Trung Quốc có thể học được những gì sau phán quyết về Biển Đông

  • Bởi Biên tập viên
    19/07/2016
    3 phản hồi

    Dịch giả Trần Đông Đức (Cologne)

    Zheng Wang (*), The Diplomat, 17/07/2016

    (*) Zheng Wang là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Hòa bình và Xung đột, Khoa Ngoại giao và Quan hệ Quốc tế, Đại học Seton Hall, New Jersey. Ông cũng là thành viên Carnegie ở New America và là thành viên Toàn cầu tại Viện Kissinger về Trung Quốc và Hoa Kỳ thuộc Trung tâm Quốc tế Woodrow Wilson.

    (The Diplomat) Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) trong vụ Philippines kiện Trung Quốc không có gì để nghi ngờ chính là trở ngại lớn đối với chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Bất kể mọi sự đánh giá các bên về chất lượng và tính công bằng của phán quyết, đặc biệt liên quan đến thắng lợi áp đảo ủng hộ những tuyên bố của Philippines, phán quyết của PCA sẽ không chỉ làm tổn hại hình ảnh và quyền lực mềm của Trung Quốc , mà còn sẽ gây ra ức chế mạnh mẽ cho các tuyên bố của Trung Quốc về lãnh thổ và quyền hàng hải ở miền Biển Đông và những hậu quả sẽ rất to lớn trong tương lai. Nhìn lại quá trình kể từ tháng 1 năm 2013, khi chính phủ Philippines quyết định nộp hồ sơ kiện lên PCA, có rất nhiều bài học mà Trung Quốc có thể rút ra từ vụ này, đặc biệt là khi nói đến việc hoạch định chính sách, nghiên cứu chính sách, thái độ và nhận thức và truyền thông.

    Hoạch Định Chính Sách Đối Ngoại

    Phán quyết của PCA đã chứng minh rằng có một vấn đề lớn trong quá trình quyết định chính sách đối ngoại của Trung Quốc . Nếu mà Trung Quốc đã tham gia vào vụ kiện, họ có thể đã chọn lựa một trọng tài viên thay mặt cho Trung Quốc và họ có thể đã gây ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các trọng tài khác, một việc khả thi để có một tác động trực tiếp đến kết quả khả quan hơn. Thậm chí nếu tham gia và vụ kiện, Trung Quốc có thể đã thành công khi nói rằng PCA đã thiếu thẩm quyền về vấn đề này, hoặc bị hạn chế về thẩm quyền trước một số các vấn đề tranh tụng. Chính bởi vì không tham gia, Trung Quốc cũng đã tự mình đánh mất cơ hội để trực tiếp tham gia vào các cuộc tranh luận và đưa ra ý kiến, bằng chứng và lập luận về vụ việc riêng của mình . Vì vậy, rõ ràng là một sai lầm rất lớn (a huge mistake) đối với Trung Quốc khi đã từ bỏ tham gia vụ kiện.

    Quyết định không tham gia của Trung Quốc, đã giành cho Shunji Yanai , Chủ tịch Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), một công dân Nhật Bản, mọi thẩm quyền để bổ nhiệm các trọng tài viên. Kết quả là bốn trong số năm trọng tài viên cho các trường hợp này đã được bổ nhiệm bởi Yanai . Trước khi phục vụ như chủ tịch ITLOS, Yanai đã là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Nhật Bản (1997-1999) và đại sứ của Nhật tại Hoa Kỳ (1999-2001). Do tranh chấp hàng hải và các vấn đề lịch sử giữa Trung Quốc và Nhật Bản , một số người Trung Quốc tin rằng Yanai nói chung đã chọn các trọng tài viên có một sự thiên vị chống lại Trung Quốc. Tuy nhiên, đó chỉ là vì Trung Quốc từ chối tham gia mà Yanai có quyền chỉ định Trọng tài viên theo quyết định của mình.
    Trung Quốc cần phải làm rõ là tại sao họ đưa ra quyết định này. Đầu tiên, có sự thiếu vắng trong việc xem xét cẩn thận các hậu quả có thể có của việc không tham gia vụ kiện Một vấn đề quan trọng nữa là liệu có hay không những kênh hiệu quả cho những ý kiến khác nhau có thể được thảo luận và đánh giá trong quá trình hoạch định chính sách . Chính phủ Trung Quốc rõ ràng đã không nhận được các tư vấn pháp lý tốt từ các chuyên gia luật quốc tế hàng đầu.

    Nghiên Cứu

    Vụ kiện này cũng đã chứng minh một trong những điểm yếu chính về đối ngoại của Trung Quốc: nghiên cứu chính sách. Đáng ngạc nhiên chính Trung Quốc đang thiếu các nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề Biển Đông, trong đó có yêu sách riêng của mình, và các vấn đề thuộc chủ quyền lịch sử. Đây là một trong những lý do quan trọng tại sao Trung Quốc đã quyết định không tham gia vụ kiện, bởi vì Trung Quốc vẫn chưa sẵn sàng. Không có một lộ trình rõ ràng hoặc hỗ trợ tốt được thoả thuận cho những người bên trong chính phủ phải làm theo. Sự mơ hồ của Trung Quốc trên Biển Đông ở một mức độ nào đó chính là do thiếu nghiên cứu trong lĩnh vực đã nêu. Ví dụ, yêu sách của Trung Quốc chủ yếu dựa trên lịch sử, nhưng cho đến nay tác giả đã không tìm thấy một cuốn sách xuất bản nào ở Trung Quốc cung cấp một phân tích toàn diện và khách quan về các sự kiện và lịch sử trong vùng Biển Đông cũng như các quá trình liên quan đến việc đưa ra các bản đồ đứt đoạn và ý nghĩa thực tế của chúng. Trung Quốc thực sự có rất nhiều bằng chứng nhỏ về lịch sử để hỗ trợ tuyên bố của mình, nhiều bằng chứng trong số này đã được sử dụng trong các bài giảng trong nước trong nhiều năm qua. Nộp chúng lên PCA thành các bằng chứng pháp lý là một điều hoàn toàn khác nhau. Trung Quốc cũng thiếu vắng các chuyên gia luật pháp quốc tế cần thiết cho các loại vụ kiện lớn.

    Để lấp đầy khoảng trống này, Trung Quốc cần phải cung cấp thêm hỗ trợ cho viện chính sách và viện nghiên cứu cho các nghiên cứu về Biển Đông. Quan trọng hơn, trong các nghiên cứu cần khuyến khích các cuộc tranh luận giữa các ý kiến khác nhau và có nhiều thông tin liên lạc với các cộng đồng nghiên cứu quốc tế.

    Thái Độ và Nhận Thức

    Mặc dù Trung Quốc bác bỏ các quyết định trọng tài, nhưng là một thế lực lớn trong cộng đồng quốc tế , ít nhất là tham gia tố tụng sẽ biểu hiện sự tôn trọng cần thiết đối với luật pháp và các tổ chức pháp lý quốc tế . Về cơ bản, đây là một vấn đề về thái độ và nhận thức. Chính phủ Trung Quốc vẫn coi luật pháp quốc tế như một cái gì đó mà họ có thể lựa chọn theo ý thích của họ. Ngoài ra, chính phủ không quen thuộc với các hệ thống và cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là việc sử dụng các trọng tài như một phương pháp giải quyết tranh chấp. Một số chính khách đã có thái độ kẻ cả và thậm chí coi phán quyết như là một sự mất mặt (a loss of face) cho một cường quốc khi tham gia vào một vụ kiện bắt đầu bởi một nước nhỏ hơn và có tổ chức bởi một tòa án tạm thời.

    Như đã đề cập trong bài khác của cùng tác giả (**), khi tham gia đàm phán Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1973-1982, Trung Quốc đã quyết định đứng cùng với các nước thuộc thế giới thứ ba và hỗ trợ các nhu cầu cho vùng đặc quyền kinh tế EEZ 200 hải lý (ND: tương đương 370,4 km). Các nhà ngoại giao Trung Quốc tại thời điểm đó hoàn toàn quên về Biển Đông và đường lưỡi bò chín gạch. Họ đặt ý thức hệ trên lợi ích quốc gia và không nhận ra rằng vùng đặc quyền 200 hải lý sẽ tạo ra những mâu thuẫn không thể lường trước cho các tuyên bố của Trung Quốc ở Biển Đông, chẳng hạn như các vùng đặc quyền của các nước láng giềng sẽ phủ trùm với đường lưỡi bò chín gạch. Hơn 40 năm đã trôi qua từ khi tham gia của Trung Quốc trong việc đàm phán UNCLOS những năm 1970 đến quyết định không tham gia vụ kiện lên PCA năm 2013. Trong thời gian này nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trưởng từ là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, nhưng thái độ và nhận thức đối với luật pháp quốc tế của Trung Quốc đã không tăng cùng một nhịp với tăng trưởng về kinh tế.

    Truyền Thông

    Trong các vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã bị cô lập rộng rãi (largely isolated). Những tranh luận và ý kiến của Trung Quốc về cơ bản đã không được lắng nghe. Nhưng cô lập này một phần tạo ra bởi chính bản thân Trung Quốc vì Bắc Kinh đã không bao giờ tìm ra cách thức hiệu quả để giao tiếp với phần còn lại của thế giới liên quan đến tuyên bố của mình và lập luận đằng sau những tuyên bố đó. Trước phán quyết PCA, Trung Quốc đã phát động một chiến dịch truyền thông và các nhà ngoại giao đã viết bài cho các phương tiện truyền thông quốc tế. Nhưng hầu hết những nỗ lực này không hiệu quả đơn giản chỉ vì chúng chỉ lặp đi lặp lại những tuyên bố chính thức của Trung Quốc mà không cung cấp bằng chứng thuyết phục cũng như lập luận logic để hỗ trợ các yêu sách của mình.

    Đó chính là điều đáng lo ngại nếu một nước muốn vươn lên thành siêu cường mà không thể giao tiếp hiệu quả với phần còn lại của thế giới. Tồn tại một khoảng cách nhận thức rất lớn liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông. Ở một mức độ rộng lớn hơn, các tranh chấp ở Biển Đông hiện nay được tạo ra dựa trên những nhận thức sai lầm từ các phương tiện truyền thông, giáo dục, và bất đồng trong xã hội cả bên trong và bên ngoài Trung Quốc. Rõ ràng, cần có một nhu cầu cấp thiết cho truyền thông và đối thoại, đặc biệt là giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

    Thật không may, các phán quyết từ PCA sẽ không mang lại bất kỳ giải pháp nào cho căng thẳng ở Biển Đông; Nhiều khả năng nó sẽ chỉ tạo thêm những bất ổn mới và nguy hiểm. Phán quyết này cũng có khả năng kích thích hơn nữa chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc và ký ức tập thể của chấn thương lịch sử dưới bàn tay của các cường quốc nước ngoài. Như một hệ quả có thể, không gian cho ngoại giao hợp lý có thể giảm hơn nữa. Tuy nhiên với Bắc Kinh, cần tránh phản ứng thái quá, vì nó sẽ chỉ làm cho các phán quyết của PCA gây thiệt hại nhiều hơn đến lợi ích quốc gia của Trung Quốc.

    (**) http://thediplomat.com/2016/07/china-and-unclos-an-inconvenient-history/

    Link gốc: http://thediplomat.com/2016/07/what-china-can-learn-from-the-south-china-sea-case/

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Tôi nghĩ CQ VN không dám kiện TQ là vì "há miệng mắc quai":
    (1) VN ở ngay cạnh TQ với một chính sách kinh tế quá phụ thuộc TQ nên nếu CQ VN làm TQ phật lòng thì TQ sẽ dễ dàng làm KT VN sụp đổ.
    (2) CQ VN thường nổi tiếng thiển cận, nhận thức trên dưới khác nhau nên mới có chuyện để cho thương nhân TQ tự do thao túng giá cả hàng hóa ngay tại VN, để cho TQ thuê rừng thuê đất hay khai thác khoáng sản (như bô-xit Tây Nguyên) bất chấp quyền lợi an ninh quốc gia VN (TQ mang người sang làm việc những nơi trọng yếu nên có trời mới biết họ làm gì dưới lòng đất những nơi này).

    Nếu VN kiện TQ ra toà trọng tài và TQ không tham gia thì họ không thể trưng ra cái công hàm Phạm Văn Đồng (ký năm 1958?).

    Giả dụ toà trọng tài cắc cớ tra hỏi VN về công hàm ấy, thì lý lẽ có thể được đưa ra là: sự công nhận một điều bất hợp pháp (qua vụ kiện của Phi, toà đã phán chủ quyền của TQ trong vùng lưỡi bò không có căn bản pháp lý) chính nó là bất hợp pháp.

    Điều này có nghĩa "công hàm PVĐ hoàn toàn vô giá trị trước luật pháp quôc tế" là một hệ quả quan trọng rút từ phán quyết của PCA vừa qua.

    (chưa nói đến vài lý luận khác như lúc ấy HS và TS thuộc vùng kiểm soát của VNCH chứ không phải của VNDCCH. Nhưng thiết nghĩ không nên dùng lý luân này vì nó quá phức tạp, liên quan đến việc kế thừa VNCH)

    Thế thì chính quyền VN còn ngại cái gì mà không kiện? Họ lo sợ vì bị TQ hăm doạ qua cái mật ước Thành Đô chăng?

    Còn VN học được những gì qua các động thái của TQ về vụ kiện của Phi?

    Vừa qua TQ đã không công nhận thẩm quyền của toà án trọng tài, không tham gia vụ xử, và họ bác bỏ các phán quyết của cơ quan này. TQ (chắc chắn) sẽ không đổi ý vì các phán quyết ấy hết sức bất lợi cho họ.

    Như vậy trong tương lai nếu VN kiện ra cùng toà ấy về những vấn đề tương tự thì TQ đã há miệng mắc quai, tự buộc phải theo đường cũ (không tham gia vào vụ kiện). Bởi nếu TQ tham gia vào đó nghĩa là họ công nhận thẩm quyền của toà trong vụ VN kiện, và cũng có nghĩa là công nhận toà và các phán quyết trong vụ của Phi.

    Đây là thêm một thuận lợi lớn cho VN.

    Nhưng tại sao VN không kiện TQ? Phải chăng cần có sức ép rất mạnh từ nhân dân thì chính quyền VN mới bắt đầu hành động thay vì nói trỏng, lửng lơ không đến đâu?