng nước.

    2/ Nhìn nghĩa trang quân cán chính VNCH ở Biên Hoà, người đã chết hơn 40 năm qua mà còn không được hoà giải, vậy người Việt hải ngoại, và triệu người Việt buồn trong nước như Võ Văn Kiệt từng phát biểu thì họ phải hoà giải với ai, đừng vội nói hoà hợp.

    Thế mới biết, lý thuyết như t/g hay như ông Kiễng dễ lọt tai nhưng thực hành e khó nuốt.