Niềm Tin Như Là Giá Trị Nền Tảng

  • Bởi Hồ Gươm
    15/04/2016
    4 phản hồi

    Vương Văn Quang

    Cái gì khiến chúng ta khác với các loài động vật? Câu trả lời là khả năng tự hoàn thiện (*). Đừng vội vã cho rằng chúng ta khác với các loài động vật bởi chúng ta có lí trí. Quan sát thiên nhiên, chúng ta thấy rằng, thậm chí ở những loài động vật cấp thấp như côn trùng, thì bản năng của chúng trong việc sinh tồn còn khôn ngoan hơn lí trí của chúng ta rất nhiều. Nhìn chung, chỉ với lí trí trung bình, chúng ta không khác lắm với các loài động vật. Chỉ có khả năng tự hoàn thiện khiến chúng ta khác hẳn các loài động vật.

    Cần khẳng định rằng, con người không thể sống thiếu niềm tin, hay nói chính xác là không thể sống cho ra hồn người nếu không có niềm tin. Có niềm tin, con người có hy vọng, từ đó nó luôn nhìn nhận và tự hoàn thiện. Không có niềm tin, dĩ nhiên không có hy vọng và không có ý thức tự hoàn thiện.

    evolution.jpg

    Niềm tin khả dĩ nhất, chung nhất cho loài người, là niềm tin tôn giáo. Ở những quốc gia dân chủ, thì tự do và bình đẳng được tôn trọng, và đó là lí do tôn giáo phát triển. Thoạt nghe thì có vẻ vô lí, nhưng khao khát bình đẳng khiến con người hướng tới ý tưởng bình đẳng về niềm tin, do đó tôn giáo phát triển, bởi tôn giáo cho họ niềm tin chung, và những giá trị chung.

    Trong tác phẩm “Nền dân trị Mỹ”, Alexis De Tocqueville cho rằng: “không có xã hội nào thịnh vượng lên được mà không có chung niềm tin. Bởi vì thiếu tư tưởng chung thì cũng không có hành động chung, và không có hành động chung thì tuy con người vẫn còn đó nhưng là tập hợp người thiếu tính xã hội. Điều kiện để một xã hội thịnh vượng là phải làm sao cho tinh thần các công dân tập hợp tối đa và duy trì thành một khối nhờ một vài tín điều, tư tưởng chủ chốt…”

    Những “tư tưởng chủ chốt” mà Tocqueville muốn nói tới ở đây, là ý tưởng về Chúa trời, về linh hồn, vị lai, về nghĩa vụ chung của mình với đấng tạo hóa và với đồng loại.

    Con người không thể nào sống thiếu những niềm tin mang tính giáo điều (**), mà nói theo Tocqueville là: “trong tất cả những niềm tin giáo điều thì niềm tin đáng khuyến khích hơn cả là niềm tin tôn giáo”

    Tới đây, tôi sẽ nói cụ thể về người Việt Nam chúng ta ngày nay.

    Xã hội Việt Nam chưa bao giờ là xã hội tôn giáo. Theo tôi nhớ, Công giáo chỉ khoảng 6% dân số, và dưới mắt đại đa số người Việt thì Công giáo là tôn giáo thực dân, đáng ngờ (thành kiến này cũng do các thế lực thống trị, từ phong kiến tới cộng sản, áp đặt), còn Phật giáo ở Việt Nam ngày nay đã tha hóa hoàn toàn, chùa chiền chỉ còn là chỗ buôn thần bán thánh, vào chùa đâu đâu cũng thấy hòm công đức, có chùa cạnh tượng phật là tượng bác Hồ, các chức sắc phật giáo tục hơn thế tục, phát ngôn như tuyên giáo, đại chúng phật tử thì chỉ thuần mê tín dị đoan. Nhìn chung, niềm tin tôn giáo ở Việt Nam là thứ niềm tin yếu ớt và không phổ quát.

    Không có niềm tin giáo điều từ tôn giáo, con người có thể bám víu vào niềm tin nào? Nếu không có niềm tin tôn giáo, con người phải tin vào những ý tưởng chính trị công chính, những truyền thống đạo đức, truyền thống dân tộc.

    Có một điều khá rõ ràng rằng, người Việt ngày nay đang sống mà hoàn toàn không có niềm tin. Người Việt mất niềm tin bởi vì họ bị lừa dối quá nhiều. Từ khi có đảng cộng sản (miền bắc từ 1945 và miền nam từ 1975), người Việt chỉ thụ hưởng dối trá. Họ sống trong một khí quyển dối trá. Triền miên dối trá. Tôi vẫn còn nhớ, hồi học tiểu học (lớp 3 hay 4 gì đó) trong khi ăn cơm độn mì tôi đã căm thù “bè lũ Mỹ -ngụy” thế nào, và thương “đồng bào miền nam lầm than dưới ách đô hộ và bóc lột của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai” ra sao. Dối trá là bản chất của các chế độ cộng sản, họ duy trì dối trá, tuyên truyền dối trá, và dậy dỗ dối trá, bởi quyền lực của họ được dựng xây và duy trì trên nền tảng dối trá. Thật vậy, ở nhà trường Việt Nam ngày nay, người ta dậy trẻ con nói dối một cách tinh vi, vd như là phương pháp làm văn theo mẫu. Đứa trẻ tả bà nó, mẹ nó theo định hướng của cô giáo, nếu đứa trẻ tả bà nó theo quan sát của nó (vd bà em rất trẻ, tóc bà nhuộm vàng, cuối tuần bà đi vũ trường) thì nó sẽ bị chấm điểm thấp, bị cô giáo trách phạt. Từ đó, đứa trẻ sẽ hiểu rằng, sự thật không phải cái nó nhận thức, mà sự thật là ý muốn của người khác, của kẻ có quyền lực.

    Không có niềm tin vào những giáo điều chính trị công chính, không có luôn cả niềm tin vào những giá trị đạo đức, những truyền thống tốt đẹp (bởi người ta thấy nó viển vông, không mang lại ích lợi thiết thực cho việc mưu sinh), người Việt ngày nay có cuộc sống rất gần loài thú.

    Mất niềm tin, dẫn tới lạc lối và không có hy vọng, mọi giá trị đạo đức nền tảng bị băng hoại, mọi giáo điều bị khinh rẻ, và tất yếu, tự nhận thức, tự hoàn thiện là những ý thức xa sỉ, điên rồ. Người Việt ngày nay chỉ còn tin vào giá trị duy nhất: đồng tiền. Cái gọi là “tư tưởng chung” khiến tập hợp người có “hành động chung” như cách Tocqueville mô tả, với người Việt ngày nay, là tiền, và họ có “hành động chung” là lao vào kiếm tiền, bất chấp đạo lí, bất chấp thủ đoạn.

    Không có niềm tin tôn giáo, không còn niềm tin với ý tưởng chính trị công chính (bởi ý tưởng chính trị hiện tại là thối nát, lừa mị), mất luôn cả niềm tin vào mọi giá trị đạo đức nền tảng, nghĩa là mọi giá trị tinh thần đều không còn để bấu víu…, vậy chúng ta phải làm gì? Phải tìm niềm tin ở đâu, để có ý thức tự hoàn thiện, tự nhận thức, để sống cho đúng với ý nghĩa con người?

    Có một thứ mà chúng ta có thể trao gửi niềm tin, hay nói khoa trương một chút, rằng chúng ta có thể “tự tạo ra tôn giáo cho riêng mình”: đó là tri thức (***)

    Tri thức của nhân loại luôn mời gọi khám phá, ở đó, chúng ta sẽ tìm thấy niềm tin, tạm gọi là niềm tin tri thức. Đúng trên vai những người khổng lồ, chúng ta sẽ thấy mình là ai, mình cần hoàn thiện ra sao, mình muốn gì và mình cần phải làm gì.

    Không cần bàn cãi thêm, rằng kênh chia sẻ và tiếp thu tri thức quan trọng nhất, là sách. Trước tác của những người khổng lồ, là túi khôn, là Chúa trời của người trí thức. Với tri thức nền tảng là sách, chúng ta có điều kiện để phóng chiếu và nhận thức thực tế. Ta là ai? Ta muốn gì? Ta khác với động vật thế nào? Và nhiều câu hỏi quan trọng khác. Những câu hỏi hoàn toàn có thể giải đáp bằng kiến thức chung của nhân loại, những kiến thức từ sách.

    Tới đây, có lẽ nên nhìn lại thực tế cái gọi là “văn hóa đọc” ở người Việt, trong đó, thành phần quan trọng, là giới trí thức.

    Cần nhắc lại câu chuyện, khi cuốn “Bàn về tự do” của J.S. Mill ra đời (cách nay gần 2 thế kỉ) thì người Nhật, ngay lập tức tổ chức dịch và xuất bản. Lần đầu xuất bản: 2 vạn cuốn, và họ liên tục tái bản suốt từ đó tới nay. Ở Việt Nam, người ta xuất bản cuốn này năm 2005, và số lượng in: 1500 bản.

    Tuy vậy, con số 1500 bản của “Bàn về tự do” cũng là điều an ủi vô cùng. Những cuốn quan trọng như “Nền dân trị Mỹ” – Alexis De Tocqueville, in 300 bản. “Chính thể đại diện” – J.S. Mill, in 300 bản. “Khảo luận về chính quyền” – John Locke, in 500 bản. “Dân chủ và giáo dục” John Dewey, in 500 bản… và v.v. (lưu ý: đây toàn những đầu sách triết chính trị xã hội, là thứ tương đối dễ đọc, nó không phải thứ khó nuốt, siêu hình). Nhìn vào số lượng xuất bản, tôi không thể không tự hỏi: điều gì đang xẩy ra thế này?

    Số lượng từ 300 tới 500 tương đương với số lượng người ta in thiệp mời một đám cưới cỡ trung bình ở Việt Nam. Số lượng từ 300 tới 500 cuốn cho hơn 90 triệu dân. Nhìn vào con số này, chúng ta có nên lạc quan cho cái mà tôi gọi là “tôn giáo của riêng mình”?

    Hướng đã có, chỉ chờ chúng ta đứng lên và bước đi

    VVQ - 04/2016

    -----

    (*) “tự hoàn thiện” ở đây không phải là “thích nghi”, “tiến hóa” sinh lí theo lí thuyết của Charles Darwin, mà là tự hoàn thiện về tinh thần, về đạo đức, về nhân phẩm… v.v.

    (**) “niềm tin giáo điều” là thứ niềm tin mà số đông mặc nhiên chấp nhận, có giá trị bất chấp thời gian. Số đông tin và không cần băn khoăn về nó quá nhiều (vd tin Chúa và không cần hỏi, có thật sự có Chúa hay không), nó gần tựa như mặc khải.

    (***) để lí giải tương đối cho ý tưởng này, xin trích dẫn từ facebook Bác Văn Vương:

    “tri thức là nguồn sống của người sở hữu nó”

    nếu bạn có khả năng tiếp cận việc học tự nhiên như con vịt nhẩy xuống nước, nếu bạn coi việc học là mục đích chứ không phải phương tiện, học không để lấy bằng, không để làm quan...v.v mà chỉ học như một niềm vui thích, thế thì bạn là con người tiềm năng có tôn giáo của riêng mình, thượng đế của riêng mình.

    bạn nghi ngờ tất cả, bạn chỉ tin vào tri kiến thức của mình. mọi vấn đề gai góc thuộc phạm trù tinh thần lòai người đều hấp dẫn với bạn, và bằng mọi cách, bạn phải vượt qua nó, thế rồi bạn đã vượt qua nó. vượt qua mỗi thách thức là bạn vượt qua một nấc thang tiến tới thượng đế. thượng đế của riêng bạn. thượng đế có tên trí tuệ.

    thách thức, vượt qua, thách thức, lại vượt qua... hành trình đầy khó khăn và nhọc nhằn, nhưng sự thách thức khiến bạn hân hoan, và chinh phục thách thức làm bạn hân hoan hơn nữa. niềm hoan lạc này là thượng đế của riêng bạn.

    trên cõi đời này chẳng có điều gì thiêng liêng hơn niềm tin. mọi niềm tin vững chắc đều xứng đáng tôn trọng. tin vào phật, tin vào jesus, hay tin vào chính bạn, những niềm tin ấy đều giá trị như nhau

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Mỗi một con người sống ở nhân gian cần thiết là phải nên đặt niềm tin vào "Chân Lý", và niềm tin chân lý là con người không bị sanh thì sẽ không bị sống phiền khỗ, sống già khỗ, sống bệnh khỗ, sống sanh ly tử biệt chết khỗ, v.v Nhưng thật đáng tiếc là đa số con người toàn là đặt niềm tin vào tình thương (bệnh nghiện) mộng ảnh phù du, biến hóa vô thường, để rồi một ngày vô thường đến nơi thì mộng ảnh phù du sẽ tan biến theo mây khói, và ký ức ấn tượng còn lại chỉ là sự hối tiếc và sự thương tiếc thì thật đau đớn khốn khỗ vô cùng. Không biết con người mù quáng ngu lì ngu si cần phải tìm hiểu thêm bao nhiêu thử thách chông gai thống khỗ mới được may mắn giác ngộ cái đạo lý quá đơn giản như thế nầy?.

    (Tác giả Vương Văn Quang có đọc bài viết phản hồi của đọc giả không vậy? Nếu có thì nên chú ý nghiên cứu bài viết của Ngọc Hân thì tác giả sẽ có ý thức tự kỷ hoàn thiện tự kỷ, và sau đó nhớ dìu dắt thế nhân thế giới có ý thức tự kỷ hoàn thiện tự kỷ nữa nhé.).

    Tác giả Vương Văn Quang viết: ""Vậy chúng ta phải làm gì? Phải tìm niềm tin ở đâu, để có ý thức tự hoàn thiện, tự nhận thức để sống cho đúng với ý nghĩa con người."" Con người nếu muốn có ý thức tự kỷ hoàn thiện tự kỷ, thì trước tiên con người cần phải nhận thức được rỏ ràng tự kỷ là ai? tự kỷ xấu ác ở chổ nào? thì tự kỷ mới có ý thức hoàn thiện được tự kỷ từ bình phàm tiến hóa phi phàm. Nhưng thế gian nầy, ít thiệt ít có mấy ai được may mắn giác ngộ nhận thức thấy được tự kỷ xấu ác mà đa số là nhận thức thấy được người khác xấu ác, vì vậy, mới tự kỷ hại tự kỷ không thể buông xã và giải thoát phiền não khốn khỗ. (Đạt Ma Tổ Sư dạy bảo: "Bệnh=Tội tùng tâm sanh phải tùng tâm diệt." Thì sẽ không hại thân tâm tự kỷ yếu mòn mà còn giúp thân tâm tự kỷ hoàn thiện thanh tịnh.

    Thế giới ngày nay, con người có ý thức tự kỷ hoàn thiện tự kỷ là người đàn ông Phương Tây, họ tôn trọng phụ nữ bình đẳng, họ nhẫn nhường khiêm nhượng, họ tình dục ít sanh con ít, họ công hiến từ thiện cho xã hội cho thế giới nhiều, v.v. Còn đa số người đàn ông Á Đông, Trung Đông, thích lạm quyền chồng chúa vợ toi làm khỗ đàn bà nô lệ cho chồng con suốt đời không có tự kỷ, nên vô số người đàn bà mới bị khỗ điên khỗ ác khỗ tâm lý thần kinh biến thái. Người đàn ông Á Đông, Trung Đông, v.v nếu chịu nổ lực tự kỷ hoàn thiện tự kỷ như người đàn ông Phương Tây vậy, thì thế giới sẽ có hòa bình, thì nhân dân sẽ có "tự do dân chủ" sẽ có "nhân quyền bình đẳng" sẽ có tinh thần phấn khởi ham muốn phát triển thịnh vượng. Rất tiếc là đa số người đàn ông Á Đông, Trung Đông, v.v bệnh nghiện độc tài độc ác trầm trọng nan y (từ vô thị kiếp tới nay), nên họ thật vô cùng khó khăn có ý thức chịu tự kỷ hoàn thiện tự kỷ trừ khi mặt trời mọc lên hướng tây.

    Con người động vật từ khi có bộ quần áo y phục sang trọng che phủ lên thân bên ngoài kiêu hảnh thể diện, khinh tật trọng đẹp, khinh bần trọng phú, v.v Từ đó con người đã bắt đầu dần dần lãng quên đi bên trong con người vật chất tự kỷ thân phận yếu hèn dơ bẩn hôi hám, nếu như 3 ngày không tắm rửa, thì sẽ làm bạn thân mật với con ruồi muỗi côn trùng sâu bọ. Con người từ khi có bồn cầu (toilet) ngồi thoải mái coi báo nên con người đã không chú ý nhận thức tự kỷ lúc đó đang làm gì hôi thối quá vậy? Con người nếu giác ngộ nhận thức thấy được thể xác tự kỷ sống hôi hám ghê gớm như vậy, và sau khi chết thi thể mục nát còn hôi thối ghê gớm hơn nữa, thì con người sẽ tự nhiên từ từ hết nghiện tình dục sanh con và hết nghiện ăn thịt súc vật nữa. Con người động vật phải giác ngộ nhận thức được tất cả chân lý của tự kỷ, thì mới có thể hoàn thiện tự kỷ tiến hóa thánh nhân thật dể dàng.

    Con người động vật đã sống xa quá xa thiên nhiên nhưng trong tiềm thức không bao giờ quên lãng đi nguồn gốc đời sống hoang dã (carefree and stress-free). Vô số con người động vật ngày nay, tuy có đời sống tình thương vật chất phong phú và cao thượng, nhưng vì sao họ vẫn có nỗi buồn không tên muốn tự tử? Vô số người nghèo nàn khốn khỗ được thành đạt biến thành triệu phú vinh hoa phú quí, v.v nhưng vì sao họ vẫn không mãn chúc vui sướng? v.v và v.v mà thế gian không có ai hây biết nguyên nhân đích thực là tại vì sao vậy? Chân lý là bởi tại vì tiềm thức con người vẫn thương nhớ nguồn gốc đời sống hoang dã thiên nhiên không có vật chất tiền tài thuế khóa, v.v áp lực phiền não đèo bồng khốn khỗ.

    Thái Tử Tất Đạt Đa = Thiên Phật Thích Ca thuở xưa là vì phát hiện được tiềm thức bí ẩn của con người, v.v mới tu luyện "Đắc Đạo Tâm Linh Kim Cang Thiền Điện Siêu Năng" vô giá bảo. Và Tâm Linh Kim Cang Thiền Điện Siêu Năng của Thiên Phật Thích Ca, đã và đang sống vĩnh hằng đời đời tiến hóa tái tiến hóa phép lực vô tận vô biên, ở thế giới Thiên Đàng Cực Lạc. Phật Giáo Á Đông toàn là người hiền nhân sáng tạo đấy thôi chứ không phải là Phật Pháp Siêu Năng của Thiên Phật Thích Ca. Phật Giáo Á Đông giúp con người "tu thân hiền thiện" và giúp xã hội (less crime) là tốt lắm. Nhưng Phật Giáo Phương Tây thì thực hành chân thiện mỹ hơn Phật Giáo Á Đông quá nhiều. Vì vậy, mà nhìn những người đàn ông Phương Tây ngày nay có ý thức tự kỷ hoàn thiện tự kỷ thật thực tế khả quan.

    Thơ của Lục Tổ Huệ Năng là: "Bồ Đề Bổn Vô Thọ...Minh Cảnh Dạ Phi Đài... Bổn Lai Vô Nhất Vật...Hà Xứ Nhạ Trần Ai." Dịch đại ý là: "Từ bi không tồn tại...Thân người là vô thường...Nếu con không bị sanh...Thì đâu con tử trần." Con người "không bị sanh" thì sẽ "không bị tử" là chân lý ngàn chân vạn khắc. Cha mẹ nhân gian nếu không sanh con thì sẽ không hại con bị sống khỗ và bị chết khỗ. "Người khôn nghe thiện tri ơn, người ngu nghe thiện nghịch tai khỗ lòng." Hy vọng bài viết của Ngọc Hân luôn có duyên gặp thế giới người khôn có phước hậu đọc miễn phí nhé và nhớ khi truyền bá người khác cũng miễn phí nữa!.
    Đệ Tử Phật tái thế. Hoakỳ 2016.

    Trích :
    " trên cõi đời này chẳng có điều gì thiêng liêng hơn niềm tin. mọi niềm tin vững chắc đều xứng đáng tôn trọng. tin vào phật, tin vào jesus, hay tin vào chính bạn, những niềm tin ấy đều giá trị như nhau "

    Niềm tin vào những việc có thể thực hiện được để đạt tối mục đích cụ thể nào đó thì tốt hơn vì nó tạo ra động lực, ra kế hoạch, ra sự chờ đợi, háo hức ...

    Cái quan trọng là "mục đích cụ thể" và "cách thực hiện" nếu đem lại sự lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, sức khỏe, hạnh phúc cho mọi người, ... thì thực hiện

    Khó thực hiện vì những niềm tin này đôi khi rất chủ quan, lợi ích vật chất cho mình, cho vùng của mình nhưng có thể gây tai hại cho vùng khác, ... và cho mọi người thì càng cho thực hiện vì trước sau gì trong xã hội sẽ tạo ra phân chia chính trị, xã hội, vùng miền, (clivage politique, clivage sociale) một cách tự nhiên, không thể tránh khỏi mà chỉ có thể làm giảm đi

    Niềm tin của đạo Phật là cố gắng sống tử tế, bonté ... trong mọi hoàn cảnh

    Niềm tin của người Việt vào hệ tư tưởng chính thống đã và đang bị sự thật phũ phàng sôi réo cuốn đi. Trong cơn chới với niềm tin ấy, những người cuồng đảng bấu víu vào bất kỳ cái gì mà họ sờ mò được. Người ta tìm đến sấm trạng, đến những lời tiên tri của một bà già mù ở tận trời Tây, tìm đến các nhà ngoại cảm, các thày phù thủy. Đáng tiếc là cái họ tìm thấy không phải là niềm tin vào tôn giáo nào, vào lý tưởng nào. Nó chỉ ghi đậm dấu ấn của sự cuồng loạn.

    Rất đời thường, nó không cao siêu như niềm tin tôn giáo, những truyền thống đạo đức, hay truyền thống dân tộc. Đó là niềm tin nơi bạn hữu.

    Chỉ ngồi với nhau uống một ly trà , không cổ bàn nhưng bạn hữu đã cho nhau một niềm tin.

    Chưa gặp mặt chỉ qua mạng ảo, nhưng đã như bạn hữu khi được trao đổi tư tưởng và tranh luận, niềm tin như bạn hữu này rất là thật, không dối trá, lên mạng không thấy thì nhớ đó chính là anh Nguyễn Ngọc Già trước khi bị bắt và không ai biết anh là ai cả.

    Chỉ không quá lâu, chỉ ít ngày trước đây khi Vuơng Văn Quang qua bài viết "1-0 cho các Dư Luận Viên", vậy thì để tạo niềm tin nơi bạn đọc, Vuơng Văn Quang đã nghĩ gì khi viết bài này.

    Lol )))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))))

    Đang ngáp, gặp bài của Mr. Quang, tỉnh hẳn người. Hello Mr. Quang :).

    Dường như lần này tác giả ko thích bóng đá, muốn chuyển qua bi da, để bi gài qua cơ đầu tiên.

    Tay đang thua lơ :).