Sự trỗi dậy của khuynh hướng chuyên chế ở Hoa Kỳ (2)

  • Bởi Admin
    01/06/2016
    0 phản hồi

    Amanda Taub
    Phạm Yến Nhi chuyển ngữ

    III. Khuynh hướng chuyên chế hoạt động như thế nào?


    Một cuộc biểu tình phản đối tổng thống Obama năm 2010. Justin Sullivan/Getty Images

    Vào những năm đầu trong thế kỉ 20, những nhà nghiên cứu tiến hành tận dụng dữ liệu của các nghiên cứu bầu cử quốc gia để tìm hiểu khuynh hướng chuyên chế đã có ảnh hưởng ra sao đối với chính trị Mỹ. Công trình của họ đã tiết lộ ba cách nhìn sâu sắc giúp giải thích không chỉ về hiện tượng Donald Trump, mà dường như cả các nguồn động lực trên chính trường Mỹ hơn nửa thế kỉ qua.

    Điều đầu tiên Hetherington và Weiler đi sâu vào là sự phân cực đảng phái. Vào những năm 60, Đảng Cộng Hòa đã tự làm mới mình thành đảng của luật pháp, trật tự và những giá trị truyền thống – một vị trí vốn đã thu hút những người mang xu hướng độc tài quan tâm đến trật tự và truyền thống. Qua nhiều thập kỉ sau, họ sẽ càng ngả về phía Đảng Cộng Hòa và sự tập trung mang lại cho họ ngày một nhiều ảnh hưởng theo thời gian.

    Điều thứ hai là học thuyết về “sự kích hoạt” của Stenner. Trong một cuốn sách có tầm ảnh hưởng xuất bản năm 2005 là “ The Authoritarian Dynamics” (Động lực chuyên chế), Stenner chứng tỏ rằng nhiều người có thể ngầm mang khuynh hướng chuyên chế – họ có thể không nhất thiết ủng hộ những lãnh đạo hoặc chính sách độc tài cho tới khi khuynh hướng chuyên chế trong họ bị “kích hoạt”.

    Lý thuyết về mối đe dọa xã hội giúp giải thích tại sao những người mang khuynh hướng chuyên chế có vẻ sẽ hướng đến phủ nhận không chỉ một dạng người ngoài hoặc bất kì thay đổi trong xã hội, như người Hồi giáo, các cặp đồng tính hay người nhập cư gốc Mỹ Latinh mà họ sẽ không chấp nhận tất cả những điều trên.


    Sự kích hoạt này có thể đên từ cảm giác bị đe dọa bởi những thay đổi trong xã hội như sự biến chuyển các quy chuẩn xã hội hoặc đa dạng chủng tộc đang ngày một sự tăng hay bất kì những đổi thay nào khác mà họ tin sẽ làm xáo trộn nghiêm trọng trật tự xã hội họ muốn bảo vệ. Đáp lại điều này, nhiều cá nhân trước giờ vẫn ôn hòa sẽ quay sang ủng hộ những nhà lãnh đạo và các chính sách, mà giờ đây chúng ta có thể gọi là theo phong cách Trump.

    Những nhà nghiên cứu khác, như Hetherington, có quan điểm tương đối khác. Họ tin rằng những người có khuynh hướng chuyên chế chưa hề bị kích hoạt mà họ vẫn luôn sẵn có khuynh hướng chuyên chế, nhưng những người này chỉ thể hiện điều đó một khi họ cảm thấy bị đe dọa bởi các thay đổi trong xã hội hoặc từ một số mối nguy hiểm nào đó từ “người ngoài”.

    Nhưng cả hai luồng tư tưởng trên đều đồng ý về nguyên nhân cơ bản của khuynh hướng chuyên chế. Người ta thường không ủng hộ các chính sách cực đoan và lãnh đạo bạo chúa chỉ vì họ muốn khẳng định khao khát cho khuynh hướng chuyên chế, nhưng đúng hơn việc ủng hộ là một cách đáp lại khi cảm thấy một số mối đe dọa nhất định.

    Quan điểm thứ ba là của Hetherington và Elizabeth Suhay – giáo sư đại học Mỹ, người đã phát hiện rằng ngay cả khi những người không mang khuynh hướng chuyên chế cảm thấy thật sự sợ hãi thì họ cũng bắt đầu cư xử tương tự những kẻ độc tài, xét về mặt chính trị.

    Nhưng Hetherington và Suhay cũng tìm ra điểm khác biệt giữa những đe dọa thể chất như khủng bố, điều có thể khiến những người không có khuynh hướng chuyên chế hành xử những kẻ độc tài, và những đe dọa trừu tượng hơn như sự xói mòn trong quy chuẩn xã hội hay thay đổi nhân khẩu học, vốn không có ảnh hưởng giống như mối đe dọa thể chất. Sự khác nhau đó sẽ trở nên quan trọng nhưng cũng có nghĩa là trong những giai đoạn mà nhiều người Mỹ cảm nhận những đe dọa thể chất sắp xảy đến, thì số lượng những người có khuynh hướng chuyên chế có vẻ sẽ tăng nhanh.

    Ba cách nhìn trên cùng tạo thành một lý luận rất đáng sợ: nếu những biến đổi xã hội và các đe dọa thể chất đồng thời xảy ra thì chúng có thể đánh thức một con số khổng lồ dân Mỹ mang khuynh hướng chuyên chế. Họ sẽ đòi hỏi một vị lãnh đạo bạo chúa và các chính sách cực đoan cần thiết để giải quyết những đe dọa đang lớn dần.

    Lý luận này có vẻ đã dự đoán được sự trỗi dậy của một nhóm cử tri tại Mỹ dường như rất giống với nhóm cử tri đang ủng hộ Trump đã xuất hiện, bất ngờ đưa Donald Trump từ một một kẻ thất bại mang tính giải trí trong cuộc bầu cử năm 2012 thành một ứng viên dân đầu năm 2016.

    Hơn cả một sự báo trước đáng quan ngại, lý luận này nói lên mối lo lắng được nhắc đến nhiều về Trump: điều đáng sợ nhất không phải bản thân ứng cử viên này mà chính là phạm vi và sự hăng hái của những ai ủng hộ ông ta.

    Và một câu hỏi được đặt ra: Nếu sự trỗi dậy của khuynh hướng chuyên chế trong dân Mỹ mạnh mẽ đến mức đưa Trump tiến xa đến vậy thì nó có thể ảnh hưởng tới chính trường Mỹ thế nào nữa? Và thậm chí sau khi cuộc đua năm 2016 kết thúc thì có thể có những tác động gì?

    IV. Khuynh hướng chuyên chế có thể giải thích được những gì?

    Vào đầu tháng hai, không lâu sau khi Trump chiến thắng trong cuộc họp kín thứ hai ở lowa và chấm dứt bất kì nghi ngờ nào đối với sự ủng hộ dành cho ông ta, tôi bắt đầu thảo luận với Feldman, Hetherington và MacWilliams để thử trả lời những câu hỏi trên.

    MacWilliams đã chứng minh được có mối liên hệ giữa khuynh hướng chuyên chế và sự ủng hộ dành choTrump. Nhưng chúng tôi muốn biết khuynh hướng chuyên chế đang tác động như thế nào nữa đến cuộc sống của người Mỹ, từ quan điểm chính sách tới đảng chính trị đến các vấn đề xã hội và chủ nghĩa này thể có ý nghĩa đối với tương lai nước Mỹ như thế nào.

    Đó là lúc tôi liên lạc với Kyle Dropp. Dropp là một nhà khoa học chính trị và chuyên gia thăm dò dư luận. Người được một trong những đồng nghiệp của tôi miêu tả là “Doogie Howser” của ngành thăm dò ý kiến. Cậu ta quả thực còn rất trẻ với cương vị là một giáo sư đại học Dartmouth. Nhưng Dropp đồng thời là người đồng sáng lập công ty truyền thông và thăm dò ý kiến Morning Consult, nơi đã làm việc với Vox trong nhiều dự án khác.

    Khi chúng tôi liên lạc với Morning Consult, Dropp và đồng nghiệp cậu ấy đã rất hứng khởi. Dropp nói có biết về nghiên cứu của Hetherington và phương pháp đánh giá khuynh hướng chuyên chế của ông và ngay lập tức bị thu hút bởi cách chúng tôi có thể kiểm tra tính hiệu quả của phương pháp đó trong cuộc bầu cử này. Hetherington và các nhà khoa học chính trị khác cũng rất nóng lòng tìm hiểu thêm về các lý luận vốn khá bất ngờ trở nên được quan tâm hơn.

    Những người không có khuynh hướng chuyên chế khi bị những mối đe dọa như khủng bố làm hoảng sợ thì về cơ bản họ có thể cư xử như những người có khuynh hướng chuyên chế.


    Chúng tôi đưa ra năm bộ câu hỏi. Bộ thứ nhất dĩ nhiên là phương pháp đánh giá về khuynh hướng chuyên chế mà Feldman đã phát triển. Bộ câu hỏi này sẽ cho phép chúng tôi đánh giá khuynh hướng chuyên chế có trùng khớp với những bộ câu hỏi khác hay không.

    Bộ thứ hai hỏi các câu thông thường trong mùa bầu cử ứng viên ưu thích và đảng phái chính trị.

    Bộ thứ ba tìm hiểu mức độ sợ hãi của cử tri với một loạt các đe dọa thể chất, xếp từ ISIS đến nước Nga cho tới Virut đến tai nạn xe hơi.

    Bộ thứ tư kiểm tra tìm hiểu khuynh hướng chính sách của người tham gia, để xem làm thế nào khuynh hướng chuyên chế có thể dẫn dắt cử tri đến việc ủng hộ một số chính sách cụ thể.

    Nếu nghiên cứu này chính xác thì chúng tôi đoán là những người được đánh giá có khuynh hướng chuyên chế cao sẽ bộc lộ rõ hơn nỗi sợ trước các mối đe dọa từ “người ngoài” như ISIS hoặc chính phủ nước ngoài hơn hẳn mối đe dọa khác. Chúng tôi cũng đoán rằng những người không mang khuynh hướng độc đoán nhưng biểu hiện một sợ hãi cao độ có nhiều khả năng sẽ ủng hộ Trump. Điều này cho thấy các nỗi sợ về thể chất sẽ dẫn đến một sự bộc phát khunh hướng độc tài và kéo theo đó là việc ủng hộ Trump.

    Chúng tôi muốn nghiên cứu vai trò của những cử tri có khuynh hướng chuyên chế trong cuộc bầu cử này.


    Bộ câu hỏi cuối cùng nhằm mục đích kiểm chứng nỗi sợ hãi trước các thay đổi trong xã hội. Chúng tôi hỏi cử tri xếp theo thứ tự một loạt các thay đổi trong xã hội – cả thực tế và giả thuyết – trên thang đo từ “rất tốt” tới “rất tệ” cho nước Mỹ. Bao gồm hôn nhân đồng tính, kế hoạch về quyền công dân cho dân nhập cư không chứng từ sinh sống tại Mỹ và người Mỹ theo đạo Hồi đang xây dựng nhiều giáo đường hơn trong các thành phố.

    Nếu lý luận về những thay đổi xã hội gây căng thẳng cho những người mang khuynh hướng độc tài là đúng đắn, thì những người này sẽ có khả năng sẽ đánh giá các thay đổi trên đều không tốt cho đất nước.

    Một cách tổng thể, chúng tôi hi vọng có được một số điều nữa từ cuộc thăm dò này. Chúng tôi muốn tìm hiểu những người mang khuynh hướng độc tài là ai, theo ngôn ngữ nhân khẩu học, và kiểm tra những giả thuyết cơ bản về cách khuynh hướng chuyên chế, về mặt lý thuyết, thường hoạt động. Và nghiên cứu vai trò của những người đó trong cuộc bầu cử này: ví dụ như, phải chăng họ đang tác động lên các tư tưởng chính sách nhất định?

    Chúng tôi muốn hiểu rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đột nhiên khiến những người có khuynh hướng độc tài trở nên quá đông đảo và cực đoan đến vậy, liệu có phải đo là do di cư, khủng bố và có thể sự xuống cấp của tầng lớp lao động người da trắng? Hoặc có thể quan trọng nhất, chúng tôi muốn phát triển một số lý luận về ý nghĩa của sự trỗi dậy của khuynh hướng chuyên chế ở Mỹ đối với tương lai của sự phân hoá giữa các đảng cũng như Đảng Cộng Hòa , nơi đã trở nên cực đoan hơn và chia rẽ nội bộ.

    Khoảng 10 ngày sau đó, không lâu sau khi Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ tại bang New Hampshire, cuộc thăm dò được tiến hành và chưa tới hai tuần, chúng tôi thu được kết quả.

    V. Đảng Cộng Hòa trở thành đảng của những người có khuynh hướng chuyên chế như thế nào?


    Tom Pennington/Getty Images.

    Điều đầu tiên thể hiện rõ rệt từ dữ liệu về những người có khuynh hướng chuyên chế là họ đông đảo như thế nào. Các kết quả cho thấy 44 phần trăm của những người da trắng làm khảo sát trên toàn quốc khuynh hướng độc tài “cao” hoặc “rất cao”, 19 phần trăm là “rất cao”. Điều đó quả thực không gây bất ngờ lắm và chúng tương ứng với những cuộc khảo sát quốc gia trước đó đã khám phá ra khuynh hướng hướng độc tài không phải không phổ biến.

    Điểm mấu chốt cần hiểu là khuynh hướng chuyên chế thường mang tính tiềm tàng; số người trong 44 phần trăm trên chỉ bỏ phiếu hoặc hành động như những người có khuynh hướng chuyên chế một khi họ bị kích động bởi các đe dọa về thể chất và xã hội. Nhưng sự âm ỷ này chỉ giải thích một phần làm thế nào những người có khuynh hướng độc tài đã âm thầm trở thành một nhóm cử tri mạnh mẽ qua một vài thập kỉ mà không ai nhận ra.

    Đến giờ, theo cuộc khảo sát, những người có khuynh hướng chuyên chế phần lớn theo Đảng Cộng Hòa . Hơn 65 phần trăm trong số những người có kết qủa mang khuynh hướng chuyên chế cao nhất cử tri của Đảng Cộng Hòa . Hơn 55 phần trăm trong số những người ủng hộ Đảng Cộng Hòa tham gia khảo sát có có kết quả theo khuynh hướng độc tài là “cao” hoặc “rất cao”.

    Và ở phía bên kia của thang đo, tình thế diễn ra ngược lại. Những người ít mang khuynh hướng chuyên chế có đến gần như 75 phần trăm là những người ủng hộ Đảng dân chủ, có nghĩa họ luôn chọn câu trả lời về cách nuôi dưỡng con cái không mang tính độc đoán.

    Nhưng điều này không phải luôn đúng. Theo nghiên cứu của Hethington và Weiler, đây không phải là về sự khác biệt trong hành động của cả hai Đảng khi đối mặt với các vấn đề như người sao Hỏa khác người sao Thủy như thế nào (theo cuốn sách Men are from Mars, women are from Venus). Mà đây chính là về sự phân cực giữa hai đảng đã tăng dần theo thời gian.

    Họ quay về giai đoạn những năm 60, khi Đảng Cộng Hòa thay đổi chiến lược tranh cử để cố thuyết phục những người theo Đảng Dân chủ ở phía Nam về phía mình bằng cách đánh vào nỗi sợ hãi trước các quy chuẩn xã hội đang thay đổi – ví dụ, các cuộc cách mạng dân quyền góp phần làm xáo trộn thứ bậc chủng tộc. Đảng Cộng Hòa cũng áp dụng một cương lĩnh “pháp luật và trật tự” tạo nên sức hút mạnh mẽ với các cử tri da trắng đang quan tâm đến cuộc bạo loạn chủng tộc.

    Thay đổi chiến lược này đã xác định Đảng Cộng Hòa là đảng của giá trị và cấu trúc xã hội truyền thống – một vai trò được duy trì kể từ đó. Họ hứa hẹn sẽ ngăn chặn xã hội thay đổi và nếu cần thiết, sẽ áp đặt trật tự đã có sức thuyết phục mạnh mẽ trước các cử tri có khuynh hướng chuyên chế.

    Ngược lại, Đảng Dân chủ đã đặt vị trí của họ là Đảng của nhân quyền, công bằng và tiến bộ xã hội – nói cách khác, với vai trò là đảng cho những biến đổi trong xã hội. Một vị trí mà không những không thu hút được mà còn thực sự làm khó chịu những người theo khuynh hướng độc tài.

    Hetherington giải thích với tôi: qua nhiều thập kỉ tới, điều đó sẽ dẫn những người mang khuynh hướng chuyên chế lựa chọn vào Đảng Cộng Hòa một cách tự nhiên.

    Điều này ý nghĩa quan trọng, vì càng nhiều người có khuynh hướng chuyên chế trong Đảng Cộng Hòa thì sẽ càng có nhiều ảnh hưởng lên các chính sách và các ứng cử viên. Không hề vô nghĩa khi cuộc thăm dò của chúng tôi đã khám phá ra hơn một nửa câu trả lời trong số những người ủng hộ Đảng Cộng Hòa có khuynh hướng chuyên chế

    Có thể điều quan trọng hơn là Đảng Cộng Hòa sẽ ngày càng có ít khả năng để phớt lờ lựu chọn bầu cử của những người có khuynh hướng chuyên chế – thậm chí những lựa chọn đó xung khắc với luồng tư tưởng mà Đảng thiết lập.

    VI. Trump, những người theo khuynh hướng chuyên chế và nỗi sợ hãi

    authoritarians_trump_support.0.png

    Dựa trên dữ liệu của chúng tôi, nhà phân tích dữ liệu của Morning Consult là Adam Petrhos nói rằng “trong số nhóm người thuộc Đảng Cộng Hòa, tỉ lệ ủng hộ Trump rất lớn đến từ những ai có khuynh hướng chuyên chế cao hoặc rất cao. Ông ta nhận được 42 phần trăm sự ủng hộ trong đảng. Nhưng căn cứ vào cuộc khảo sát của mình, chúng tôi thấy được toàn bộ 52 phần trăm sự ủng hộ đến từ những người có khuynh hướng chuyên chế rất cao.

    Khuynh hướng chuyên chế là yếu tố duy nhất dự đoán chính xác nhất về tỉ lệ ủng hộ dành cho Trump, yếu tố dự đoán đúng thứ hai là trình độ học vấn: người ủng hộ Trump thường có trình độ trung học . Và Hetherington lưu ý sau khi xem xét kết quả cuộc khảo sát, mối quan hệ giữa khuynh hướng chuyên chế và sự ủng hộ Trump vẫn duy trì mạnh mẽ, ngay cả đã tách ảnh hướng của vấn đề giới tính và giáo dục.

    Trong số những người theo Đảng Cộng Hòa có khuynh hướng chuyên chế thấp: chỉ 38 phần trăm ủng hộ Trump

    Tuy nhiên con số đó vẫn là quá cao. Thế thì điều gì có thể giải thích cho việc những người không có khuynh hướng chuyên chế lại ủng hộ Trump?

    Tôi nghi ngờ rằng ít nhất một phần câu trả lời nằm trong nghiên cứu của Hetherington và Suhay về cách nỗi sợ hãi tác động đến các cử tri không có khuynh hướng chuyên chế, do đó tôi đề nghị họ thảo luận dữ liệu trên. Hetherington nghiền ngẫm một vài số liệu về mối đe dọa thể chất và ghi nhận hai điều.

    Điểm đầu tiên là những người có khuynh hướng chuyên chế thường sợ những kiểu đe dọa về thể chất nhất định.

    authoritarian_risk.002.0.jpeg
    authoritarian_risk.001.0.jpeg

    Chúng tôi phát hiện trong nghiên cứu này: những người có khuynh hướng chuyên chế hầu hết có xu hướng sợ hãi các mối đe dọa từ ngoại quốc như ISIS, Nga hoặc Iran. Các nhà nghiên cứu chỉ ra người ta có thể làm các mối đe dọa đó sinh động hơn với một tên khủng bố đáng sợ hay tên thủ lĩnh nhóm tôn giáo ở Iran. Còn những người không có khuynh hướng chuyên chế thì cảm thấy ít sợ hãi hơn trước những đe dọa trên. Ví dụ, 73 phần trăm trong số người có khuynh hướng chuyên chế cao tin rằng các tổ chức khủng bố như ISIS tạo ra “nhiều nguy hiểm” cho họ, nhưng chỉ 45 phần trăm ngườicó khuynh hướng chuyên chế rất thấp nghĩ như thế. Những đe dọa trong nước như tai nạn xe hơi, ngược lại, không gây lo sợ nhiều cho những người có khuynh hướng chuyên chế.

    Nhưng Hetherington cũng chú ý vài điều khác: một nhóm nhỏ trong số những người không có khuynh hướng chuyên chế rất sợ các mối đe dọa như Iran hoặc ISIS. Và khi họ càng tỏ ra sợ hãi chúng hơn thì càng có khả năng họ sẽ ủng hộ Trump.

    Điều này có vẻ khẳng định lý luận của ông ấy và Suhay là: khi những người không có khuynh hướng chuyên chế quá khiếp sợ trước những mỗi đe dọa về thể chất như khủng bố thì về cơ bản họ có thể vì sợ mà hành động như những người có khuynh hướng chuyên chế.

    Điều đó là quan trọng, vì trong nhiều năm nay, các chính trị gia Đảng Cộng Hòa và các phương tiện truyền thông thiên về Đảng này như tờ Fox đã không ngừng nói với người xem rằng thế giới là một nơi đáng sợ và Tổng thống Obama chưa là tốt để giữ người dân Mỹ được an toàn.

    Có rất nhiều nguyên nhân chính trị và truyền thông giải thích lý do diễn ra việc này. Nhưng vấn đề là cử tri Đảng Cộng Hòa liên tục tiếp xúc với các thông điệp cảnh báo về những nguy hiểm cho thể chất. Khi nhận thức về mối đe dọa này tăng lên, nỗi sợ đó dường như dẫn dắt một số người không có khuynh hướng chuyên chế tới bỏ phiếu ủng hộ Trump, như những người vốn có khuynh hướng chuyên chế.

    Điều mỉa mai trong cuộc bầu cử sơ bộ lần này là giới chóp bu trong Đảng Cộng Hòa đã ra sức ngăn cản Trump bằng cách sử dụng chính quan điểm của ông ta, trong số những việc khác. Nhưng khi ứng cử viên chính thống như Marco Rubio thử dùng lời lẽ hùng hồn như Trump về ISIS hoặc người Mỹ Hồi giáo thì những ứng viên đó cuối cùng có thể làm nỗi nỗi sợ hãi sâu sắc hơn, khiến cử tri càng muốn quay về phía Trump mà thôi.

    authoritarians_foreign_threats1_480.0.png
    authoritarians_policy.001.0.jpeg
    authoritarians_policy.002.0.jpeg
    authoritarians_correlation.001.0.jpeg

    VII. Phải chăng toàn cảnh xã hội nước Mỹ thay đổi đang “kích hoạt” khuynh hướng chuyên chế?

    Nhưng các nghiên cứu về khuynh hướng chuyên chế cho rằng không chỉ những đe dọa về thể chất dẫn tới tất cả những điều này. Lẽ ra có một loại đe dọa khác – lớn hơn, chậm rãi hơn, khó nhận thấy hơn nhưng có thể kinh khủng hơn – đẩy những người có khuynh hướng chuyên chế tới các quan điểm cực đoan: chính là mối đe dọa từ biến đổi xã hội.

    Điều này có thể diễn ra dưới hình thức chuẩn mực xã hội biến chuyển, chẳng hạn như sự xói mòn trong vai trò giới tính truyền thống hoặc sự thay đổi các tiêu chuẩn về cách để bàn về thiên hướng tình dục. Hoặc cũng có thể xảy đến cùng sự gia tăng tính đa dạng, liệu điều đó nghĩa là nhân khẩu học thay đổi do người nhập cư hay đơn thuần là thay trong đổi màu da những người trên truyền hình. Hoặc có thể bất kì biến đổi nào, chính trị hay kinh tế, phá vỡ hệ thống thứ bậc xã hội.

    Đối với những người có khuynh hướng chuyên chế những thay đổi trên có điểm chung là đều đe dọa làm mất đi hiện trạng xã hội mà họ quen với - trật tự, an toàn – và rồi thay thế bằng một cái gì đó đáng sợ với khác biệt và bất ổn. Nhưng đôi khi vì các thay đổi đó đảo ngược vị trí của những người như họ trong xã hội. Theo sách vở, để đáp trả, những người có khuynh hướng chuyên chế sẽ tìm kiếm một nhà lãnh đạo cứng rắn, người hứa hẹn sẽ ngăn chặn những thay đổi đáng sợ đó, và bằng vũ lực nếu cần thiết, để giữ được nguyên trạng xã hội.

    Đây là lý do tại sao, trong cuộc khảo sát, chúng tôi muốn nghiên cứu mức độ thể hiện sự hoảng sợ đối với thay đổi xã hội của những người có khuynh hướng chuyên chế so với những người không có khuynh hướng đó. Và liệu nỗi sợ đó có dẫn họ tới khao khát các cách biện pháp đáp trả nặng tay hay không, như dự doán.

    Kết quả của chúng tôi dường như xác nhận rằng: những người có khuynh hướng chuyên chế nhiều khả năng đánh giá “xấu” hoặc “rất xấu” cho đất nước đối với gần như tất cả các vấn đề xã hội dù thực tế hay giả thuyết.

    Ví dụ, kết quả cho thấy: đáng ngạc nhiên là 44 phần trăm những người có khuynh hướng chuyên chế tin rằng hôn nhân đồng tính có hại cho nước Mỹ. 28 phần trăm đánh giá rất tệ và 16 phần trăm nói rằng là tệ. Chỉ 35 phần trăm trong những người có khuynh hướng chuyên chế cao cho hôn nhân đồng tính là tốt hoặc rất tốt cho đất nước.

    Đáng chú ý, phản hồi từ những người không có khuynh hướng chuyên chế lệch qua hướng ngược lại. Họ có xu hướng đánh giá hôn nhân đồng tính là “tốt” hoặc “rất tốt” cho đất nước.

    Thực tế là những người có khuynh hướng chuyên chế và những người không có xu hướng chuyên chế không đồng nhất ý kiến trên vài việc mang tính cá nhân và không gây đe dọa như là hôn nhân đồng tính. Điều này là cốt yếu để hiểu được cách khuynh hướng chuyên chế có thể bị kích hoạt bởi ngay cả một biến đổi xã hội nhỏ như quyền kết hôn trở nên thoáng hơn.

    Chúng tôi cũng yêu cầu những người trả lời đánh giá liệu người Hồi giáo xây dựng thêm nhiều giáo đường tại các thành phố ở nước Mỹ có phải là việc tốt. Câu hỏi này nhằm kiểm tra mức độ thoải mái của những người tham gia khảo sát khi chia sẻ xã hội của họ với người Hồi giáo – một vấn đề đã đặc biệt gây tranh cãi trong mùa bầu cử sơ bộ này.

    Một con số rất lớn 56.5 phần trăm những người có khuynh hướng chuyên chế cao cho rằng việc những người Hồi giáo xây dựng nhiều giáo đường là “tệ” hoặc “rất tệ” cho đất nước. Chỉ 14 phần trăm trong số đó đánh giá điều này là “tốt” hoặc “rất tốt”.

    Các tài liệu về khuynh hướng chuyên chế cho biết điều này không chỉ đơn giản là lòng căm ghét người Hồi giáo, mà nó phản ánh một hiện tượng bao quát hơn trong đó những người có khuynh hướng chuyên chế cảm thấy bị đe dọa bởi những người mà họ xem là “người ngoài” và bởi nguy cơ sẽ thay đổi hiện trạng xã hội của họ.

    Điều này giúp giải thích tại sao những người có khuynh hướng chuyên chế có thể có ý phủ nhận không chỉ một kiểu người ngoài hay biến đổi xã hội như Đạo Hồi, các cặp đôi đồng tính hay những người nhập cư từ Châu Mỹ Latinh, mà họ sẽ chống đối tất cả chúng. Điểm chung trong những người và biến đổi có vẻ khác hẳn nhau trên chính là chúng đe đọa đến trật tự hiện trạng xã hội. Đó là điều mà những người có khuynh hướng chuyên chế cho rằng gây hại đến bản thân họ.

    Nước Mỹ đang ở thời điểm hiện trạng trật tự xã hội thay đổi nhanh chóng; khi một số những thay đổi xã hội đang hợp lại. Và chúng đặc biệt cùng hướng về phía các nhóm dân lao động người da trắng.

    Chính hiểu biết thông thường của chúng ta quy sự trỗi dậy đầu tiên là của Tea Party cánh hữu và giờ đến lượt Trump cho cơn giận dữ trong các nhóm dân lao động người Mỹ da trắng.

    Họ quả thực giận dữ, nhưng dữ liệu này giúp giải thích rằng họ cũng đang chịu đựng biến đổi nhất định trong nhân khẩu học và sức ép kinh tế. Theo nghiên cứu này, việc đó có nhiều khả năng kích động khuynh hướng chuyên chế - do đó giả thuyết rằng có một số điều phức tạp hơn một chút đang đến thay vì cơn giận dữ đơn thuần mà giúp giải thích sự quan tâm của họ đối với những phản ứng chính trị cực đoan.

    Những nhóm dân lao động người da trắng đã chịu đựng căng thẳng kinh tế nặng nề từ cuộc suy thoái. Và người da trắng cũng đang đối mặt với việc mất đi các vị trí đặc quyền mà trước đó họ đương nhiên nhận được. Những người này theo dự đoán sẽ trở thành nhóm thiểu số trong vài thập kỉ tới vì tình hình nhập cư và các yếu tố khác. Tổng thống đương nhiệm là người da đen và những người da màu đang dần phổ biến hơn trong nền văn hóa chung. Ngày càng nhiều các yêu cầu chính trị đáng chú ý được nêu lên từ những nhóm này và thường trùng khớp với các vấn đề như các chính sách nêu lên mối quan ngại mang khuynh hướng chuyên chế.

    Một vài trong số các yếu tố có thể được coi có tính đe dọa nhiều hoặc ít hơn một cách hợp lý so với những cái khác. Ví dụ tầng lớp lao động đang mất việc ở đất nước này mới là vấn đề thực tế và nghiêm trọng, chứ không quan trọng việc người da trắng đang mất dần đặc quyền trước đó – nhưng đó không phải là mấu chốt.

    Đúng hơn là hiện tượng chính trị ngày một trở nên quan trọng mà chúng tôi nhận ra chính là chủ nghĩa dân túy cánh hữu hay tầng lớp lao động theo chủ nghĩa dân túy. Họ dường như khớp với những nghiên cứu về nguyên nhân và bản chất của khuynh hướng chuyên chế, với một sự gần như chính xác đáng kinh ngạc.

    Điều này không phải để bác bỏ mối quan tâm của nhóm lao động người da trắng vì họ có thể bị ảnh hưởng bởi những người có khuynh hướng chuyên chế hoặc qua nền chính trị mang tính chuyên chế. Nhưng là để chúng ta hiểu rõ hơn tại sao việc đó xảy ra – và tại sao nó có tác động sau sắc và cực đoan như vậy lên chính trường Mỹ.

    Phải chăng ngay từ đầu chúng tôi đã hiểu sai về chủ nghĩa bào thủ cực đoan?

    Hầu hết các câu hỏi khác về mối đe dọa xã hội đều theo một mẫu giống nhau. Mặt ngoài, nó có thể cho thấy khuynh hướng chuyên chế chỉ là một đại diện đặc biệt cho biểu hiện cực đoan của của khuynh hướng bảo thủ. Nhưng khi kiểm tra kĩ lưỡng, kiểu mẫu đó lại cho thấy vài điều thú vị hơn về bản chất của khuynh hướng bảo thủ.

    Đối với người theo chủ nghĩa tự do, có thể dễ dàng kết luận là những phản đối đối với hôn nhân đồng tính, nhập cư và sự đa dạng có nguồn gốc từ sự cố chấp chống lại các điều trên. Chính là biểu hiện sự căm ghét đối với người đồng tính, người ngoại quốc và người theo đạo Hồi.

    Nhưng kết quả cuộc thăm dò của Vox/ Morning consult, cùng với các nghiên cứu trước đây về khuynh hướng chuyên chế cho thấy có thể có điều gì khác đang diễn ra.

    Sau cùng, không có lý do đặc biệt nào giải thích tại sao mục tiêu làm cha mẹ có thể trùng khớp với ý định chống lại các nhóm cụ thể gây đe dọa. Chúng tôi không hỏi về liệu việc trẻ con nên tôn trọng người khác chủng tộc hay không, nhưng là hỏi về liệu chúng nên tuân theo quyền hạn và các nguyên tắc chung hay không. Vậy tại sao những mục tiêu nuôi dạy con trẻ lại cực kì ăn khớp?

    Điều có thể thấy từ mặt ngoài như tính cố chấp thực sự rất giống với lý luận về “sự kích hoạt” của Stenner.

    Hetherington đề xuất, nhiều khả năng là những người có khuynh hướng chuyên chế rất dễ bị ảnh hưởng trước thông điệp khiến họ lo sợ một điều nào khác – dù họ có hoặc không có ý định chống lại nó. Nỗi hoảng sợ, vì thế, sẽ thay đổi theo thời gian khi có nhiều sự kiện khiến các các nhóm khác biệt có vẻ đe dọa ít đi hoặc nhiều hơn.

    Ông ấy nói, còn tùy thuộc vào liệu một nhóm người riêng biêt có bị biến thành nhóm người ngoài hay không – liệu họ có bị xem như một một sự nguy hiểm khác.

    Kể từ tháng 9 năm 2001, một số kênh truyền thông và các chính trị gia đã mô tả người Hồi giáo như nhóm người ngoài và gây nguy hiểm cho nước Mỹ. Một cách tự nhiên, những người có khuynh hướng chuyên chế dễ bị tác động bởi những thông tin kia, và vì thế họ có khả năng phản đối sự hiện diện của các giáo đường Hồi giáo trong thành phố của họ.

    Khi nhắc đến nỗi sợ một nhóm người riêng biệt, Hetherington nói: “Thông thường những người có khuynh hướng chuyên chế thấp sẽ nghĩ “tôi không lo lắng về điều đó đến mức như vậy” trong khi những người có khuynh hướng cao sẽ theo kiểu: “lạy chúa! Tôi rất lo về việc đó, vì thế giới này là một nơi nguy hiểm”

    Nói cách khác, những gì có thể thấy được ngoài mặt như là sự cố chấp thật sự rất giống với lý luận về “sự kích hoạt” của Stenner: những người có khuynh hướng chuyên chế thường dễ bị ảnh hưởng bởi thông tin về cách mà “người ngoài” và các biến đổi trong xã hội đe dọa nước Mỹ, và vì thế họ đả kích những nhóm được cho rằng là nguyên nhân của mối lo tại thời điểm hiện giờ.

    Điều này không phải để nghĩ thái độ như vậy ở mức độ nào đó là tốt hơn so với nạn phân biệt chủng tộc hay sự bài ngoại. Tuy nhiên, nó vẫn nguy hiểm và gây hại, đặc biệt nếu tháo độ đó góp phần tăng sức mạnh cho người làm mị dân đáng sợ như Donald Trump.

    Có lẽ, điều này giúp giải thích việc cách những người ủng hộ Trump chấp nhận nhanh chóng các chính sách cực đoan nhắm vào những nhóm người ngoài như: trục xuất hàng triệu người, cấm người Hồi giáo ngoại quốc sang thăm nước Mỹ. Khi bạn nghĩ về những lựu chọn chính sách khi được thực hiện bởi khuynh hướng chuyên chế. Trong các chính sách mà những thay đổi xã hội được nhìn nhận đặc biệt nguy hiểm và dẫn tới sự đòi hỏi các đáp trả cực đoan, thay vì sự xuất hiện bất ngờ của những người cố chấp. Sự ủng hộ dành cho Trump bắt đầu dễ hiểu hơn rất nhiều.

    VIII. Những người có khuynh hướng chuyên chế muốn điều gì?

    Từ những câu hỏi về mục tiêu nuôi dạy con cái, chúng tôi biết được những người có khuynh hướng chuyên chế trong Đảng Cộng Hòa là ai. Từ những câu hỏi về các mối đe dọa và biến đổi trong xã hội, chúng tôi hiểu được điều gì thúc đẩy họ. Nhưng với bộ câu hỏi cuối cùng, về lựa chọn chính sách, có thể là quan trọng nhất trong tất cả: Vậy điều những người có khuynh hướng chuyên chế thực sự muốn là gì?

    Câu trả lời cho các câu hỏi về chính sách cho thấy những người có khuynh hướng chuyên chế thiết lập cho riêng họ những chọn lựu chính sách, khác biệt với Đảng Cộng Hòa chính thống. Trong những cách thực tế và quan trọng, những lựa chọn đó có nghĩa những người có khuynh hướng chuyên chế là nhóm cử tri riêng biệt của riêng họ, tạo thành một đảng chính trị mới hoạt động hiệu quả bên trong Đảng Cộng Hòa .

    Feldman kết luận sau khi xem xét dữ liệu, điều nổi bật từ kết quả của chúng tôi là những người có khuynh hướng chuyên chế “hầu hết sẽ sẵn sàng sử dụng vũ lực để trừng phạt những người nhập cư và hạn chế tự do dân chủ”.

    Ông tin rằng tác động này của khuynh hướng chuyên chế là điểm mấu chốt để phân biệt người ủng hộ Trump với những ai ủng hộ các ứng cử viên Đảng Cộng Hòa khác. “Sẵn sàng dùng sức mạnh từ chính phủ để loại bỏ các mối đe dọa –đây chính là điều rõ nhất trong số những người ủng hộ Trump”

    Chúng tôi tìm ra rằng những người có khuynh hướng chuyên chế nói chung và cử tri ủng hộ Trump nói riêng có nhiều khả năng tán thành năm chính sách sau:

    1. Sử dụng sức mạnh quân sự thay vì ngoại giao để chống lại các quốc gia đe dọa nước Mỹ.
    2. Thay đổi Hiến pháp để ngăn chặn con đường tiến tới quyền công dân của con cái những người nhập cư trái phép.
    3. Áp dụng thêm các nhiều hình thức kiểm tra tại sân bay đối với những hành khách có vẻ là người Trung Đông để kiểm soát khủng bố.
    4. Yêu cầu toàn bộ công dân luôn luôn mang theo thẻ ID để trình cho sĩ quan cảnh sát theo yêu cầu, nhằm kiểm soát khủng bố.
    5. Cho phép chính phủ liên bang quét tất cả các cuộc gọi điện tới bất kì số điện thoại nào liên quan tới khủng bố.

    Điểm chung của các chính sách trên chính là nỗi sợ hãi đến từ bên ngoài như các mối đe dọa về thể chất và xã hội, và hơn cả thế, mong muốn giải quyết các đe dọa kia bằng hành động quyết liệt từ chính phủ - với những chính sách mà không chỉ mang tính chuyên chế về mặt văn phong mà còn thể hiện cả trong thực tế. Theo vài cách, thang đo của các cách đáp trả được mong đợi là cái gần như phân biệt những người có khuynh hướng chuyên chế với số còn lại trong Đảng Cộng Hòa .

    Feldman nói với tôi: “Nhiều người trong Đảng Cộng Hòa có vẻ hoảng sợ trước vấn nạn khủng bổ, bạo lực và đa dạng văn hóa, nhưng đó không phải là điểm nổi bật của những người ủng hộ Trump. “

    Ông nói thêm: “Có vẻ tác động của khuynh hướng chuyên chế là việc sẵn sàng sử dụng sức mạnh từ chính phủ để loại bỏ các mối đe dọa chính là hành động thể hiện rõ rệt nhất trong số những ai ủng hộ Trump.”

    Việc Trump thua cuộc bầu cử này sẽ không loại bỏ được các mối đe dọa và những biến đổi trong xã hội, những thứ kích động tác động của khuynh hướng chuyên chế.


    Điều này giúp giải thích tại sao Đảng Cộng Hòa đã có một thời gian khó khăn khi kết nạp những người ủng hộ Trump. Mặc dù các mối quan tâm chính trị trước mắt của những người đó, như hạn chế người nhập cư và bào vệ an ninh quốc gia thì khớp với tư tưởng đảng chính thống. Sự chia rẽ thực sự nằm trong cách phản ứng của họ sẽ xa đến mức nào. Và giới chóp bu trong đảng thì đơn giản là không muốn kêu gọi sự ủng hộ dành cho những chính sách rõ ràng là chuyên chế như vậy.

    Điều còn thiếu trong mối quan tâm của những người có khuynh hướng chuyên chế cũng rất đáng chú ý. Không có sự tương quan rõ ràng nào giữa khuynh hướng chuyên chế và việc ủng hộ cắt giảm thuế đối với những người có thu nhập nhiều hơn 250.000 đôla một năm. Và tương tự không có mối liên kết nào giữa điều trên về việc tán thành các hiệp định thương mại quốc tế,

    Cả hai đều là những vấn đề liên quan đến chính sách kinh tế của Đảng Cộng Hòa chính thống. Tất cả các nhóm người phản đối việc cắt giảm thuế và ủng hộ các hiệp định thương mại đều không thể hiện điều gì liên quan tới mức độ khuynh hướng chuyên chế. Vậy nên, không hề có sự chia rẽ nào trong những vấn đề này.

    Nhưng còn một yếu tố nữa mà dữ liệu của chúng tôi không thể nắm bắt được tuy nhiên lại quan trọng: phong cách Trump.

    Những chính sách cụ thể của Trump không phải là thứ hầu như tách biệt ông ta khỏi những cử tri còn lại của Đảng Cộng Hòa . Mà đúng hơn chính là phong cách và ngôn từ khoa trương. Cách ông ta tối giản mọi thứ đến thái cực đen và trắng giữa mạnh và yếu, giữa tốt nhất và tệ nhất. Những hứa hẹn đơn giản, thẳng thắn rằng ông ta có thể giải quyết được các vấn đề mà những chính trị gia khác quá kém cỏi để xoay sở.

    Và có thể điều quan trọng nhất là Trump sẵn sàng coi thường các quy ước ngôn từ khi nói đến các nhóm thiểu số mà người có khuynh hướng chuyên chế cảm thấy bị đe dọa. Đó là lý do tại sao sự hăng hái của Trump là một lợi ích hơn là một trách nhiệm cho Trump khi ông ta phát biểu rằng người Mê xi cô là những kẻ hiếp dâm hay nói một cách hân hoan về cuộc tàn sát người Hồi giáo bằng đạn từ máu của con lợn nhiễm độc: Trump đang gởi một tín hiệu tới những người ủng hộ theo khuynh hướng chuyên chế rằng ông ta sẽ không để “nền chính trị đúng đắn” kiềm chân khỏi việc tấn công những nhóm người ngoài khiến cử tri ủng hộ ông sợ hãi.

    Feldman đã giải thích với tôi ông ta là “một kiểu lãnh đạo cổ điển mang khuynh hướng chuyên chế: đơn giản, mạnh bạo và ưu trừng phạt”.

    IX. Làm thế nào những người có khuynh hướng chuyên chế thay đổi Đảng Cộng Hòa và cả chính trường Mỹ

    Trước sự ngạc nhiên của tôi, kết luận thuyết phục nhất từ dữ liệu từ cuộc thăm dò không phải chỉ về Trump.

    Thay vào đó, chính là những người có khuynh hướng chuyên chế như một sự hiện diện đang lớn mạnh trong Đảng Cộng Hòa. Họ là một nhóm cử tri tồn tại độc lập khỏi Trump – và sẽ duy trì như một ảnh hưởng trong chính trường Mỹ bất kể số phận ứng cử của Trump ra sao.

    Viêc Trump thua trong cuộc bầu cử lần nàysẽ không loại bỏ được các mối đe dọa và những thay đổi trong xã hội đã tạo, thứ kích động tác động của khuynh hướng chuyên chế. Những người theo khuynh hướng chuyên chế vẫn ở đó. Và họ vẫn sẽ tìm kiếm những ứng cử viên có thể cho họ thấy khả năng lãnh đạo mạnh mẽ và ưu trừng phạt, điều họ khao khát.

    Và có nghĩa Donald Trump có thể chỉ là một trong số nhiều Donald Trump khác trong chính trường Mỹ, và có nhiều tiềm ẩn nhiều tác động sắc đối với đất nước.

    Điều đó cũng đồng nghĩa nhiều vấn đề hơn cho Đảng Cộng Hòa . Cuộc bầu cử này đã cho thấy giới chóp bu trong đảng căm ghét Trump và những gì ông ta đại diện – chính sách mị dân phô trương, sự coi thường giá trị kinh tế bảo thủ cốt lõi và sự chia rẽ của ông ta.

    Bây giờ chúng ta có thể có một hệ thống ba đảng chính trị: Đảng Dân chủ, Đảng Cộng Hòa và những người có khuynh hướng chuyên chế trong Đảng Cộng Hòa.


    Nhưng trong khi Đảng Cộng Hòa có thể dùng lời lẽ hùng hồn như Trump thì các ứng cử viên trong đảng miễn cưỡng nắm lấy một số chính sách cay nghiệt của ông ta đối với vấn đề người nhập cư hay người Hồi giáo. Kết quả là một đảng chính trị chủ đạo không thể hoàn toàn thực hiện hành động mang tính độc tài hà khắc như cách Trump có thể.

    Đó sẽ là vấn đề dành cho Đảng Cộng Hòa. Chỉ cần nhìn vào nơi mà Tea Party đã rời khỏi giới Đảng Cộng Hòa chính thống. Tea Party đã chuyển Hạ nghị viện cho Đảng Cộng Hòa vào năm 2010, nhưng cuối cùng rời khỏi Đảng trong cuộc nội chiến chưa được giải quyết. Ứng viên của Tea Party đã thách thức những người ôn hòa và trung lập, khiến cho các cuộc học kín trong Đảng Cộng Hòa trở nên chia rẽ và hỗn loạn.

    Bây giờ một sự chia rẽ tương tự đang diễn ra ở mức độ tranh cử tổng thống, với kết quả thậm chí còn mang tính hủy hoại hơn cho Đảng Cộng Hòa. Những người có khuynh hướng chuyên chế có thể chiếm đa số không đáng kể trong Đảng Cộng Hòa, và do đó mong muốn của họ có thể gây ảnh hưởng tới đảng. Tuy nhiên ở phạm vi bầu cử quốc gia họ quá ít và có tư tưởng không được đề cao để có thể chiến thắng được.

    Và do đó, sự trỗi dậy của khuynh hướng chuyên chế như một tác động mạnh mẽ lên chính trường Mỹ. Điều này có nghĩa hiện giờ chúng ta có thể có một hệ thống ba đảng chính trị: Đảng Dân chủ, Đảng Cộng Hòa chính thống và những người có khuynh hướng chuyên chế trong Đảng Cộng Hòa .

    Và mặc dù hai nhóm sau hiện đang bị ràng buộc vào một liên minh phức tạp, Đảng Cộng Hòa chính thống đã chứng minh sự bất lực hoàn toàn của họ trong việc lấy lại quyền kiểm soát những kẻ phản bội mang khuynh hướng chuyên chế và những người này đang tích cực chống đối các mục tiêu ôn hòa chính thống và không quan tâm đến cương lĩnh kinh tế của Đảng.

    Qua thời gian, điều này sẽ để lại những hệ quả chính trị quan trọng cho Đảng Cộng Hòa . Các ứng cử viên của Đảng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để giành chiến thắng cuộc bầu cử tổng thống. Vì những ai có thể thắng trong lần đề cử bằng cách kêu gọi cử tri có khuynh hướng chuyên chế ở lần bỏ phiếu sơ bộ thì họ sẽ phải gắng sức để giành được các cử tri chủ chốt trong lần bỏ phiếu quốc gia. Họ sẽ gặp ít rắc rối hơn ở các cuộc bỏ phiếu địa phương và quốc hội, nhưng điều đó có chỉ có nghĩa có nhiều rào cản mang tính lập pháp khi các cuộc họp kín của Đảng Cộng Hòa nỗ lực cân bằng giữa yêu cầu của các nhà lập pháp chính thống và những người theo khuynh hướng chuyên chế. Những người này sẽ lôi kéo đảng đứng về phía các vấn đề biến đổi xã hội, và đồng thời xóa dần sự ủng hộ các chính sách kinh tế truyền thống bảo thủ.

    Và cùng lúc đó, các ảnh hưởng mà kích hoạt người Mỹ có khuynh hướng chuyên chế dường như chỉ có khả năng phát triển mạnh mẽ hơn. Những quy chuẩn về giới tính, tình dục và chủng tộc sẽ tiếp tục biến chuyển. Các phong trào như Black Lives Matter sẽ tiếp tục phá hoại di sản đất nước bằng sự phân biệt đối xử theo thể chế, theo đuổi các kiểu biến đổi xã hội và tái sắp xếp trật tự xã hội. Đó là những điều mà những người có khuynh hướng chuyên chế cảm thấy đáng sợ.

    Sự hỗn loạn ở Trung Đông, nơi cho phép những phần từ như ISIS lớn mạnh và gởi hàng triệu người tị nạn tràn sang các nước khác, không hề có dấu hiệu cải thiện. Về lâu dài, nếu chiều hướng nhân khẩu học hiện tại tiếp diễn, người Mỹ da trắng sẽ mất đi vị trí đa số trong những thập kỉ tới.

    Về dài lâu, điều đó có thể có nghĩa Đảng Cộng Hòa thậm chí trở nên cứng rắn hơn với vấn đề người nhập cư và lập ra chính sách và thẳng thắn hơn về nỗi sợ người Hồi giáo và những nhóm thiểu số khác, nhưng cũng mềm mỏng hơn với các vấn đề chính trị truyền thống như cắt giảm thuế. Chính là một Đảng Cộng Hòa tiếp tục thực hiện tốt trong các cuộc bỏ phiếu địa phương và quốc hội, nhưng những chia rẽ của họ sẽ khiến các cuộc họp kín phân hóa đến mức ngừng hoạt động và có thể dần dần không còn khả năng giành chiến thắng vào Nhà Trắng.

    Trong nhiều thập kỉ qua, Đảng Cộng Hòa đã giành được ủng hộ từ những người theo khuynh hướng chuyên chế bằng cách ngầm đưa ra hứa hẹn sẽ trụ vững trước những xu hướng biến đổi trong xã hội và họ là một đảng của sức mạnh và quyền lực thay vì của đàm phán và thỏa hiệp. Nhưng bây giờ Đảng Cộng Hòa có thể đang phát hiện ra rằng chiến lược của họ đã có hiệu quả tốt quá mức – và đe dọa sẽ gây nên những bất đồng nghiêm trọng trong đảng.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi