Sự trỗi dậy của khuynh hướng chuyên chế ở Hoa Kỳ (1)

  • Bởi Admin
    31/05/2016
    3 phản hồi

    Amanda Taub
    Phạm Yến Nhi chuyển ngữ

    Một nhóm nhỏ các nhà khoa học chính trị có thể đã giải mã được hiện tượng Donald Trump. Điều họ khám phá có ý nghĩa vượt ra ngoài cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016.

    Nội dung

    I. Khuynh hướng chuyên chế ở Mỹ là gì?
    II. Sự khám phá
    III. Khuynh hướng chuyên chế hoạt động như thế nào
    IV. Khuynh hướng chuyên chế có thể giải thích điều gì
    V. Đảng của những kẻ độc tài
    VI. Donald Trump, kẻ độc tài và nỗi sợ hãi
    VII. Sự thay đổi trong bối cảnh xã hội Mỹ
    VIII. Những kẻ độc tài kia muốn điều gì
    IX. Làm thế nào những kẻ độc tài thay đổi nền chính trị Mỹ

    Một năm qua, truyền thông Mỹ đang cố gắng giải mã một bí ẩn: vì sao các cử tri của Đảng Cộng Hòa lại đang ủng hộ một người theo chủ nghĩa dân túy cực hữu, chưa từng có kinh nghiệm chính trường thực sự, và họ tán thành những quan điểm cực đoan và kì quái của ông ta? Làm cách nào mà Donald Trump lại bất ngờ được cử tri yêu thích đến thế?

    Điều khiến sự trỗi dậy của Trump thậm chí khó hiểu hơn chính là sự ủng hộ ông ta có vẻ đến từ nhiều nhóm người dân - vượt qua ranh giới nhân khẩu học như giáo dục, thu nhập, tuổi tác, thậm chí cả tôn giáo – vốn thường ngăn cách các nhóm cử tri ủng hộ các ứng cử viên khác nhau. Và trái với hầu hết các ứng viên Đảng Cộng Hòa có thể thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ từ chỉ một mảng trong số cử tri của đảng, ví dụ người theo đạo Tin Lành miền Nam hay người ôn hòa vùng ven biển thì Trump hiện đang làm tốt một cách đáng ngạc nhiên từ vùng vịnh Florida tới vùng ngoại ô thành phố New York, và ông ta đã giành chiến thắng vang dội trong cuộc họp kín tại bang Nevada.

    Điều kì lạ nhất có lẽ là, không chỉ Trump mà cả những người ủng hộ ông ta bất ngờ xuất hiện, và bất ngờ thể hiện – với số lượng lớn – những quan điểm cực đoan hơn nhiều so với những tư tưởng thu hút được sự ủng hộ tương tự trong lịch sử cận đại. Ở bang South Carolina, một cuộc thăm dò khi rời phòng bỏ phiếu của hãng tin CBS đã cho thấy 75 phần trăm cử tri Đảng Cộng Hòa ủng hộ việc cấm người Hồi giáo vào nước Mỹ. Theo cuộc thăm dò về các chính sách công cho thấy một phần ba người ủng hộ Trump tán thành việc cấm người đồng tính nam-nữ vào nước Mỹ. Và 20 phần trăm nói rằng cựu tổng thống Lincoln đã không nên giải phóng nô lệ.

    Tháng Chín năm trước, Matthew MacWilliams, một nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Trường Đại học Massachusetts Amherst nhận ra rằng bài nghiên cứu luận văn của anh có thể nắm giữ câu trả lời cho không chỉ một mà là ba điều bí ẩn trên.

    MacWilliams đang nghiên cứu về khuynh hướng chuyên chế - đó không phải những nhà độc tài thực sự, mà đúng hơn là tâm lý của từng cá nhân cử tri được mô tả bởi đặc điểm ham muốn trật tự và nỗi lo sợ những “người ngoài”. Những người có khuynh hướng chuyên chế khi cảm thấy bị đe dọa sẽ tìm kiếm những vị lãnh đạo “bạo chúa”, người hứa sẽ thực hiện bất kì hành động cần thiết nào để bảo vệ họ khỏi những “người ngoài” và ngăn chặn những thay đổi mà họ lo sợ.

    Vì thế, một cách tự nhiên, MacWilliams tự hỏi rằng liệu khuynh hướng chuyên chế có thể có tương đồng với sự ủng hộ Trump hay không.

    Anh thực hiện thăm dò trên một số lượng lớn cử tri, rồi tìm kiếm những tương đồng giữa việc ủng hộ Trump với các quan điểm mang khuynh hướng chuyên chế. Điều mà anh ấy khám phá ra rất bất ngờ: không những khuynh hướng chuyên chế có sự tương đồng, mà thước đo này còn có thể dự đoán được sự ủng hộ dành cho Trump một cách chính xác hơn bất kì thước đo nào khác. Về sau MacWilliams làm cuộc thăm dò tương tự với cuộc bỏ phiếu tại bang South Carolina, không lâu trước khi cuộc bầu cử sơ bộ diễn ra ở đó, và đã thu được cùng kết quả, và kết quả này anh đã đăng trên Vox:


    Cử tri mang khuynh hướng chuyên chế ở South Carolina có xu hướng ủng hộ Donald Trump.

    Hóa ra, MacWilliams không phải là người duy nhất nhận ra điều này. Cách đó rất xa, trong một văn phòng tại Đại học Vanderbilt, giáo sư Marc Hetherington cũng đang trải qua khoảnh khắc bất ngờ. Ông nhận ra mình và người cộng sự - nhà khoa học chính trị Jonathan Weiler, Đại học North Carolina, về cơ bản đã dự đoán được sự trỗi dậy của Trump ngay từ năm 2009, khi họ khám phá một vài điều hóa ra quan trọng hơn nhiều những gì mà họ đã nghĩ.

    Năm đó, Hetherington và Weiler xuất bản một cuốn sách về tác động của khuynh hướng chuyên chế lên chính trị Mỹ. Qua một loạt các thử nghiệm và phân tích dữ liệu cẩn thận, họ đã rút ra kết luận bất ngờ: phần lớn sự phân cực chia rẽ chính trường Mỹ được thúc đẩy không chỉ bởi gian lận hoặc tiền bạc trong hoạt động chính trị hoặc những yếu tố khác thường được nhắc tới, mà còn bởi một nhóm các cử tri không được chú ý đến, nhưng rất đông đảo: những người có khuynh hướng chuyên chế.

    Cuốn sách của họ kết luận rằng, Đảng Cộng Hòa - bằng cách tự xác định vị trí của mình là Đảng của những giá trị truyền thống, luật pháp và trật tự - đã vô tình thu hút đông đảo những người từng ủng hộ hai đảng đồng thời có khuynh hướng chuyên chế.

    Xu hướng này ngày càng phát triển nhanh trong những năm gần đây vì những thay đổi trong kinh tế và đặc điểm nhân khẩu học. Ví dụ, vấn đề nhập cư đã “kích hoạt” khuynh hướng chuyên chế, khiến nhiều người Mỹ tìm kiếm một vị lãnh đạo “bạo chúa”, người sẽ giữ nguyên hiện trạng mà cử tri cảm thấy đang bị đe dọa và áp đặt trật từ lên thế giới mà theo họ là ngày càng xa lạ.

    Ông Trump hiện thân cho kiểu nhà lãnh đạo chuyên chế cổ điển: đơn giản, mạnh bạo và sẵn sàng trừng phạt.


    Những người Mỹ với quan điểm chuyên chế này đang đổ dồn về Đảng Cộng Hòa dẫn tới sự phân cực trong chính trường Mỹ. Nhưng họ cũng tạo nên sự phân hóa ngay bên trong Đảng Cộng Hòa ở mức độ tiềm tàng, giữa những cử tri Cộng Hòa truyền thống và nhóm người có khuynh hướng chuyên chế với quan điểm vừa ít chính thống và thường cực đoan hơn.

    Hai vị giáo sư đã dự đoán việc đổ về phía Đảng Cộng Hòa như vậy theo thời gian sẽ ngày càng rõ rệt. Và kết quả không tránh khỏi đó là những người theo khuynh hướng chuyên chế sẽ có đủ sức mạnh để khiến họ được chú ý trong đảng Cộng Hòa.

    Tại thời điểm đó, ngay cả Hetherington và Weiler cũng không nhận ra rằng nghiên cứu của họ có ngụ ý to lớn thế nào: nếu lý luận của họ đúng hoàn toàn thì nó đã dự đoán sự chuyển mình nhanh chóng và đáng lo ngại của chính trường Mỹ. Nhưng giờ đây nhìn lại, các kết quả nghiên cứu của họ có vẻ thực tế một cách đáng lo ngại.

    Những người có khuynh hướng chuyên chế được cho rằng đang thể hiện sự sợ hãi nhiều hơn toàn bộ số cử tri còn lại, tìm cách áp đặt trật tự ở nơi họ nghĩ có thay đổi nguy hiểm và họ khao khát một nhà lãnh đạo bạo chúa sẽ dẹp bỏ những nỗi sợ kia bằng quyền uy. Do đó, nhóm người này sẽ tìm một ứng cử viên hứa hẹn làm những việc như thế. Và bản chất nỗi sợ cực đoan của những người mang khuynh hướng chuyên chế và mong muốn thách thức sự đe dọa bằng quyền lực sẽ dẫn dắt họ tới một ứng viên có tính khí hoàn toàn lạ lẫm trong chính trị Mỹ - và người đưa ra những chính sách vượt xa những quy tắc đạo đức được chấp nhận.

    Một ứng cử viên như Donald Trump.


    Scott Olson/Getty Images.

    Thậm chí Hetherington bị sốc khi phát hiện ra tính chính xác trong lý luận của ông và Weiler. Đầu mùa thu năm 2015, khi sự nổi lên của Trump làm lạc hướng hầu hết giới báo chí và nhà khoa học chính trị thì Hetherington đã gọi cho Weiler. Ông hỏi đi hỏi lại: “Ông có thể tin được điều này không? Ông có thể tin được điều này chứ?”

    Vào mùa đông vừa rồi, tôi liên lạc với Hetherington, Macwilliams và nhiều nhà khoa học chính trị khác nghiên cứu về khuynh hướng chuyên chế. Tôi muốn hiểu rõ hơn lý thuyết có vẻ đã dự báo chính xác đến mức kì quái về hiện tượng Donald Trump. Và cũng như họ, tôi muốn tìm hiểu sự trỗi dậy của nền chính trị mang tính chuyên chế có ý nghĩa gì đối với chính trường Mỹ. Liệu Trump chỉ là khởi đầu cho điều gì đó to lớn hơn?

    Tại thời điểm đó, những nhà khoa học chính trị mà tôi liên lạc đang bắt đầu vật lộn chung một câu hỏi. Chúng tôi đồng ý rằng có điều gì đó quan trọng đang diễn ra – và mới chỉ bắt đầu được hiểu.

    Donald Trump có thể chỉ là người đầu tiên trong số những “Donald Trump” khác trong chính trường Mỹ


    Ít lâu sau cuộc họp kín của Đảng Cộng Hòa tại bang Lowa (Trump về nhì trong cuộc bỏ phiếu ở đây), Vox đã phối hợp với Công ty truyền thông và thăm dò ý kiến Morning Consult có trụ sở ở Washington để tìm hiểu các nhóm người Mỹ theo khuynh hướng chuyên chế về một loạt các quan điểm chính trị và xã hội – và cũng để kiểm chứng một vài giả thuyết chúng tôi có được sau cuộc trao đổi với nhà khoa học chính trị đứng đầu ngành.

    Chúng tôi phát hiện ra một hiện tượng giải thích một cách đặc biệt rõ ràng sự trỗi dậy của Donald Trump. Nhưng bản thân hiện tượng đó quan trọng hơn cả ông ta, làm sáng tỏ một số câu chuyện chính trị lớn nhất trong một thập kỉ qua. Hóa ra, Trump chỉ là một dấu hiệu. Sự lớn mạnh của khuynh hướng chuyên chế ở Mỹ đang biến đổi Đảng Cộng Hòa và những động lực phía sau nền chính trị quốc gia với những hệ quả sâu sắc chắc chắn sẽ có ảnh hưởng vượt ngoài tầm cuộc bầu cử lần này.

    I. Khuynh hướng chuyên chế Mỹ là gì?


    Andrew Renneisen/Getty Images

    Từ nhiều năm nay, trước khi có bất kì ai nghĩ rằng một người như Donald Trump có khả năng dẫn đầu cuộc tranh cử tổng thống sơ bộ, một nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu được trọng vọng đã lao tâm khổ tứ xung quanh một câu hỏi, nửa là khoa học chính trị và nửa kia liên quan tới tâm lý học, vốn đã ám ảnh các nhà khoa học chính trị từ sự nổi dậy của chủ nghĩa quốc xã.

    Làm thế nào người dân, với một số lượng đông đảo và phát triển nhanh chóng, lại ủng hộ những quan điểm chính trị cực đoan có xu hướng gắn liền với nỗi sợ các nhóm thiểu số và mong muốn một vị lãnh đạo “bạo chúa”?

    Để trả lời câu hỏi này, các nhà nghiên cứu trên tìm hiểu về cái họ gọi là khuynh hướng chuyên chế: không phải bản thân là các nhà độc tài mà chính tâm lý của người dân mà trong hoàn cảnh thích hợp nhất định sẽ đòi hỏi một số chính sách cực đoan và tìm kiếm người lãnh đạo “bạo chúa” để thi hành chúng.

    Hiện tượng chính trị mà chúng tôi xác định là chủ nghĩa dân túy cánh hữu dường như tương ứng một cách chính xác đáng ngạc nhiên với nghiên cứu về nguyên nhân và bản chất của khuynh hướng chuyên chế.


    Sau thời kì sai lầm gần đây của khoa học vào giữa thế kỉ 20, một nhóm các học giả nghiêm túc bao gồm những nhà nghiên cứu như Hetherington and Weiler, Stanley Feldman, Karen Stenner, and Elizabeth Suhay, và một số khác nữa đề cập tới câu hỏi trên và nghiên cứu cụ thể cách khuynh hướng chuyên chế hoạt động trên chính trường Mỹ.

    Sau bước đột phá vào đầu những năm 90, lĩnh vực nghiên cứu này đã hình thành một học thuyết tổng quát về khuynh hướng chuyên chế. Kết tinh của học thuyết này cuốn sách kinh điển của Stenner – The Authoritarian Dynamic (tạm dịch: Động lực chuyên chế), xuất bản năm 2005. Vừa đúng lúc lý luận đó dường như trở thành hiện thực một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn bất kì điều gì với một Donald Trump và sự trỗi dậy vượt ngoài tưởng tượng của ông ta.

    Theo lý luận của Stenner, có một nhóm những người nhất định ngầm mang khuynh hướng chuyên chế. Xu hướng này có thể được đánh thức hoặc “kích hoạt” bởi sự nhận thức các mối đe dọa về thể chất hoặc do những thay đổi làm xã hội mất ổn định, dẫn tới những cá nhân đó đòi hỏi các chính sách và nhà lãnh đạo – mà theo thông tục gọi là những nhà độc tài.

    Giáo sư Jonathan Haidt của NYU đã viết: một nút khẩn cấp đã được bấm, trên đó viết “[hãy bấm] trong trường hợp giá trị đạo đức bị đe dọa, hãy đóng cửa biên giới, tống cổ những kẻ khác biệt và trừng phạt kẻ có hành vi đạo đức sai lệch”.

    Khuynh hướng chuyên chế là thành tố thực sự tồn tại độc lập với Trump – và sẽ tiếp tục tồn tại như một thế lực trong chính trường Mỹ.


    Những người có khuynh hướng chuyên chế coi trọng tôn ti và trật tự trong xã hội, điều đem lại cảm giác kiểm soát trong một thế giới hỗn loạn. Bất kì thách thức nào đối với trật tự đó – như sự đa dạng (chủng tộc), dòng “người ngoài”: tràn vào và việc phá vỡ trật tự lâu đời- được nhóm người này nhìn nhận như những mối đe dọa bản thân họ vì các thách thức kia có nguy cơ đảo ngược hiện trạng họ được cho là an toàn.

    Cuối cùng, đây là thời điểm cho các biến chuyển trong xã hội Mỹ. Đất nước ngày càng trở nên đa dạng chủng tộc hơn khi có nghĩa nhiều người Mỹ da trắng đang đương đầu với vấn đề chủng tộc theo cách mà họ chưa bao giờ làm trước đây. Những biến đổi đó đã diễn ra trong một thời gian dài, nhưng chỉ nhiều năm gần đây, chúng trở nên rõ ràng và khó có thể phớt lờ. Và những biến đổi đó đang xảy ra đồng thời với xu hướng kinh tế đã chèn ép các nhóm dân lao động người da trắng.

    Khi những người có khuynh hướng chuyên chế đối mặt với mối đe dọa thể chất hoặc tới hiện trạng của mình thì họ sẽ ủng hộ các chính sách có vẻ sẽ bảo vệ họ khỏi những nỗi sợ đó. Những người này thích hành động mạnh bạo và quyết đoán chống lại những thứ họ cho là mối đe dọa. Và rồi họ tập trung theo những lãnh đạo người họ tin tưởng sẽ thực hiện hành động như vậy.

    Nếu bạn đã đọc tất cả nghiên cứu của những nhà lý luận trên từng viết về những người có khuynh hướng chuyên chế rồi thử hình dung ra một ứng cử viên phù hợp với tiên đoán của các nhà nghiên cứu là thu hút những cử tri có khuynh hướng chuyên chế, thì kết quả có vẻ sẽ rất giống Donald Trump.

    Nhưng các nhà khoa học chính trị cho rằng lý luận này giải thích một thứ còn lớn hơn hiện tượng Donald Trump. Ông ta chỉ là một phần trong những xu hướng lớn trên chính trường Mỹ, đó là: hiện tượng phân hóa chính trị, chuyển động hữu khuynh trong Đảng cộng hòa, và sự nổi dậy của một nhóm chống đối trong đảng này. Họ gồm những người thách thức Đảng Cộng Hòa chính thống và làm đảo lộn chính trường Mỹ.

    Hơn thế nữa, khuynh hướng chuyên chế còn tiết lộ mối liên kết giữa nhiều câu chuyện tưởng chừng không hề liên quan tới nhau trong chính trị Mỹ. Và chủ nghĩa này đưa ra giả thuyết là sự kết hợp các tác động của nhân khẩu học, kinh tế và chính trị đã đánh thức một nhóm cử tri mang tư tưởng độc tài - những người tập hợp lại quanh Trump, về bản chất tạo ra một đảng phái chính trị mới trong lòng Đảng Cộng hòa. Hiện tượng này trở nên rõ ràng với công chúng trong cuộc bầu cử năm 2016 và sẽ dai dẳng một thời gian dài sau khi nó kết thúc.

    II. Sự khám phá

    Làm cách nào một lĩnh vực phụ trong ngành khoa học chính trị đột nhiên trở thành một số trong các nghiên cứu có liên quan nhất tới chính trường Mỹ


    Ảnh: Huy hiệu ủng hộ Trump trong ngày diễn ra cuộc bầu cử tại bang Iowa năm 2016

    Các nghiên cứu về khuynh hướng chuyên chế bắt đầu không lâu sau Thế chiến thứ II, khi các nhà khoa học chính trị và tâm lý học ở Mỹ và Châu Âu cố gắng tìm hiểu cách mà Phát xít đã có thể giành được sự ủng hộ trên qui mô lớn với hệ tư tưởng cực đoan và đầy căm thù như thế.

    Đây là một nhánh nghiên cứu đáng chú ý, nhưng công trình ban đầu đó không đạt được các tiêu chuẩn khắc khe hiện tại. Lý thuyết gia Theodor Adorno đã phát triển “thang đo F” là một ví dụ nhắm tới đánh giá xu hướng phát xít. Thử nghiệm này đã không chính xác. Những người khôn ngoan trả lời câu hỏi có thể nhanh chóng phát hiện đáp án “đúng” và quy luật của bài kiểm tra. Và không có bằng chứng cho thấy kiểu tính cách khi được đánh giá theo “thang đo F” thực sự ủng hộ chủ nghĩa phát-xít.

    Hơn thế nữa, nghiên cứu ban đầu này có vẻ đã giả định rằng có một nhóm những người nhất định vốn đã độc ác và nguy hiểm – ý kiến này theo Hetherington và Weiler là quá đơn giản và sai trái, và hai ông tránh đặt giả thuyết này vào nghiên cứu của mình. (Họ thừa nhận tên gọi “những người có khuynh hướng chuyên chế” tự nó cũng không ổn thỏa, nhưng họ đã không thể thay từ đó bằng một thuật ngữ nghe xuôi tai hơn.)

    Nếu sự trỗi dậy của khuynh hướng chuyên chế Mỹ mạnh đến mức đẩy ông Trump tiến xa đến thế thì nó có thể tác động lên chính trị Mỹ thế nào?


    Nhưng vấn đề thực sự đối với các nhà nghiên cứu là thậm chí nếu có một thứ như là trạng thái tâm lý của những người mang khuynh hướng chuyên chế thì làm thế nào đánh giá được nó? Làm thế nào họ phát hiện khuynh hướng độc đoán mà đôi khi ở mức tiềm tàng? Và làm cách nào họ có được câu trả lời thành thật cho những câu hỏi nghiên cứu có thể nhạy cảm và mang tính chí trị cao?

    Hetherington đã giải thích với tôi là: “Có một vài điều nhất định anh không thể chỉ hỏi một cách trực tiếp. Anh không thể hỏi là ‘Bạn có thích người da đen hay không?’ Anh không thể hỏi người ta “liệu anh có phải là người có niềm tin mù quáng hay không”

    Suốt một thời gian dài, không một ai có đề xuất gì cho những vấn đề trên, và lĩnh vực nghiên cứu này rơi vào bế tắc.

    Sau đó vào đầu những năm 90, một nhà khoa học chính trị tên Stanley Feldman đã thay đổi mọi thứ. Feldman, giáo sư tại SUNY Sronybrook, tin rằng khuynh hướng chuyên chế có thể là một nhân tố quan trọng trong chính trị Mỹ theo nhiều cách mà không hề liên quan gì tới chủ nghĩa phát xít. Ông cũng cho rằng khuynh hướng chuyên chế có thể chỉ được đánh giá một cách chắc chắn bằng việc tháo gỡ khỏi một số khuynh hướng chính trị cụ thể.

    Feldman nhận ra nếu khuynh hướng chuyên chế là một khuynh hướng tâm lý, thay vì là khuynh hướng chính trị thì ông ấy có thể được câu trả lời để hé lộ những khuynh hướng kia bằng các câu hỏi về chủ đề có vẻ ít gây tranh cãi hơn. Cuối cùng ông dựa trên một vài đề tài có vẻ rất bình thường đến nực cười: mục tiêu nuôi dạy con cái của bậc cha mẹ.

    Feldman đã xây dựng một bảng đánh giá rõ ràng khuynh hướng chuyên chế đã được chấp nhận rộng rãi đến giờ: bốn câu hỏi đơn giản về việc giáo dục con cái nhưng trên thực tế chúng được thiết kế để hé lộ mức độ mà những người làm khảo sát coi trọng tính tôn ti, trật tự và tuân theo đám đông cao hơn những giá trị khác như thế nào.

    1. Làm ơn cho biết, theo bạn, đối với một đứa trẻ thì điều nào quan trọng hơn: sự tự lập hay lòng tôn trọng người lớn tuổi?
    2. Làm ơn cho biết, theo bạn, đối với một đứa trẻ thì điều nào quan trọng hơn: tính vâng lời hay sự tự chủ?
    3. Làm ơn cho biết, theo bạn, đối với một đứa trẻ thì điều nào quan trọng hơn: sự quan tâm hay sự ngoan ngoãn?
    4. Làm ơn cho biết, theo bạn đối với một đứa trẻ thì điều nào quan trọng hơn: tính tò mò hay cách cư xử chừng mực?

    Bài kiểm tra của Feldman chứng tỏ một sự đáng tin cậy. Giờ đây các nhà nghiên cứu đã có được cách để xác định người nào có khuynh hướng độc tài với tính đề cao thứ tự và sự tuân thủ và khao khát áp đặt những điều đó.

    Năm 1992, Feldman đã thuyết phục Dự án Nghiên cứu bầu cử quốc gia, một dự án lớn nghiên cứu cử tri Mỹ trong từng năm bầu cử, sử dụng những câu hỏi của ông về khuynh hướng chuyên chế. Từ đó, các nhà nghiên cứu chính trị nghiên cứu chủ nghĩa này tích lũy được một lượng phong phú dữ liệu về các cử tri thể hiện khuynh hướng chuyên chế và cách họ tương ứng với mọi đặc điểm từ mô tả nhân khẩu học cho tới những khuynh hướng chính sách của họ.

    Điều các nhà khoa học tìm ra không thể làm ngơ được– và đó là chỉ là bước đầu để định hình lại những hiểu biết về toàn bộ giới cử tri Mỹ.

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Trích dẫn:
    Dalai Lama cho rằng có quá nhiều tị nạn ở châu Âu . ... Đức phải là Đức chứ không thể trở thành một nước Ả Rập.
    Ở các nước châu Âu khác, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy cánh hữu, ngày càng mạnh mẽ hơn.

    Các chính trị gia cần phải hiểu và biết cách giải quyết nguyện vọng của những công dân đang sinh sống trong nước, tránh mù quáng cho di dân nhập cư bừa bãi và đưa đến cực đoan của chủ nghĩa dân túy cánh hữu
    - See more at: https://www.danluan.org/tin-tuc/20160531/su-troi-day-cua-khuynh-huong-chuyen-che-o-hoa-ky-1#sthash.f1QkyWzm.dpuf

    Tôi không biết tình hình di dân ở âu châu như thế nào, nhưng vấn đề ở Mỹ có thể rất khác Châu Âu vì di dân vốn là một phần rất quan trọng trong lịch sử cũng như đời sống kinh tế của Hoa Kỳ. Có một điều đáng chú ý là di dân từ 1965 trở về sau rất khác với các đợt di dân trước đây. Trong khi đa số những người di dân trước 1965 là từ Âu châu, đa số di dân sau 1965 là từ châu Á, Mexico và các nước Nam và Trung Mỹ (không phải dân da trắng). Điều đó đưa đến khuynh hướng sợ người lạ (xenophobia), ngoài chuyện sợ mất quyền lợi, nơi một số người có quan điểm nativism.

    Theo các nhà xã hội học, khuynh hướng bảo thủ bắt đầu trổi dậy từ thập kỷ 1970s. Ngoài hình ảnh khác biệt của những người di dân sau 1965, một số quan điểm xã hội học cho rằng một trong những lý do đưa đến khuynh hướng bảo thủ là phản ứng đối với việc sự gia tặng nhân quyền và dân quyền cũng như vị trí xã hội của người da đen. Một lý do nữa là các chính sách công nghiêng về phía hữu (từ phúc lợi xã hội cho đến hình sự tư pháp), cũng như sự đóng góp của truyền thông vào việc cổ suý cho khuynh hướng bảo thủ.

    Dalai Lama cho rằng có quá nhiều tị nạn ở châu Âu . ... Đức phải là Đức chứ không thể trở thành một nước Ả Rập.
    Ở các nước châu Âu khác, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy cánh hữu, ngày càng mạnh mẽ hơn.

    Các chính trị gia cần phải hiểu và biết cách giải quyết nguyện vọng của những công dân đang sinh sống trong nước, tránh mù quáng cho di dân nhập cư bừa bãi và đưa đến cực đoan của chủ nghĩa dân túy cánh hữu

    http://www.lefigaro.fr/flash-actu/2016/05/31/97001-20160531FILWWW00141-le-dalai-lama-juge-qu-il-y-a-trop-de-refugies-en-europe.php

    "Quand nous regardons le visage de chaque réfugié, surtout ceux des enfants et des femmes, nous ressentons leur souffrance et un être humain qui a de meilleures conditions de vie a la responsabilité de les aider. Mais d'un autre côté, il y en a trop à présent" en Europe, a déclaré le chef spirituel des Tibétains au quotidien Frankfurter Allgemeine Zeitung. "L'Europe, l'Allemagne en particulier, ne peut devenir un pays arabe, l'Allemagne est l'Allemagne", a-t-il ajouté, en référence au fait qu'une majorité des migrants vient de pays arabes comme la Syrie ou l'Irak.

    Nếu ông Trump trở thành TT Mỹ, sẽ có nhiều thay đổi trong chính sách đối ngoại với BTT của gia đình Kim. Ông Trump muốn đối thoại với Kim Jong Un.
    Trump, Kim, Tập, ... đều là những người thích cực đoan (hữu, tả), đo đó họ dễ dàng đến gần nhau, cho đến khi nào quyền lợi bị va chạm, có lẽ giống như Hitler và Stalin đã từng bắt tay nhau trong giai đoạn đầu