Nguy cơ chiến tranh Việt Trung và chiến lược phòng vệ của Việt Nam (P3)

  • Bởi Admin
    08/03/2016
    17 phản hồi

    Lãng

    Trước khi các bạn định đọc thiên Lãng luận này các bạn cần lưu ý: (1) Bài viết này rất dài và anh khuyến cáo đừng ai đọc. (2) Nếu đã đọc thì hãy đọc chậm, đọc kỹ và đọc cho hết. Đã đọc rồi thì đừng vội comment, nghĩ thật kỹ rồi hãy comment. Và (3) nếu ai đọc lời cảnh báo này rồi mà còn comment tại sao bài viết quá dài thì sẽ bị anh block thẳng tay không thương tiếc :). Trân trọng!

    Nội dung chính của bài viết này sẽ tập trung vào mối nguy của một cuộc chiến tranh cục bộ tại biển Đông, phạm vi chiến trường giới hạn trong khu vực quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Chiến sự cũng sẽ lan rộng đến một loạt các căn cứ không quân và hải quân nằm dọc bờ biển Việt Nam, từ Quảng Ninh kéo dài xuống khu vực duyên hải miền Trung. Đây là cuộc chiến có xác suất lớn nhất và cũng sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng lâu dài nhất đối với bối cảnh địa chính trị khu vực Đông Nam Á, trong đó chịu tác động nặng nhất chính là Việt Nam.

    Để nắm được mạch phân tích trong bài viết này, đề nghị các bạn cần đọc kỹ lại các phần phân tích trước trong cùng loạt bài:

    Phần 1: Đánh giá mối nguy cơ chiến tranh Việt Trung từ các phân tích lịch sử và văn hóa; các phân tích tổng hợp về tiềm lực quân sự Trung Hoa: https://www.facebook.com/notes/lang...

    Phần 2: Phân tích về cuộc chiến tổng lực Việt Trung, giải pháp cho một cuộc chiến tranh hạt nhân. Đây là một bài phân tích có tính loại trừ, tuy nhiên, để đề phòng cho một cơn mưa, người ta vẫn luôn cần mang theo một chiếc áo mưa gấp gọn. Hiểm họa sẽ luôn xảy ra ngay khi bạn không có chuẩn bị gì cho nguy cơ ấy: https://www.facebook.com/notes/lang...

    3. Đây là một bài phân tích không nằm trong loạt bài này, nhưng có mối quan hệ tương quan khá chặt chẽ. Hẳn hiện nay có nhiều người vẫn còn ám ảnh về cuộc chiến khốc liệt ba bên Việt - Trung - Campuchia cuối những năm 1970 và kéo dài đến tận năm 1988. Bối cảnh lịch sử và chính trị ở Campuchia hiện nay đã rất khác. Ngày nay, với một chế độ bầu cử tự do, dù vẫn đang nằm dưới sự ngự trị của Hunsen nhưng người Campuchia rất thực dụng và dân trí đang tiến nhanh. Campuchia đang tận dụng rất tốt mâu thuẫn giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam để mặc cả quyền lợi cho mình. Điều đó khiến Campuchia trở nên đáng ghét nhưng cũng chính vì thế mà mối nguy xung đột giữa Campuchia và Việt Nam gần như có thể loại trừ: Khi một dân tộc bắt đầu được nếm mùi tự do và trở nên thực dụng hơn, họ cũng đồng thời biết đâu là giới hạn và khôn ngoan hơn và khó có điều gì khiến họ đủ ngu dốt để bán máu cho dân tộc khác, đất nước khác: https://www.facebook.com/notes/lang...

    Quay trở lại câu chuyện chính:

    THANH GƯƠM DAMOCLES TREO TRÊN BIỂN ĐÔNG

    Hầu hết các hãng thông tấn toàn cầu và nhiều nhà phân tích chính trị đều bày tỏ mối lo ngại lớn về nguy cơ xung đột trên biển đông trong những tháng cuối năm 2015 và đặc biệt là đầu năm 2016. Nỗi lo ngại của họ hoàn toàn có lý khi xét đến mật độ tập hợp các phương tiện chiến tranh của các nước có liên quan trong vùng biển hẹp này đang tăng nhanh và dày đặc tới mức rất đáng sợ. Số tàu ngầm, chiến hạm, máy bay và các phương tiện vũ khí khác được triển khai dày đặc tại các căn cứ bao quanh biển Đông bởi Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, Singapore, Mã lai, Indonesia và Philipin. Và dù ở xa hơn, cả người Nhật, người Ấn và người Úc cũng đều gửi các hạm tàu và máy bay tuần tiễu của mình đến vùng biển này. Nếu chiến tranh là một hệ quả tất yếu của các tranh chấp lãnh thổ bế tắc và sự sẵn sàng của các phương tiện chiến tranh, thì có thể nói các điều kiện cần thiết cho xung đột ở Biển Đông đều đã sẵn sàng.

    Có những lý do khiến nhiều người tin chiến tranh chưa thể nổ ra, do tính kết nối quá lớn của các quốc gia khu vực với giao thương quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc. Tuy nhiên nhìn vào lịch sử, mối quan hệ kinh tế tăng mạnh đã chẳng ngăn được cuộc chiến Đức - Anh, và màn trình diễn đơn phương của Putin ở Crimea tiếc thay lại là một ví dụ tham khảo tốt cho Trung Quốc về điều một nước lớn có thể làm trong một cuộc xâm lược có kiểm soát đối với láng giềng. Tất nhiên sức mạnh răn đe của TQ chưa thể bằng Nga, và trong khu vực cũng không có ai giống như Ucraine, khi Việt Nam vốn luôn là một đối thủ đáng gờm, còn Philipin vẫn có hiệp ước an ninh với Mỹ.

    Tuy nhiên, nhìn từ nhiều yếu tố, cả về lịch sử lẫn các áp lực hiện tại, có quá nhiều cơ sở để thấy lưỡi gươm Damocles đang treo lơ lửng trên đầu các quốc gia ven biển Đông, mà trực tiếp nhất chính là Việt Nam, cụ thể:

    1. Cuộc chiến quyền lực của Tập Cận Bình ở TQ đã chấm dứt. Tập hiện là một tay độc tài có quyền lực tuyệt đối thậm chí vượt xa Đặng Tiểu Bình và bám sát nếu không muốn nói là ngang bằng Mao Trạch Đông. Đây là một tín hiệu không lành với chính Trung Quốc và các nước láng giềng. Đặc tính chung của những quyền lực độc tài là xu hướng dùng bạo lực thay vì thỏa hiệp với các tranh chấp.

    2. Kinh tế TQ đang gặp nhiều vấn đề nghiêm trọng. Số lượng người mất việc đang tăng rất nhanh, tạo ra những vấn đề lớn về an sinh. Bên cạnh đó, các mâu thuẫn nội tại vốn có trong xã hội TQ vẫn còn nguyên và chỉ chờ một tác nhân dẫn lửa là bùng phát. Tăng trưởng yếu đi khiến các mũi dùi chĩa vào quyền cai trị độc tài của Đảng Cộng Sản TQ mỗi lúc một tăng. Xuất khẩu khủng hoảng ra bên ngoài bằng một cuộc chiến có kiểm soát là một lối thoát cho Tập Cận Bình và ĐCS Trung Quốc. Đây cũng là giải pháp được nhiều triều đại Trung Hoa quen dùng, gồm cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình, và đối tượng được nếm giải pháp này nhiều lần nhất trong lịch sử, không phải ai khác chính là Việt Nam.

    3. Trong nhiều thập niên, Trung Quốc đã thực hiện chiến dịch tuyên truyền và chuẩn bị tâm lý rất kỹ càng cho đại bộ phận dân chúng Trung Quốc về đường lưỡi bò và chủ quyền của Trung Quốc về các quần đảo ở biển Đông. Thế mạnh quân sự vượt trội khiến trên 80% số thanh niên TQ hiện đều rất hung hăng và cho rằng việc dùng sức mạnh để chiếm trọn biển Đông là hoàn toàn hợp lý. Có thể nói, Trung Quốc đã chuẩn bị rất kỹ cho cuộc chiến về mặt tuyên truyền và con người cho cuộc chiến tranh tương lai ở Biển Đông.

    4. Các khoản đầu tư hàng trăm tỷ USD mỗi năm vào quân sự khiến TQ có sức mạnh bằng hầu như tất cả các nước châu Á cộng lại. Số lượng máy bay tại các đại quân khu, số khu trục hạm, tuần dương hạm và tàu tên lửa biên chế tại ba hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải của Trung Quốc hiện vượt xa quy mô không quân và hải quân của cả Ấn Độ và Nhật Bản cộng lại. Dù các tàu chiến và máy bay TQ có thể thua kém Nhật Bản đôi chút về công nghệ tinh vi, nhưng khoảng cách đang ngày một thu hẹp, và điều quan trọng là số lượng thì TQ vượt xa mọi đối thủ. Nếu chiến tranh là sự so đọ khả năng chấp nhận tổn thất và tiêu hao, thì về mặt này châu Á không ai so được với TQ. Riêng hạm đội Nam Hải và lực lượng không quân đóng tại căn cứ Tam Á, Du Lâm có sức mạnh vượt xa hải quân và không quân của tất cả các nước Đông Nam Á cộng lại, nếu chỉ xét đơn thuần về số lượng trang bị và đơn vị khí tài.

    5. Dù bảy đảo nhân tạo tại Trường Sa vẫn chưa hoàn tất, nhưng sự sẵn sàng phục vụ chiến tranh của các căn cứ tại đảo Phú Lâm - Hoàng Sa và các căn cứ tại Du Lâm - Hải Nam khiến Trung Quốc có thể tung một đòn đánh phủ đầu ồ ạt bằng không quân tới các căn cứ ven biển của các nước ven biển Đông, đặc biệt là Việt Nam. Mức đe dọa sẽ ngày một nặng nề khi các phi đạo tại Trường Sa hoàn tất. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc có khả năng uy hiếp nặng nề mọi quốc gia Đông Nam Á, và phần nào loại trừ được nguy cơ bị kiểm soát yết hầu Mallaca từ Mỹ và đồng minh.

    6. Giữa năm 2016, vụ kiện của Philipin với Trung Quốc tại Tòa án Trọng tài Thường trực Liên hợp quốc (PCA) sẽ có kết quả rõ ràng. Với sự từ chối tham dự của Trung Quốc và các chứng lý Philipin đã nêu, có tới 99% khả năng TQ sẽ phải nhận một phán quyết bất lợi cho tham vọng độc chiếm biển Đông của họ. Điều này có thể thôi thúc TQ hành động mạo hiểm để tạo sự đã rồi trước một phán quyết bất lợi cho mình.

    7. Tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên có thể cung cấp cho Trung Quốc một cơ hội tuyệt hảo để lợi dụng cho các hành vi xâm lăng có kiểm soát. Nước Nga và châu Âu đang bận rộn với câu chuyện Syria và dòng người di dân. Mỹ cũng buộc phải phân tán nguồn lực của mình để đối phó với các căng thẳng ngày một tăng ở châu Âu và Trung Đông. Bên cạnh đó, lần đầu tiên kể từ năm 1952, Trung Quốc đã bắt tay với Mỹ và đưa ra một lệnh trừng phạt rất nặng nề đối với Triều Tiên. Có thể cho rằng đó là sự trừng phạt của Trung Quốc đối với thái độ nhờn mặt của Kim Jung Un kể từ khi lên nắm quyền tại Bắc Triều Tiên, nhưng cũng có thể lý giải Trung Quốc đang chơi một ván cờ với nhiều mục tiêu. Bằng việc dồn Kim Jung Un đến thế đường cùng, bán đảo Triều Tiên đang nóng hơn bao giờ hết, rất có thể Triều Tiên sẽ phản ứng cực kỳ hung hăng đối với các biện pháp kiểm soát tàu bè ra vào Triều Tiên theo nghị quyết trừng phạt mới. Điều này có thể khiến nổ ra các vụ chạm súng trực tiếp giữa Bắc Triều Tiên với Hàn Quốc và Nhật Bản, những quốc gia thù địch sát sườn. Tình huống này nổ ra sẽ đặt Mỹ và đồng minh Đông Bắc Á trước áp lực cực kỳ căng thẳng vì Triều Tiên sở hữu vũ khí tấn công hạt nhân. Ngoài ra, năm 2016 nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử, mọi sự chú ý đều đang dồn vào cuộc đấu giữa các ứng viên và hai đảng Dân chủ - Cộng hòa, Mỹ sao nhãng rất nhiều các vấn đề quốc tế. Trung Quốc chắc chắn sẽ tận dụng cơ hội này để giải quyết mọi vấn đề đã nêu từ mục (1) đến mục (6) như đã phân tích ở trên.
    Điểm lại lịch sử, tham vọng mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc là vô cùng lớn và nó luôn được mọi triều đại cai trị Trung Quốc nung nấu và kế thừa, dù đó là thời phong kiến hay đến thời cận đại của Tưởng Giới Thạch. Và dù là một đối thủ một mất một còn nhưng Mao Trạch Đông chẳng thấy phiền hà gì khi tiếp thu và phát triển thêm tham vọng bành trướng biển Đông của Tưởng. Đến thời Đặng Tiểu Bình, nó được hiện thực hóa bằng cuộc xâm lăng Hoàng Sa năm 1974, cuộc chiến biên giới khốc liệt với Việt Nam kéo dài từ 1979 đến 1988, và đặc biệt là cuộc xâm lăng chiếm 6 đảo đá tại Trường Sa năm 1988. Trong tất cả các cuộc chiến xâm lược ấy, rất đáng tiếc, nạn nhân luôn là Việt Nam và phần thất trận cũng luôn thuộc về Việt Nam. Ngày nay, Tập Cận Bình đang kế thừa tiếp dã tâm ấy, và Tập đã rất sẵn sàng. Cái còn thiếu chỉ là thời cơ.

    Có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc tận dụng thời cơ. Tây Tạng từng giành được độc lập năm 1913, và họ duy trì được nền độc lập của mình đến năm 1951. Lợi dụng việc toàn thế giới bị hút vào cuộc chiến Triều Tiên 1950 - 1953, dù đã gửi hàng triệu lính đến Triều Tiên, Mao Trạch Đông vẫn âm thầm gửi một đội quân đến Tây Tạng mà không ai kịp nhận ra. Khi nước Mỹ thoát khỏi được cuộc chiến Triều Tiên thì Tây Tạng đã là một câu chuyện đã rồi với Trung Quốc. Năm 1959, sau một cuộc kháng cự bất thành, nền độc lập của Tây Tạng chính thức bị xóa sổ. Quốc gia này đã biến mất trên bản đồ thế giới. Người Tây Tạng đang bị gạt ra bên lề và biến thành thiểu số trên chính quê hương sau các kế hoạch Hán hóa của Bắc Kinh. Ngày nay, họ chỉ còn dám mơ về một quyền tự trị ít ỏi về văn hóa mà cũng chẳng thể đạt tới.

    Năm 1974, khi cuộc chiến Nam - Bắc ở Việt Nam đang bước vào chặng xế chiều. Mỹ ký hiệp định Paris và rút khỏi cuộc chơi, miền Nam kiệt quệ vì viện trợ cắt giảm còn miền Bắc đang há miệng mắc quai vì công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 theo đó thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc (Đây là một vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh, năm 1958 đang là lãnh tụ tối cao và đầy quyền lực, ông Hồ không ký, nhưng tất nhiên ông Phạm Văn Đồng chỉ có thể ký công hàm dưới sự cho phép của ông Hồ); Mao Trạch Đông chớp lấy thời cơ ấy đã gửi hạm đội đến Hoàng Sa (Từ 1954 - 1972 khi Mỹ còn sát cánh với VNCH, quyền kiểm soát Hoàng Sa luôn nằm trong tay người Việt và Mao chưa bao giờ dám gửi hạm đội tới đó). Sau nỗ lực kháng cự ngắn ngủi bất thành của Việt Nam Cộng Hòa, lúc đó đã rất suy yếu và đang trên đà bại trận trước Bắc Việt, người Việt mất trọn vẹn Hoàng Sa và chưa nhìn thấy tương lai lúc nào đòi lại được.

    Năm 1988 đồng minh duy nhất của Việt Nam là Liên Xô đang sụp đổ, kinh tế Việt Nam khủng hoảng và kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh và cai trị dốt nát của ĐCS, Đặng Tiểu Bình chớp thời cơ gửi hạm đội tới Trường Sa. Hải quân Việt Nam nhận lệnh không nổ súng, dù vô cùng dũng cảm, họ mất một số tàu và 64 thủy binh. Việt Nam cũng đồng thời mất 6 đảo đá chiến lược tại Trường Sa.

    Năm 1995, lợi dụng liên minh Mỹ - Philipin suy yếu sau khi người Philipin yêu cầu Mỹ rời căn cứ hải quân Subic từ năm 1992, Trung Quốc gửi bảy tàu đến chiếm đá vành khăn đang nằm dưới sự kiểm soát của Philipin. Quốc gia này bất lực và thấm đòn đau cho sự sai lầm chiến lược của mình.

    Năm 2012, Trung Quốc lần đầu tiên thí điểm chiến lược bắp cải để chiếm đoạt bãi đá scaborough do Philipin kiểm soát. Bằng việc sử dụng tàu cá, tàu công vụ chiếm lĩnh vòng trong và tàu quân sự đe dọa vòng ngoài, cuối cùng Trung Quốc kiểm soát được bãi đá này. Bất lực trên thực địa, người Philipin sau đó chọn một hướng đi mà họ ít nhiều đạt được thành công khi kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế.

    Tháng 5/2014 Trung Quốc điều giàn khoan Haiyang 981 và hơn 100 tàu chiến vào lãnh hải Việt Nam. Các nguồn lực và sự chú ý của Việt Nam bị hút cạn vào cuộc chiến vòi rồng và đâm húc không cân sức với Trung Quốc (Chính xác thì chỉ có TQ dùng vòi rồng và đâm húc tàu Việt nam, phía Việt Nam chỉ duy trì sự hiện diện và dùng loa phản đối). Trong lúc đó Trung Quốc ồ ạt xây 7 đảo nhân tạo tại các bãi đá đã chiếm từ Việt Nam và Philipin ở Trường Sa, tiến một bước rất dài trong lộ trình xâm lược biển Đông.

    Điểm lại tất cả các sự kiện trên, có thể nói Trung Quốc rất giỏi trong việc chớp thời cơ cho các hành vi xâm lấn của mình.

    Năm 2016 và các năm kế tiếp, có rất nhiều thời cơ Trung Quốc có thể tận dụng để phục vụ cho dã tâm xâm lược xuyên suốt của họ. Cũng trong vài năm tới đây, nhu cầu xuất khẩu khủng hoảng bằng một cuộc chiến tranh sẽ ngày càng lớn với TQ. Một cuộc chiến có kiểm soát và giành thắng lợi ở Biển Đông, có thể khiến Tập Cận Bình ngồi vững trên ngai vàng thêm ít nhất 10 năm bất chấp các biến động xã hội lớn trong nước do kinh tế suy thoái, và nếu thắng, đương nhiên TQ sẽ bước càng xa trên lộ trình độc chiếm Biển Đông mà họ chưa bao giờ xao nhãng. Có quá nhiều lý do cho chiến tranh và có quá ít lý do để ngăn chặn nó. Đó là thực trạng hiện tại.

    NẾU CÓ XUNG ĐỘT, TRUNG QUỐC SẼ ĐÁNH AI?

    Không khó để trả lời, Việt Nam là đối tượng thích hợp nhất. Philipin và Việt Nam đang là những quốc gia đối đầu với TQ mạnh nhất ở Biển Đông, có mâu thuẫn lớn nhất. Tiềm năng quân sự của Philipin không đáng kể, nhưng vùng lãnh thổ tranh chấp giữa Philipin với Trung Quốc tại Trường Sa nằm rất gần Philipin. Nếu Philipin bị buộc ép vào xung đột, quốc gia này có thể gây những tổn hại dai dẳng cho TQ bằng các hoạt động tấn công du kích, dù là vào thương thuyền Trung Quốc hay các tàu quân sự của TQ tại Trường Sa. Trong khi Trung Quốc hầu như không thể tấn công vào các căn cứ trên lãnh thổ đất liền và nội hải của Philipin vì đất nước này được bảo vệ bởi hiệp ước an ninh Mỹ - Phi, và điều đó sẽ kéo trực tiếp Mỹ vào xung đột.

    So với Philipin, Việt Nam sẵn sàng cho chiến tranh hơn rất nhiều. Trong nhiều năm qua không quân và hải quân Việt Nam được đầu tư lớn. Hiện nay không quân Việt Nam đã vượt lên đứng đầu Đông Nam Á về số lượng tiêm kích hạng nặng hiện đại. Năng lực tấn công của Hải quân cũng đã có một bước tiến rất dài với việc biên chế 5 tàu ngầm tấn công Kilo và 10 tàu tên lửa thế hệ mới. Ngoài ra, Việt Nam còn có một kho vũ khí lục quân rất hùng hậu, dù tính năng tác chiến có thể thua kém các thế hệ vũ khí gần đây nhưng chúng vẫn có uy lực sát thương ghê gớm và hoàn toàn có thể phát huy hiệu quả khi sử dụng đúng cách. Sự thất trận năm 1974 và 1988, đặc biệt là tình trạng căng thẳng ngày càng leo thang khiến Việt Nam luôn cảnh giác trên biển. Tuy nhiên, so sánh với Trung Quốc, về mọi tiêu chí lực lượng quân sự song phương đều chênh lệch quá xa. Ngoài ra, Viêt Nam hoàn toàn không có một hiệp ước an ninh với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới. Bên cạnh đó, do có biên giới đất liền kề sát, Trung Quốc dễ dàng tập kết quân đe dọa trong trường hợp căng thẳng để răn đe khiến Việt Nam phải tự hạn chế các phản ứng quân sự trả đũa trên biển của mình. Và đặc biệt là, việc người Trung Quốc hiện diện với số lượng cực lớn khắp từ Nam chí Bắc khiến Trung Quốc có lợi thế vượt trội trong việc thu thập các thông tin tình báo về vị trí và hiện trạng của hầu như toàn bộ các căn cứ không quân và hải quân chính của Việt Nam. Điều đó khiến thiệt hại của đòn phủ đầu nếu TQ muốn đánh vào các lực lượng không quân lẫn hải quân của Việt Nam có thể vô cùng lớn.

    Do đó, có thể nói Việt Nam là mục tiêu thích hợp nhất của Trung Quốc.

    PHƯƠNG ÁN TẤN CÔNG CỦA TRUNG QUỐC

    Khi một cường quốc muốn tìm cớ cho một cuộc chiến tranh, không khó để họ làm điều đó. Cuộc xung đột có thể bắt đầu bằng hành vi bắt bớ gia tăng của tàu chấp pháp Trung Quốc đối với các tàu dân sự, thậm chí cả tàu chấp pháp Việt Nam. Trung Quốc có thể ép Việt Nam vào thế đường cùng bằng cách mở rộng quyền kiểm soát thực tế tới sát mép ngoài của đường lưỡi bò, vốn ăn rất sâu vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của lãnh hãi Việt Nam. Nó thậm chí có thể mang giàn khoan đến cắm sát mép này, hoặc nổ súng trong các cuộc rượt đuổi các tàu chấp pháp hoặc tàu quân sự Việt Nam. Ở thế chủ động gây hấn, Trung Quốc sẽ chuẩn bị rất kỹ các phương tiện nghe nhìn. Ngay khi một tàu Việt Nam bị ép vào thế đường cùng buộc phải nổ súng, Trung Quốc có thể quay lại, họp báo công khai và biến đó thành cái cớ cho cuộc chiến.

    Phi đạo tại Trường Sa giờ đã sẵn sàng cho máy bay Trung Quốc cất cánh. Trong những giờ đầu cuộc chiến, Trung Quốc có thể đồn trú trên dưới 50 tiêm kích bom và oanh tạc cơ tại các phi đạo này. Một lực lượng không quân tương tự cũng được đồn trú tại Phú Lâm và các đường băng tại Hoàng Sa. Các lực lượng này, phối hợp với 200 - 300 máy bay tiêm kích và oanh tạc cơ tại Hải Nam sẽ là lực lượng đột kích đánh đòn phủ đầu chủ yếu của Trung Quốc.

    Máy bay xuất phát từ Trường Sa sẽ chỉ đánh đòn phủ đầu ồ ạt một chiều, vào các căn cứ không quân và hải quân đồn trú tại Biên Hòa, Nha Trang và khu vực phía Nam. Ngay sau khi kết thúc các đòn đánh phủ đầu, số máy bay này sẽ không hạ cánh tại các phi đạo Trường Sa mà rút về Hoàng Sa và sau đó là Hải Nam để tránh các đòn tấn công trả đũa. Riêng các căn cứ không quân và hải quân khu vực Đà Nẵng và duyên hải miền Trung sẽ được chăm sóc rất kỹ với các đòn đột kích xuất phát từ Hoàng Sa. Cam Ranh sẽ là nơi bị chăm sóc triệt để nhất để đánh tê liệt và vô hiệu hóa căn cứ hải quân trọng yếu và là cảng nhà của hạm đội tàu ngầm Việt Nam. Mất Cam Ranh, sau 1 tháng chiến tranh lực lượng tàu ngầm Việt Nam sẽ bị vô hiệu hóa do không còn được đảm bảo hậu cần.

    Lực lượng oanh tạc cơ xuất phát từ Hải Nam, với số lượng từ 200 - 300 máy bay, sẽ tấn công ồ ạt vào các căn cứ hải quân và không quân nằm ven biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh. Các đòn tấn công này nếu đạt được mục đích ban đầu sẽ gây thiệt hại cực lớn cho các lực lượng không quân, hải quân và đặc biệt là có khả năng hủy diệt các căn cứ ven biển của Việt Nam. Mức tàn phá của các đòn đánh này được đảm bảo thêm vì sự hiện diện cực kỳ đông đảo của người Trung Quốc ở Việt Nam, khiến họ có lợi thế định vị bằng mắt người trên thực địa thay vì vệ tinh quan sát.

    Trong những giờ đầu tham chiến, các chiến hạm lớn của Trung Quốc sẽ được giữ yên trong căn cứ, trong lúc tàu ngầm sẽ được huy động để phong tỏa các cảng biển và đối phó lực lượng tàu ngầm của Việt Nam. Nếu Việt Nam bị động trước các đòn tấn công phủ đầu, nhiều khả năng các tàu ngầm sẽ bị tiêu diệt ngay tại cảng hoặc bị tiêu diệt ngay khi rời căn cứ bởi tầu ngầm Trung Quốc. Các khu trục hạm và tàu tên lửa cỡ nhỏ Trung Quốc sẽ được sử dụng để loại khỏi vòng chiến đấu các đảo nhỏ và Việt Nam đang đồn trú ở Trường Sa.

    Do đây là cuộc chiến cục bộ, Trung Quốc sẽ giới hạn sự tham gia của lực lượng tên lửa chiến lược. Trung Quốc có thể tấn công các căn cứ không quân sâu trong nội địa Việt Nam bằng tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình, số lượng nằm trong phạm vi kiểm soát để gây thiệt hại trong những giờ đầu và tránh chiến tranh lan quá rộng.

    Để gây sức ép khiến Việt Nam kiềm chế, trên bộ Trung Quốc sẽ huy động 20 - 25 sư đoàn áp sát biên giới. Có thể sẽ có các đòn tấn công khiêu khích tại đường biên hoặc các vụ bắn pháo qua biên giới để gây đe dọa. Tuy nhiên, chỉ trừ trong tình huống muốn chiến tranh tổng lực, lục quân Trung Quốc sẽ không ồ ạt tấn công.

    Trong trường hợp các mục tiêu quân sự của TQ đạt được, Việt Nam có thể bị tổn thất từ 30 - 50% lực lượng không quân, 50 - 70% lực lượng hải quân và mất tất cả các căn cứ hải quân ven biển. Điều này sẽ khiến năng lực trả đũa của Việt Nam hoàn toàn bị bẻ gẫy.

    Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, Trung Quốc sẽ chiếm toàn bộ các đảo Việt Nam kiểm soát tại Trường Sa. Nó sẽ củng cố các căn cứ, duy trì lực lượng không quân và hải quân phù hợp tại Hoàng Sa, Trường Sa, kết hợp với lực lượng không quân chủ lực tại Hải Nam để thường xuyên phong tỏa mọi hoạt động hàng hải và hàng không của Việt Nam từ vịnh Bắc Bộ kéo dài tới TP Hồ Chí Minh. Mục tiêu của giai đoạn này là săn lùng và tiêu diệt những gì còn lại của hải quân Việt Nam, bẽ gãy các đòn đột đích của lực lượng không quân còn lại và đặc biệt là hủy diệt giao lưu kinh tế hàng hải Bắc - Nam của Việt Nam. Mục đích chính của giai đoạn này, là khiến Việt Nam kiệt quệ, lâm vào khủng hoảng và buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với các điều kiện do Trung Quốc áp đặt. Nếu thành công, Trung Quốc sẽ loại Việt Nam ra khỏi Trường Sa và hiện thực hóa được đường lưỡi bò trên thực tế.

    VIỆT NAM CÓ THỂ LÀM GÌ?

    Để chống lại các đòn tấn công phủ đầu của Trung Quốc, Việt Nam chỉ có thể dựa vào hai giải pháp chính. Thứ nhất là lực lượng phòng không mặt đất, gồm các trận địa tên lửa phòng không và pháo mặt đất. Giải pháp thứ hai, chính là phân tán và ẩn núp. Việt Nam hiện có trên dưới 40 máy bay tiêm kích đa năng thế hệ 4 và 4+ Su27/Su30 khá hiện đại, có thể gây thiệt hại cho hải quân và không quân Trung Quốc. Tuy nhiên số lượng này rất ít ỏi nếu so sánh với không quân Trung Quốc. Chìa khóa thắng bại chiến tranh của Việt Nam nằm ở việc có bảo tồn được số khí tài này cho cuộc chiến du kích lâu dài hay không. Vì vậy, mấu chốt của vấn đề là Việt Nam phải bảo tồn số phương tiện chiến tranh này, và tránh đưa chúng nghênh chiến trong giai đoạn đầu của chiến tranh, mà giành chúng cho cuộc chiến du kích trường kỳ sau này.

    Giai đoạn đầu cuộc chiến, do đó Việt Nam chỉ có thể dựa vào lực lượng phòng không mặt đất, đưa một số lượng ít tiêm kích đời cũ Mig21 và Su22, lợi dụng lợi thế địa hình và các đài dẫn đường mặt đất để đánh tập kích quấy rối các lực lượng không quân tấn công Trung Quốc, còn lại toàn bộ các lực lượng không quân và hải quân hiện đại đều phải phân tán ẩn núp để bảo tồn sinh lực. Nếu Việt Nam giữ được 70 - 80% lực lượng không quân và hải quân của mình sau các đòn tấn công phủ đầu, có thể nói, đó sẽ là yếu tố chiến lược quyết định kết quả cuộc chiến. Việt Nam hiện có hai tiểu đoàn tên lửa S300 PMU tối tân nhưng cơ số đạn chỉ vài chục quả. Số tên lửa này chỉ có thể dùng để bảo vệ Bộ tổng tư lệnh trong tình huống chiến tranh chứ không thể đem ra ứng chiến.
    Để bảo tồn sinh lực, Việt Nam cần làm tốt công tác thu thập tình báo, theo dõi mọi hoạt động chuyển quân và tập kết khí tài của Trung Quốc, khi có dấu hiện chiến tranh, cần phân tán và sơ tán khí tài, đặc biệt là các máy bay thế hệ mới và các tàu chiến chủ lực, cần sơ tán xa vào các căn cứ khu vực phía Nam. Ngoài ra, phải vận dụng lực lượng an ninh tự vệ để loại bỏ lực lượng thám báo và tình báo mặt đất của Trung Quốc. Đây không phải là chuyện dễ dàng, và Việt Nam phải chuẩn bị cho nó ngay từ bây giờ. Nếu cứ tiếp tục để người Trung Quốc tràn ngập mất kiểm soát, từ lao động cho đến định cư chui hoặc mua bán tự do như hiện nay, mọi việc sẽ là quá muộn.

    Lực lượng tàu ngầm là lực lượng chiến lược, có uy lực răn đe rất mạnh nhưng cũng rất dễ tổn thương và vô hiệu hóa khi bị loại mất cảng nhà. Việt Nam cần xây dựng các căn cứ tiếp vận lâm thời cho tàu ngầm ở khu vực phía Nam, thậm chí xa về mạn Phú Quốc, cần tận dụng các vịnh kín ven bờ được che chở bởi các đảo để làm các chỗ trú ẩn kín cho tàu ngầm và chiến hạm, đồng thời đảm bảo được năng lực tiếp vận hậu cần cho chúng trong giai đoạn sau của chiến tranh khi tất cả các căn cứ hải quân cố định chính đã bị tiêu diệt.

    Do lực lượng phòng không mặt đất của Việt Nam hiện vẫn dựa chủ yếu vào các dàn tên lửa S125 (Sam3) nâng cấp và các trận địa cao xạ. Số khí tài này có từ thời chiến tranh Việt Nam và đã lạc hậu rất nhiều về mặt kỹ thuật, đặc biệt khi đối phương sở hữu số lượng lớn các chiến đấu cơ thế hệ 4, do đó có thể nói các căn cứ mặt đất và hải quân ven biển chắc chắn sẽ bị Trung Quốc hủy diệt. Tuy nhiên, với kinh nghiệm tổ chức tốt các trận địa phối hợp và các trạm rada cảnh giới dày đặc, Việt Nam vẫn có thể bắn hạ từ 20 - 50 máy bay Trung Quốc trong giai đoạn tấn công phủ đầu. Đổi lấy chiến quả này là một số lớn các trận địa tên lửa bị tiêu diệt và sự hủy diệt của các mục tiêu cố định. Việt Nam cần tính toán để đảm bảo các lực lượng phòng không mặt đất còn duy trì được ít nhất 60% lực lượng cho cuộc chiến lâu dài sau này.

    Các đảo tại Trường Sa sẽ bị cô lập ngay từ những giờ đầu. Việc giữ hay chi viện cho các đảo này là bất khả thi và sự tồn tại của chúng đành tùy thuộc vào lực lượng đồn trú tại các đảo. Tất nhiên, hy vọng giữ được chúng là rất mong manh.

    Trên biên giới phía Bắc, ngay khi Trung Quốc tập kết quân, Việt Nam cần thiết lập vành đai phòng thủ với trên dưới 15 sư đoàn, đồng thời tổng động viên để có từ 2 - 5 triệu người sẵn sàng bổ sung cho lực lượng phòng thủ. Nhiệm vụ của lục quân Việt Nam là phòng thủ chặt và sẵn sàng cho mọi tình huống leo thang.

    Trong giai đoạn hai của cuộc chiến, với số khí tài còn bảo tồn được, chiến lược chủ yếu của Việt Nam là đánh quấy rối và du kích với các lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đồn trú tại Hoàng Sa, Trường Sa và mọi tàu thuyền mang cờ hiệu Trung Quốc di chuyển ra ngoài Mallaca. Mục tiêu chính của Việt Nam trong giai đoạn này, là phải loại được khỏi vòng chiến đấu các phi đạo tại Trường Sa và Phú Lâm - Hoàng Sa. Việc này hoàn toàn có thể làm được nếu Việt Nam tổ chức các đòn đột kích chớp nhoáng bằng không quân bay đêm với độ cao thấp từ các căn cứ không quân dã chiến nằm dọc lãnh thổ từ Thanh Hóa kéo dọc duyên hải miền Trung cho đến phía Nam. Các tàu tên lửa cỡ nhỏ của hải quân cũng có thể được vận dụng phối hợp cho các đòn tấn công từ các căn cứ ẩn núp ở các vịnh biển ven bờ. Việt Nam cũng có thể sử dụng tàu ngầm cỡ nhỏ để chở các đội đặc công cảm tử tiếp cận và tấn công phá hoại các phi đạo và căn cứ Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa trong đêm. Do các căn cứ này đều có tọa độ cố định, nằm rất gần lãnh thổ Việt Nam (từ 10 - 30 phút bay tính từ bờ biển Việt Nam), nên nếu tổ chức tốt, Việt Nam có thể loại chúng khỏi vòng chiến. Việt Nam có thể tái tổ chức các đòn đột kích bất ngờ dạng này, để ngăn ngừa Trung Quốc khôi phục chúng trong suốt giai đoạn sau của cuộc chiến. Việt Nam có một số tên lửa scud B,C mua từ Bắc Hàn, tuy nhiên đã có tuổi đời trên dưới 25 năm và độ sai số tính bằng km (tương tự tên lửa scud Saddam dùng trong chiến tranh vùng vịnh 1991) do đó khó có thể dùng cho cuộc chiến diệt các phi đạo. Số tên lửa đối đất hiện đại Klub gắn kèm các tàu ngầm Kilo có thể là giải pháp hiệu quả để đối phó các mục tiêu này. Tuy nhiên đầu nổ của các tên lửa này cũng chỉ tương đương bom, hơn nữa số lượng rất ít chỉ vài chục quả, chỉ có thể dùng để răn đe, đe dọa diệt các đầu não hoặc các mục tiêu giá trị cao của TQ tại căn cứ Du Lâm - Hải Nam nhằm tránh TQ leo thang chiến tranh, chứ không thể phung phí cho cuộc chiến lâu dài tại các đảo. Trong trường hợp này, Việt Nam sẽ giành lại quyền kiểm soát không phận từ khu vực Đà Nẵng trở vào và Trung Quốc chỉ có thể tham chiến bằng lực lượng không quân và hải quân xuất phát từ căn cứ Du Lâm, Tam Á tại Hải Nam.

    Lực lượng tàu ngầm chiến lược của Việt Nam có thể được sử dụng để răn đe chiến lược với các tàu có giá trị cao của Trung Quốc tại Tam Á và các vùng biển phụ cận Hoàng Sa, nhằm gây rối loạn cho các kế hoạch chuyển quân hoặc tiếp vận bằng đường hàng hải. Trong tình huống này, Việt Nam sẽ có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo tại Trường Sa, khi cô lập chúng khỏi lực lượng tiếp vận phải trải dài trên 1000 km tính từ Hải Nam, trong bối cảnh chi viện không quân của TQ sẽ rất hạn chế khi các phi đạo tại Hoàng Sa bị loại bỏ.

    Cuộc chiến chuyển sang một cuộc chiến tiêu hao. Các căn cứ của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Thanh Hóa sẽ vẫn bị tấn công gây thiệt hại thường xuyên bởi không quân Trung Quốc. Tuy nhiên Việt Nam vẫn có thể tung ra các đòn đột kích chớp nhoáng bằng tiêm kích bom su22 và các tàu hải quân cỡ nhỏ để ngăn chặn và làm rối loạn khả năng thâm nhập của hạm đội Trung Quốc. Ngược lại, từ Đà Nẵng trở vào Nam, sau khi giành lại quyền kiểm soát bầu trời, Việt Nam có lợi thế lớn để thực hiện cuộc chiến tiêu hao với Trung Quốc. Các lực lượng hải quân từ các căn cứ phía Nam có thể phong tỏa vùng biển, giải thủy lôi trên những tuyến hàng hải chính dẫn tới Trung Quốc từ Mallaca, trong lúc lực lượng không quân có thể sử dụng để đánh chìm các tàu chở dầu hoặc các tàu chuyên chở tài nguyên chiến lược đến Trung Quốc. Nếu bảo tồn tốt lực lượng và đánh du kích lâu dài, Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc tổn hại nặng nề sau 6 tháng chiến tranh.

    Nếu cuộc chiến đi theo hướng này, hai bên sẽ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán. Việt Nam có thể giành lại quyền kiểm soát các đảo Trung Quốc đã chiếm tại Trường Sa, ngược lại, Trung Quốc sẽ lấn rất sâu vào khu vực lãnh hải ngoài vịnh Bắc Bộ kéo dài tới Hoàng Sa. Trong mọi tình huống, hai phía khó có thể quay lại thời kỳ hòa hoãn vì thiếu niềm tin và luôn phải đề phòng lẫn nhau.

    Tổn thất chiến tranh của Việt Nam trong mọi trường hợp đều nặng hơn Trung Quốc. Các căn cứ không quân và hải quân bị tàn phá có hệ thống, các cảng biển khu vực phía bắc sẽ bị hủy hoại, hoạt động kinh tế Bắc Nam chịu nhiều ảnh hưởng. Ngược lại, Trung quốc sẽ bị tổn thất nặng tại phía Nam, và có thể mất quyền kiểm soát các căn cứ đã xây dựng tại Trường Sa do chúng nằm cách quá xa đất liền và quá gần đối thủ.

    Diễn biến chiến tranh sẽ đi theo dự tính của Trung Quốc hay Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào việc bên nào sẽ chuẩn bị và áp dụng được lối chơi của mình lên đối phương. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người giữa hai bên và đây là điều hầu như không thể đoán định trước.

    ĐẦU TƯ QUỐC PHÒNG CHUẨN BỊ CHO NGUY CƠ CHIẾN TRANH

    Thời gian qua Việt Nam đã chi nhiều tỷ USD để mua sắm máy bay, tàu ngầm và đóng mới chiến hạm. Số khí tài này đã tăng nhanh cấp thời năng lực chiến tranh của Việt Nam, nhưng nó đều là các sản phẩm đi mua, số lượng rất ít, thậm chí số đạn tên lửa và bom dùng kèm với chúng cũng không nhiều và phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung nhập khẩu. Việt Nam không thể đánh lâu dài nếu đặt cược vào nguồn cung vũ khí từ Nga do các yếu tố chính trị khó dự đoán. Đây là điều đầu tiên cần tính toán tới trong đầu tư quốc phòng.

    Đa dạng hóa nguồn cung, do đó là một tất yếu. Có lẽ ngay từ bây giờ, Việt Nam nên tiếp cận với các nguồn cung vũ khí từ Nhật Bản. Hai loại vũ khí Việt Nam có thể nhắm tới từ Nhật, là tàu tên lửa cỡ nhỏ và tên lửa diệt hạm đi kèm, cả các hệ thống mặt đất lẫn trên tàu chiến.

    Hải quân Nhật hiện sở hữu lớp tàu tên lửa Hayabusa, lượng choán nước chỉ 200 tấn nhưng vũ trang cực mạnh và tính năng cực kỳ tiên tiến. Nó có kích cỡ nhỏ và thiết kế tàng hình, rất thích hợp ẩn núp và thực hiện các đòn đột kích bất ngờ từ các vịnh kín ven biển Việt Nam. Tốc độ tối đa của Hayabusa lên tới 46 hải lý/h kèm theo 04 tên lửa diệt hạm SSM -1B, tầm bắn 150 km có khả năng tiêu diệt các tàu trọng tải tới 8000 tấn chỉ bằng một đầu đạn. Có thể nói đây là một loại vũ khí rất thích hợp với Việt Nam nếu phải đánh nhau với hải quân Trung Quốc. Và điều quan trọng nhất là nguồn cung vũ khí từ Nhật sẽ ổn định và đáng tin cậy hơn Nga nhiều trong tình huống chiến tranh. (Với tình hình chính trị Nga hiện nay, trong tình huống chiến tranh cần tính tới việc TQ có thể bỏ ra 10 tỷ USD từ quỹ dự trữ trên 3000 tỷ USD để hối lộ Nga, xác suất cao là Nga sẽ cắt nguồn cung vũ khí cho Việt Nam nếu trường hợp này diễn ra)
    Vũ khí Nhật có nhược điểm là giá thành cao do Nhật chưa từng xuất khẩu và do đó chi phí duy trì dây truyền sản xuất rất lớn. Tuy nhiên việc Nhật viện trợ cho Việt Nam tới 30 tỷ USD trong những năm qua là một cơ sở cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể tìm kiếm một khoản tín dụng từ 2 - 5 tỷ USD nếu chuyển hướng sang nguồn cung cấp quốc phòng của Nhật. Điều này phù hợp với lợi ích chiến lược của Việt Nam và tất nhiên là cả Nhật Bản nữa. Nó cần được xúc tiến ngay từ bây giờ.

    Tuy nhiên mọi giải pháp mua sắm đều không phải là giải pháp căn cơ. Năng lực chiến tranh lâu dài chủ yếu của một quốc gia phải dựa vào năng lực quốc phòng nội địa. Thời gian qua báo chí loan tin Việt Nam đã tự sản xuất được dòng tên lửa diệt hạm KCT15 tương tự KH35-UranE của Nga trên cơ sở tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ Nga. Đây là một tin tốt, nhưng có lẽ vẫn rất đáng ngờ. Điều chắc chắn là hầu hết các bộ phận cấu thành trọng yếu nhất của tên lửa này, Việt Nam vẫn phải nhập từ Nga, ví dụ các thiết bị điện tử, cảm biến, radar dẫn bắn ... Do đó ngay cả nếu Việt Nam tự sản xuất hoàn thiện được trong nước, thì nó vẫn cứ lệ thuộc vào nguồn cung từ Nga. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu ngay từ lúc này.

    Một loại vũ khí có từ thế chiến thứ nhất nhưng vô cùng hiệu quả là thủy lôi. Do Trung Quốc có nhiều hạm tàu giá trị cao và lệ thuộc cực lớn vào thương mại đường biển. Việc Việt Nam sản xuất và sử dụng ồ ạt thủy lôi sẽ là một cách có chi phí rẻ nhất và tổn thất ít nhất để làm rối loạn dòng thương mại và cả hoạt động quân sự của Trung Quốc trên biển. Đây là một điều cần tính toán rất kỹ ngay từ bây giờ. Cần nghiên cứu sản xuất các loại thủy lôi để có thể giải được bằng thậm chí tàu cá.

    Do khoảng cách Việt Nam - Trung Quốc rất gần, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát trên không nên phương tiện chiến tranh hiệu quả nhất để đánh quỵ hải quân Trung Quốc là tàu ngầm. Tàu kilo của Việt Nam có sức chiến đấu mạnh, tính răn đe lớn nhưng cũng dễ tổn thương và nếu tổn thất thì sẽ không thể bù đắp được. Việt Nam cần tính toán tới việc tự sản xuất các tàu ngầm cỡ nhỏ, với chi phí thấp, trang bị loại vũ khí như ngư lôi tầm xa có thể giúp xoay chuyển cán cân chiến tranh giữa Việt Nam với Trung Quốc. Từ các hoạt động sản xuất tàu ngầm tự phát của ông Phan Bội Trân hay ông Nguyễn Quốc Hòa, với giá thành rất rẻ, cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được các tàu ngầm cỡ nhỏ, số lượng lớn. Các tàu ngầm này có thể giúp Việt Nam phong tỏa các căn cứ hải quân Trung Quốc tại Hải Nam bằng các đòn đột kích hoặc phục kích ban đêm. Chúng cũng có thể làm tê liệt mọi hoạt động chi viện cho các căn cứ của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Và điều quan trọng nhất, là các tàu ngầm này có thể hoạt động mà không cần căn cứ. Nó thậm chí có thể tiếp vận dễ dàng bằng các tàu cá nhỏ, khác với kilo cần đến những căn cứ tốn kém, dễ bị phát hiện và dễ tổn thương. Điều quan trọng là sự tổn thất của các tàu ngầm loại này là chấp nhận được với Việt Nam, trong khi đó chúng lại có khả năng gây phiền toái lớn cho những con tàu có giá trị rất cao của hải quân Trung Quốc.

    CHUẨN BỊ MẶT TRẬN VỀ NGOẠI GIAO.

    Trước khi chiếm Crimea, Putin vô cùng tự tin là vũ khí khí đốt của mình sẽ rất khó thay thế với châu Âu, và nước Nga do đó rất khó có thể bị châu Âu cô lập. Quả thực các nước châu Âu do Đức dẫn đầu đã vô cùng khó khăn khi đưa ra các quyết định trừng phạt kinh tế Nga, thậm chí là vô cùng miễn cưỡng. Nhưng Châu Âu hùng mạnh hơn người ta nghĩ và năng lực thích nghi của các cơ chế thị trường ở Châu Âu lớn vượt mọi hình dung. Đến nay đã hơn 2 năm Nga bị cô lập khỏi châu Âu và Châu Âu thì đã hoàn toàn thích nghi sau cú sốc ban đầu. Trong khi đó nước Nga kiệt quệ.

    Việt Nam hiện nay có quan hệ kinh tế và chính trị rất tốt với phương Tây, quan hệ với Mỹ cũng nồng ấm hơn bất cứ thời điểm nào trong quá khứ. Việt Nam cũng đã gia nhập TPP, về bản chất chính là một dạng Nato kinh tế do Mỹ dẫn đầu nhằm loại Trung Quốc khỏi các luật chơi thương mại. Trong trường hợp bị Trung Quốc lôi vào một cuộc chiến, Việt Nam cần nỗ lực bằng mọi giá để đạt được các trợ giúp về ngoại giao, kinh tế và pháp lý từ các nước châu Âu. Trong khi đó, các nước như Mỹ, Nhật và Ấn Độ, vì nhiều lý do chiến lược thiết thực hơn, có thể giúp Việt Nam nhiều hơn về phương tiện chiến tranh. Trong mọi trường hợp, nguồn cung vũ khí từ Nhật và Ấn Độ cần được tính toán tới, đặc biệt là từ Nhật Bản, vì đó sẽ là nguồn cung có thể tin cậy được trong trường hợp có chiến tranh với Trung Quốc.

    Sự tồn tại của Campuchia, Thái Lan và phần nào đó là Lào đã khiến Trung Quốc xé nát hoàn toàn sự đoàn kết của ASEAN. Tính đến nay, sự tồn tại của ASEAN đem lại rất ít lợi ích thực tế cho Việt Nam, cả về kinh tế, chính trị lẫn thương mại. Việt Nam hầu như nhập siêu từ hầu hết các nước Asean nhóm trên, cơ cấu hàng hóa rất tương đồng và bị cạnh tranh mạnh, thậm chí ngay trên sân nhà. Các hiệp định kinh tế ký với tư cách cộng đồng ASEAN với các nước khác trên thực tế hầu như đã được thay thế bởi các hiệp định thương mại song phương ký trực tiếp giữa Việt Nam với các nước đó, ví dụ BTA với Mỹ, FTA với EU, gần đây nhất là FTA với Hàn Quốc và các thỏa thuận thương mại với Nhật Bản - Đó đều là những đối tác kinh tế và đầu tư lớn nhất và quan trọng nhất của Việt Nam. Với phần còn lại của thế giới, hoạt động thương mại của Việt Nam được điều chỉnh trong khuôn khổ WTO. Có thể nói, cơ chế ASEAN hiện nay có rất ít giá trị đối với Việt Nam, thậm chí các hiệp định thương mại ký giữa Trung Quốc và ASEAN đang gây hại cho Việt Nam, vì Việt Nam là nước lớn duy nhất trong ASEAN có chung biên giới với Trung Quốc, các nước khác thì không. Do đó nhiều điều khoản vô hại với họ nhưng gây tổn hại nặng cho Việt Nam.
    Trong nhiều năm qua Việt Nam và nhiều nước Asean như Singapore, Indonesia, Malaysia và Philipin cố gắng sử dụng cơ chế đống thuận Asean để đàm phán giải quyết biển Đông với Trung Quốc nhưng đã bị Trung Quốc dùng con cờ Campuchia, Thái Lan và Lào phá nát. Campuchia thậm chí còn lợi dụng điều này để thu về các khoản viện trợ và đầu tư béo bở từ Trung Quốc. Campuchia làm vậy chẳng có gì sai, họ phải vì lợi ích của mình. Nhưng việc Việt Nam cứ để chuyện đó diễn ra thì lỗi thuộc về Việt Nam.

    Có lẽ Việt Nam cần ngồi lại với Philipin, Indonesia, Singapore và Malaysia để bàn tới việc thiết lập một cộng đồng kinh tế 5 nước, lấy tên là Cộng đồng kinh tế vành đai biển đông chẳng hạn. Ít nhiều tầm nhìn giữa Việt Nam và các nước này đối với các vấn đề chung trong khu vực đều có nhiều điểm chung và chia sẻ được nhu cầu duy trì hòa bình và hiện trạng tại biển Đông. Và Việt Nam cần tính tới việc rút khỏi Asean, hoặc nếu không thì cũng đình chỉ các hiệp định thương mại gây hại cho mình từ asean, đồng thời chấm dứt việc trông chờ vào các tuyên bố chung asean trong câu chuyện biển đông. Điều đó sẽ có tác dụng cảnh tỉnh các quốc gia như Campuchia, vốn được lợi nhiều khi tham gia vào khối, và thậm chí là vô hiệu hóa luôn quân cờ Trung Quốc tốn sức đầu tư này.

    Mỹ là cường quốc mạnh nhất hoàn cầu. Nó vẫn luôn có nhu cầu làm bá chủ. Nước Mỹ chinh phục thế giới bằng thương mại, văn hóa và quyền lực mềm. Trên thực tế Mỹ không có tham vọng về lãnh thổ. Nó từng trả độc lập vô điều kiện cho Philipin ngay khi kết thúc thế chiến hai. Mỹ cũng không chiếm của Nhật Bản hay của Đức, những quốc gia bại trận, dù chỉ một mẩu đất. Nước Mỹ tuy yếu đi nhưng vẫn vô cùng hùng mạnh. Dù thế nó có quá nhiều mối bận tâm khi can thiệp ở mọi nơi trên thế giới. Các vấn đề Ucraina, Syria, Châu Âu và Triều Tiên đều khiến Mỹ bị phân tán và chia nhỏ nguồn lực. Do đó những thứ Mỹ còn để dốc vào biển Đông nếu nó muốn cũng không hề nhiều.

    Mỹ chắc chắn không bao giờ đi đánh nhau thay cho ai. Nó chỉ đánh vì chính nó. Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc không đủ lớn để cấu thành chiến tranh nếu Trung Quốc chưa tấn công trực tiếp Nhật Bản hay Philipin. Do đó trông đợi vào Mỹ là một sự sai lầm, nhưng nếu không trông chờ vào nó thì lại là một sai lầm còn lớn hơn. Mỹ có thể dẫn đầu một cuộc chiến cấm vận một phần của phương Tây với Trung Quốc nếu Trung Quốc chủ động xâm lược láng giềng. Mức độ cấm vận có thể giống như những gì phương Tây đã làm với Nga: tăng dần theo thời gian và theo mức độ thích ứng của các cơ chế thị trường Âu châu. Tất nhiên Trung Quốc có thể tự tin rằng điều đó không thể xảy ra vì Trung Quốc đang là nhà cung ứng hàng hóa lớn nhất thế giới, cũng giống như Putin từng tự tin rằng Nga không thể bị cầm vận kéo dài, thậm chí bị từ chối mua khí đốt vì Nga là nhà cung cấp khí đốt lớn nhất cho châu Âu. Kinh tế thị trường phương tây có khả năng thích nghi tuyệt vời. Chỉ cần có đủ thời gian, việc cấm vận một phần tiến tới toàn phần Trung Quốc là điều không phải Mỹ và đồng minh không làm được. Mỹ có nhu cầu làm việc này, và nó có thể ảnh hưởng tới các đồng minh đã gắn kết rất lâu dưới cái bóng của nước Mỹ.

    Trong mọi tình huống, Việt Nam cần thúc đẩy mọi nỗ lực ngoại giao để tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nước trên thế giới, dù chỉ là về tinh thần nếu Trung Quốc tấn công.

    KẾT LUẬN:

    Một cuộc chiến cục bộ tại Biển Đông với Trung Quốc, Việt Nam có thể bại tan tác và mất tất cả những gì còn lại nếu để Trung Quốc áp đặt luật chơi. Tuy nhiên nếu có chuẩn bị tốt và đánh theo cách của mình thì Việt Nam hoàn toàn có thể lật lại thế cờ.

    Việt Nam sẽ chịu thiệt hại lớn trong mọi trường hợp, nhưng nếu thắng, nó sẽ giữ được Trường Sa, kiểm soát được vùng hải phận phía Nam và duy trì được chủ quyền với hải phận phía Bắc. Điều cốt tử là Việt Nam sẽ thoát khỏi bóng ma kinh tế Trung Quốc. Nó sẽ gắn kết chặt hơn với Mỹ, Nhật, Châu Âu, vốn là những đối tác Việt Nam có thể buôn bán thực sự bình thường, chứ không phải buôn bán với một đối tác luôn có động cơ phá hoại như Trung Quốc. Cái giá phải trả của Việt Nam là lớn, nhưng tương lai đất nước sẽ sáng sủa hơn rất nhiều. Tất nhiên, với điều kiện Việt Nam phải trụ được trong cuộc chiến cục bộ ấy chứ không phải là thất bại.

    Tuy nhiên cách tốt nhất để thắng một cuộc chiến tranh là ngăn ngừa nó xảy ra. Vì thế thay vì việc ngồi chờ để đợi đến lúc Trung Quốc chọn một thời cơ thích hợp đánh Việt Nam, chúng ta cần tìm mọi cách để Trung Quốc không có cái thời cơ ấy. Điều tốt nhất có thể làm là củng cố năng lực quốc phòng ngày một mạnh, thắt chặt các mối quan hệ kinh tế với các đối tác tốt, kiểm soát và loại trừ sự thâm nhập và tràn ngập lãnh thổ phi pháp của công nhân và thương nhân Trung Quốc mà đi kèm theo đó chắc chắn là vô số nhân viên tình báo. Chuẩn bị mọi phương án để bảo tồn lực lượng trước các đòn tất công bất ngờ, bảo mật các căn cứ... Để khiến Trung Quốc nhận thức rõ nó không thể đánh Việt Nam, và nếu đánh sẽ phải bước vào một cuộc chiến không có đường ra. Đó mới chính là thượng sách cho nguy cơ xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc.

    (Còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    17 phản hồi

    @ DinhLap: @ Ngọc Hân: Nhận xét đúng đích thực và khách quan công độ. Làm người ở đời muốn làm cái gì? muốn nói cái gì? phải nên áp dụng tâm từ bi trí tuệ Phật Pháp, thì tâm tự kỷ sẽ tự nhiên bình tỉnh bình tịnh coi tin tức thế giới đúng chính xác đích thực hơn là coi bằng đôi mắt vô minh tầm thường đấy. (((:

    Tôi nghĩ bọn Tầu không đánh VN, vì đảng cs luôn "ngoan ngoản" nghe lời Tầu, chúng chỉ doạ thôi. Nếu chúng muốn chiếm hai đảo Song Tử Tây và Song Tử Đông của VN thì rất dể, chúng chỉ cần phong toả trên biển và trên không, cắt đứt đường tiếp liệu, thế là xong, nhưng đây chưa phải lúc chúng cần làm vậy. Bọn Tầu muốn xây "biệt khu" trên đất nước nầy chổ nào chẳng được, con đường tơ lụa thì bọn csVN cũng chịu gia nhập, Tầu không có lý do để đánh VN, còn tính chuyện phòng xa thì cứ tính đi, nhưng đã bán nước cho Tầu thì bí mật quốc phòng của VN cũng là "bật mí" cho Tầu, chắc quí vị còn nhớ trận đánh núi Nhị lão năm xưa, mọi kế hoạch hành quân của bộ đội đều bị một sĩ quan của bọn cs thông báo cho Tầu, nên bộ đội đã chết oan uổng rất nhiều. Bởi vậy còn đảng cs thì không thế chống Tầu, đến bao giờ thì 90 triệu người dân VN mới chịu hiểu điều đơn giản nầy ?

    Trans-Pacific Partnership (TPP) của Phương Tây Hoakỳ (mà toàn thế giới ai ai cũng hây biết) là để chận bớt sự bành trướng của Trung Quốc ở biển đông, chỉ đơn giản có thế thôi. Còn đảo Trường Sa và Hoàng Sa (mà toàn thế giới ai ai cũng hây biết) là do CSVN tham nhũng, yếu hèn, bán nước cho Trungquốc lâu rồi, chớ chuyện nầy hoàn toàn không có tí xíu nào mắc mớ tới Phương Tây Hoakỳ hết nhé!.

    Những công nghệ vũ khí hạt nhân (toàn thế giới ai ai cũng hây biết) là do nước Nga ngầm bán cho Iran và chú Ủn, để quậy phá trật tự thế giới bất yên bất ổn, mục đích để nước Nga bán thêm vũ khí lo cho kinh tế khó khăn, đồng thời ông Putin thật vô cùng vui mừng hoan hỉ, đã ngầm xúi giục chú Ủn chơi trò hạt nhân, với 2 cường quốc Hoakỳ và Trungquốc như vậy, sự thật là ngàn chân vạn khắc nhé!.

    Bạch Cung của Hoakỳ luôn luôn tiếp kiến toàn thể thế giới chúng sanh tới thăm viếng, và Tổng Thống Hoakỳ Obama luôn luôn "thương người như thể thương thân, thương yêu đồng loại như con một nhà." Hơn nữa, Tổng Thống Hoakỳ luôn luôn tôn trọng nhân quyền chúng sanh bình đẳng. Cũng như Đức Đạt Lai Đạt Ma bị TQ ngang ngược phản đối, nhưng Tổng Thống Hoakỳ vẫn hoan nghênh tiếp kiến!.

    Bất cứ ông Trọng, ông Sang, ông nghèo, ông giàu, ông hèn, ông hạ nào ở Việtnam tới Bạch Cung Hoakỳ thăm viếng, Tổng Thống Hoakỳ Obama đều vui mừng tiếp kiến cả. Nhưng Tổng Thống Mỹ sẽ không bao giờ tin tưởng CSVN nữa, bởi vì ngày xưa nước Mỹ giúp nước Việtnam thật nhiều, lúc đó ông Hồ Chí Minh nói láo là muốn nước Việtnam thân tự do dân chủ của Phương Tây, nhưng sau đó ông Hồ Chí Minh phản bội người Mỹ đi thân TQ. Không ấy, thì người Việtnam đã có tự do dân chủ lâu rồi!.

    Đa số những nước cộng sản độc quyền độc tài toàn là hại dân, hại nước, hại thế giới. Hy vọng toàn thể người Việtnam và Á Đông, hẩy nên tu phước tu duyên thương mến Phương Tây Hoakỳ, học hỏi Phương Tây Hoakỳ khảng khái hỉ xã, cởi mở tâm linh thông minh sáng suốt cho tự kỷ. Đa số nhân dân VN dân trí kém thấp lắm, hẩy nên học tập bình tỉnh lắng nghe và nghiên cứu chân lý đích thực, chớ không nên nghe những tin tức truyền thông, toàn là tin gà tin vịt tin bóp méo sự thật, rồi thành kiến với Phương Tây Hoakỳ là tự tạo nghiệp ác vào thân tâm, và hại khỗ lụy cho con cháu tự kỷ thế thôi. Thế kỷ 21 nầy, nếu thế giới mà không có các nước Phương Tây và Hoakỳ, thì thế nhân thế giới sẽ bị tận thế hết thật nhanh nhé!.

    Trả lời bác Tuấn 34 :

    Bác chỉ cần gõ Wiki tiếng Pháp bài "Armes nucléaires en Corrée du Nord" (Vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn) thì sẽ thấy cả vạn người biết chứ không phải vài ngàn người biết. Còn tụi tình báo Tây phương thì khỏi nói, tụi nó đều biết tỏng cả: đưa lúc nào, trong trường hợp nào... Đó chỉ là trò mặc cả , lừa bịp lẫn nhau, chưa biết ai đã lừa được ai, vì Mỹ cũng vin vào đó để lấy cớ tiếp tục đóng quân ở Nam Hàn và Nhật. Tôi xin dịch mấy đoạn trong bài Wiki này :

    "... Bắc Hàn là một nước nghèo nhất ĐNÁ, lại sống theo lý tưởng tụ cung tự túc (Juche). GDP chỉ có 15,4 tỷ đô (với số dân gần 25 triệu, đã phải bỏ ra 1/4 cho quân sự, lại bị quốc tế phong tỏa, bị biết bao tai biến thiên nhiên (3 năm đói dài từ 95 đến 98 mỗi năm chết đói 1 triệu người, bây giờ có sống cũng nhờ gạo của Tàu), mà có thể có đủ tiền, đủ phương tiện làm bom hạt nhân, làm tên lửa đạn đạo, thì ai mà tin được... "

    " ARES (một cơ quan nghiên cứu) ước lượng chương trình nguyên tử quân sự của Bắc Hàn chỉ là một sự đấu thầu lại của TQ, một cách để TQ có thể hoạch định một cách tối ưu kho vũ khí (hạt nhân) của mình mà không vi phạm Hiệp định giói hạn vũ khí hạt nhân (TNP) mà Bắc Kinh đã ký năm 1992 ... Từ đó và trong vòng bí mật, TQ đã đưa cho Bắc Hàn những trái bom nhẹ để tập bắn thử kẻ địch (mini-nukes) "

    Tôi cũng xin nói thêm là tất cả Bắc Hàn chỉ có trường đại học Kim Nhật Thành là có học trình dài nhất là 4 năm, trong đó đã 50% phải nhồi sọ Tư tưỏng Juche của Kim Nhật Thành thì học Vật lý hạt nhân lúc nào? Thử coi trình độ của thống chế Ủn thì biết. Cũng du học Thụy sĩ như con cái chú Ba Ếch nhà mình đấy !

    Bác Phong Uyên có nhiều nhận xét/bình phẩm rất thú vị.
    Còn cái vụ "Tàu đưa vũ khí hạt nhân cho chú Ủn", có lẽ bác chỉ bấm quẻ bói toán thôi, hay là bác dựa vào nguồn tin nào? Tại vì, cuộc âm mưu (conspiracy) nào mà muốn thành công thì phải dựa mức độ giữ được bí mật chặt chẽ. Bác mà biết được bí mật đó thì đã có cả ngàn người khác biết trước rồi. Mỹ và châu Âu mà biết là Bình đã dúi vũ khí HN vào tay Ủn thì chết mẹ thằng Tầu khựa mất rồi! Bác nghĩ sao?

    Anh Lãng ơi ! Nếu Tàu mà đánh VN thì chúng sẽ dùng chiến thuật Blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng) và toàn diện của Hitler :
    - Chúng sẽ huy động 25-30 sư đoàn như anh nói, đánh suốt dọc biên giới từ Lai Châu cho tới Móng cái. Chúng sẽ không dại gì tràn sâu vào đất liền quá 30 Km và không ở lâu quá 30 ngày như Hoàn Cầu Thời báo" đã huyênh hoang tuyên bố. Nhưng chắc chắn là với tinh thần " mackeno " hiện nay, cũng đủ để quân và dân giẫm chân nhau mà chạy, chả khác gì miền Nam năm 75.

    - Cũng như anh nói : Cùng một ngày, nếu không cùng một giờ, 200-300 oanh tạc cơ sẽ xuất phát từ Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam... tấn công tiêu diệt mọi căn cứ hải quân, không quân từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh.

    - Cũng trong ngày, tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình của các chiến hạm lớn và lực lượng tàu ngầm của chúng, nằm sẵn ở ngoài khơi Việt Nam sẽ bắn phá tan tành các căn cứ hải quân, không quân từ Hà Tĩnh trở vào, đặt biệt là Cam Ranh. Thử hỏi mấy tàu Kilô mua của Nga, không biết cũ hay mới, có được một ki lô nào so với các chiến hạm của Tàu và 40 cái máy bay mua của Nga có đủ thời giờ cất cánh không ?

    Nhưng tôi nghĩ Tàu chả cần phí một viên đạn làm gì : Hai đứa Tàu và Mỹ đã điều đình với nhau rồi. Mỹ không mong gì hơn là vẵn giữ được nguyên trạng (statu quo) : nghĩa là giữ được Nam Hàn, Nhật Bản (Điếu Ngư) và Đài Loan và chia nhau Việt Nam : Qua TPP, Việt Nam sẽ nằm trong quỹ đạo kinh tế của Mỹ. Để đổi lại, Hoàng Sa-Trường Sa sẽ "de facto" thuộc về Tàu. Và cái quan trọng hơn hết là chế độ chính trị ở Việt Nam sẽ không được thay đổi và phải luôn luôn nằm dưới sự khống chế của Tàu. Đó là lí do mà Nguyễn Phú Trọng đã được Mỹ tiếp đón và Nguyễn Tấn Dũng bị Mỹ bỏ rơi.

    Tôi cũng nói thêm với anh Lãng là vũ khí hạt nhân của chú Ủn là củaTàu đưa cho để dọa Nhật và Nam Hàn chứ sức mấy mà các nhà khoa học Bắc Hàn chết đói làm được.Nói tóm lại, Bắc Hàn của ba đời chú Ủn, cũng như Việt Nam của bác Tổng Trọng, chỉ là những người lính canh cửa cho Tàu cộng.

    Tôi cũng nói thêm với bác VM, Ucraina là cái nôi đã sinh ra nước Nga và người Ucraina luôn luôn tự hào đã truyền bá văn minh văn hóa cho người Nga, trái với các vua chúa "Ố Nàm " ngày xưa luôn luôn coi Tàu là nhất và rất hãnh diện có tổ tiên người Tàu như Thục An dương vương chẳng hạn. Người có tinh thần dân tộc không phải là Thục Phán mà là Triệu Đà (thật ra là người nước Triệu), đã dám xưng đế, lập ra nước Nam Việt, đã bao nhiêu lần đem quân tới đánh nước Tàu của nhà Hán. Tôi cũng không biết bác VM nghĩ gì mà lại ghép" ý thức bảo vệ tổ quốc rất cao của ngừoi Việt Nam " với tổ chức Đảng ?

    @ Ngọc Hân:

    Đồng ý với NH là: còn thân xác là còn khổ, sống ở bên kia hay bên này ải Nam Quan thì cũng vẫn khổ, nhưng chừng nào người Tàu còn đẻ con, thì người Việt phải tạm gác chuyện tu luyện thành tiên để ráng giữ lấy nước. Chừng nào hết người Tàu trên thế gian thì chúng ta ngừng sinh con và dứt duyên nợ với cõi trần cũng được vậy.
    Chúc Ngọc Hân mạnh khoẻ và mau chóng đắc đạo. (Thỉnh thoảng nhớ xuống núi, check xem Trọng Lú có dâng nước cho Tàu chưa nhé).

    @ Lèo: Thân người là vô thường, có thân người là có thống khỗ, cho dù thân người sống ở trong hoàng cung lộng lẫy huy hoàng cũng có thống khỗ, huống chi chỉ là sống ở phía nam ải Nam Quan trong biển khỗ địa ngục trần ai? Ở trên mạng "Internet You Tube" có thật nhiều Tu Sĩ Ni Sư Phật Giáo Phương Tây thuyết pháp thật hây, (Pema Chodron và Thubten Chodron.) Bạn cần thiết phải nên ủng hộ tâm linh của bạn đi tu học Phật Pháp, thì tâm linh của bạn mới có phép lực vạn năng, mà trở về dạy thân người của bạn hiểu biết đạo lý "buông xã tất cả sẽ có tất cả" là cái gì nhé? Chúc bạn mạnh khỏe bình yên và sớm giác ngộ chân lý nhân sinh nhân quả nhé!.
    Ngọc Hân.

    @ Ngọc Hân

    Nếu người Việt không sanh con nữa, còn người Tàu tiếp tục sanh con thì về sau này người Tàu chỉ cần di tản xuống phía Nam, vượt qua ải Nam Quan để định cư mà khỏi tốn một viên đạn.

    Chú ý..Chú ý..Trung Quốc chỉ muốn làm hùm làm hổ làm oai, để không bị mất thể diện, (vì thua Mỹ) chỉ đơn giãn thế thôi. Lúc nầy toàn thế giới đang nhìn vào TQ, ông Tập không dám chiến tranh với ai đâu. TQ sợ nhứt là Nhật Bản và Phương Tây, (như chuột sợ mèo vậy.) Tâm lý người TQ khi càng run sợ, thì càng muốn làm oai bên ngoài để che đấp cái run sợ bên trong, và đồng thời để cho các nước nhỏ thấy sợ mà kính nể TQ thế thôi. Chúng sanh khỏi lo tận thế nhé, vì thế chiến đệ tam chưa tới thời !.

    Trung Quốc không cần chiến tranh với Việtnam, mà Việtnam bên trong nội bộ đã dần dần thuộc về TQ rồi. TQ thật nhanh sẽ thống trị nước VN như thống trị nước Hong Kong hiện nay (của TQ) vậy. Sau đó TQ sẽ cho toàn bộ Khỗng Tử Giáo vào trường học VN. Bấy lâu nay TQ thường nói: "Nhân dân VN đa số toàn là hỗn láo ngu ác ngang ngược, là tại vì thiếu học Khỗng Tử Giáo, và Khỗng Tử Giáo sẽ giúp người VN ngoan hiền hơn." Người TQ xưa nay, không thích thống lĩnh trật tự thế giới, (mặc dù ông Putin có ngầm xúi giục ông Tập quậy hoài, vì nếu trật tự thế giới đại chiến, thì Putin mới bán được nhiều vũ khí.) Sự thật mục tiêu đích thực của TQ là muốn dưởng binh dưởng lực để chiếm đoạt đất nước Nga hết. Có thể TQ sẽ thực hiện tâm nguyện trong vòng 30 năm, (vì dân Nga còn ít) lúc đó chính là đại thế chiến bùng nỗ kinh hoàng khủng khiếp, và tất nhiên là thế giới sẽ ít nhứt là có mấy triệu triệu nhân loại sẽ tự kỷ tận thế. Chỉ là con người tự kỷ tận thế, chứ trái đất thì chưa tận thế nhé ! .

    Vì vậy, nhóm chúng tôi mới công tác từ thiện, khuyến khích thế giới nhân loại là đừng nên sanh con nữa, mới không hại con hại cháu sẽ bị chạy tị nạn đói chết, hây sẽ bị bom đạn máu chảy lai láng chết thống khỗ, v.v Nhưng rất tiếc là có người ngu si nghe người hảo tâm khuyên đừng sanh con thì tức ghen, tức khỗ, tức giận nữa chớ. Hy vọng toàn thể thế giới nhân loại phải nên ủng hộ Phương Tây Hoakỳ, thống lĩnh trật tự thế giới mãi mãi. Không ấy, thì thế giới hơn 7 tỷ người sẽ bị chia rẽ đại loạn, và sẽ chủng tộc giết chủng tộc, tôn giáo giết tôn giáo, người ác giết người ác tận thế hết. Cũng như thuở xưa ác thú khủng long giết ác thú khủng long chết tận thế hết chủng vậy, nhưng chúng đã muôn muôn đời đời hết chiến tranh nữa, khỏe quá khỏe ! .

    Hiện giờ cơ hội đánh nhau giữa VN và TQ thấp, không có nghĩa là sẽ không có đánh nhau trong tương lai, đặc biệt là tình hình biển Đông giờ ngày càng căng thẳng. Chẳng hạn như nếu TQ muốn "xuất khẩu" những bất ổn trong nước bằng một cuộc chiến tranh trong phạm vi hạn chế ở biển Đông, điều này rất có thể xảy ra. Còn CSVN dù muốn hay không, phải bắt buộc đánh nếu không muốn chế độ bị thay đổi chủ. Có những diễn biến phức tạp trong tương lai hơn là cái nhìn đơn giản của đa số mọi người. Giống như cuộc chiến tranh biên giới 1979 với TQ, đừng nói chi những người dân bình thường ngay cả tướng lãnh của CSVN không ai nghĩ rằng TQ sẽ tấn công (vì ít nhất có LX bảo kê), nên đa số quân đội được điều động qua chiến trường Tây Nam. Vì thế TQ tập kích ở phía Bắc rất là thuận lợi trong những ngày đầu của cuộc chiến.
    Một nhà lãnh đạo giỏi phải có cái nhìn rất xa và dự phòng trong mọi trường hợp. Vì vậy bây giờ VN mới tậu tàu ngầm là quá muộng màng đáng lẽ ra những chuyện này CSVN đã phải chuẩn bị rất lâu (ít nhất là phải từ năm 79-80) chứ không đợi đến những năm gần đây mới mua sắp.

    Một số nhà văn, nhà chính trị nổi tiếng đã nói rất giống nhau "muốn có hoà bình, phải chuẩn bị chiến tranh". VN cũng thế thôi, không thể vào hạng ngoại lệ. Phải nghĩ đến tình huống bị tấn công (ở đây nói về chiến tranh với vũ khí quy ước) và lo chuẩn bị phòng thủ về nhiều mặt.

    Vấn đề là tổ chức phòng thủ và phản công như thế nào để ít tốn kém và đạt hiệu quả cao. Và phải cân bằng giửa phí tổn và lợi ích. Nếu tiêu nhiều quá sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, chính trị, xã hội. Nếu tiêu ít quá (như vì cứ ỷ y rằng TQ sẽ không tấn công nên chẳng cần phòng thủ) đây sẽ là lời mời gọi rất ngon ngọt cho TQ nhào vô !

    Ít tốn kém nhất là dựa vào dân, sức lực của dân, tinh thần của dân, tài vật của dân. Nhưng chế độ cộng sản đương thời có thể làm được việc này không? Hay họ chỉ thi hành chính sách gây tác dụng ngược lại?

    Bài viết công phu và đọc rất thú vị. Tác giả hẳn đã bỏ ra nhiều thời giờ để viết và xây lâu đài trên cát trong óc tưởng tượng phong phú của tác giả.

    Phương án của tác giả chả biết có lợi hại bằng cái nỏ thần của An Dương Vương không ? Chắc là không. Thế mà An Dương Vương còn thất bại thì phưong án của tác giả liệu có đem lại kết quả gì không? Vấn đề không nằm ở cái nỏ thần hay ở phương án mà nằm ở "người". Vấn đề của An Dương Vương là Mỵ Châu. Vấn đề của Việt Nam hiện giờ là đám Mỵ Châu Ba Đình. Khi đám Mỵ Châu Ba Đình đã bảo việc biển, đảo có mất để cho con cháu chúng nó lo thì còn nghĩ đến việc đánh đấm gì nữa. Nhất là khi một anh chính ủy chẳng có kinh nghiệm cầm quân sắp được lên làm bộ trưởng quốc phòng.

    Nên nghĩ đến vấn đề Mỵ Châu trước khi nghĩ đến vấn đề nỏ thần.

    Chưa có thì giờ đọc hết bài nhưng mới lướt qua phần "các chuẩn bị" thấy không có "chuẩn bị lòng dân", "chuẩn bị tiềm năng kinh tế". Dù tác giả cảnh báo bài dài cách mấy vẫn thấy đó là sự thiếu sót nghiêm trọng.

    Trong cái tựa (P3) nghĩa là gì nhỉ?

    Nhảm nhí, làm gì có chuyện cha con đánh nhau để bọn tư bản hưởng lợi. Trong khi đứa con VC cực kỳ ngoan ngoản, dễ bảo, sẵn sàng dẫn đường để cha TC chiếm trọn biển Đông, còn đứa con Bắc Hàn CS luôn quậy phá để phân tán lực lượng bọn tư bản. Chỉ những anh tư bản nhà giàu sợ chết luôn bị bọn CS lừa gạt mà thôi. Hàn cộng nếu có vũ khí hạt nhân chúng đã cho thế giới thấy cây nấm rồi, vì như vậy chúng mới làm tiền được bọn tư bản chứ thử trong lòng đất làm gì. VC thì không hề có ý kiến gì khi TC xây dựng phi trường ở Trường Sa trái lại còn đàn áp nhân dân có hành động phản kháng cha TC.

    Trong bài viết này có một số câu hỏi rất quan trọng, là mấu chốt của mọi vấn đề, nhưng tác giả không đi sâu tìm hiểu mà đã vội vàng cho đáp số, chỉ để diễn giải quan điểm của mình.

    Thứ nhất, liệu TQ có nhất định phải đánh Việt Nam không?

    Tác giả đưa ra một loạt lý do, trong đó nói đến khó khăn của TQ, sự tập trung quyền lực, sự đầu tư cho quân sự, nhu cầu xuất khẩu "khủng hoảng", các cơ hội cho TQ - để kết luận rằng TQ sẽ nhất định phải đánh Việt Nam.
    Nhìn rộng hơn, phải thấy mưu đồ, mục đích của TQ không phải là khuất phục VN, là độc chiếm biển Đông mà là chia nửa thiên hạ với phương Tây. TQ sẽ bắt chước Mỹ dùng văn hóa, tiền bạc, khoa học kỹ thuật, và quân sự để chia sẻ thiên hạ với Mỹ hoặc thậm chí soán ngôi của Mỹ. Đối thủ chính của TQ là Mỹ; ở khu vực châu Á là Ấn Độ và Nhật.
    Trên con đường đến mục tiêu rất to lớn đó, liệu TQ có cần hay có nên xuất chiêu quá sớm để đánh VN theo kiểu hủy diệt, giống như tác giả mô tả không?
    Nên nhớ Việt Nam không hề giống Ucraina, và từ xưa đến nay Việt Nam hay có khả năng chống được kẻ thù rất mạnh. Nếu khác biệt về vũ khí là mấu chốt thì quân đội Việt Nam đã thua Pháp và Mỹ từ rất lâu rồi. Kể cả khi có thể khống chế hoàn tòa không phận, hải phận hay áp đảo về vũ khí, chuyện thắng hay bại luôn phụ thuộc vào bên nào chịu thua trước. Việt Nam hiện nay có thể không có hiệp ước đồng minh quân sự với bất kỳ ai, nhưng một khi chiến tranh với TQ xảy ra, nhất là theo cách tác giả mô tả, chắc chắn sẽ có rất nhiều nước vì quyền lợi của chính mình viện trợ cho Việt Nam những loại vũ khí hiện đại nhất để chống phá TQ. Liệu TQ có nhìn thấy viễn cảnh đó không? liệu TQ có muốn đánh Việt Nam hay xuất khẩu khủng hoảng đến mức dại dột chui vào một cuộc chiến đầy rủi ro, khi họ còn chưa thực sự quá hùng mạnh, ít nhất về mặt quân sự, với các đối thủ thực sự của họ trên thế giới?
    Trên con đường trở lại làm bá chủ thế giới, TQ thực sự cần có đồng minh. Việt Nam đang ở hoàn cảnh dễ trở thành đồng minh của TQ nhất. Trong suốt lịch sử Việt Nam, ảnh hưởng từ TQ quá sâu đậm về mọi mặt và Việt Nam thực sự chỉ mới tách ra khỏi vòng ảnh hưởng của TQ trong vòng 100 năm trở lại đây. Quyền lợi tại biển Đông là mâu thuẫn duy nhất hiện nay giữa Việt Nam và TQ. Chỉ cần TQ có thể đảm bảo các lợi ích cho Việt Nam tại biển Đông thì các mâu thuẫn sẽ được gỡ bỏ. Chỉ cần Việt Nam không cản bước tiến của TQ thì TQ không nhất thiết phải tấn công Việt Nam.

    Điều Việt Nam thực sự cần ở biển Đông là quyền lợi kinh tế. Việt Nam quá bé để có thể ganh đua kiểm soát biển Đông. Giữ các đảo ở biển đối với Việt Nam chỉ là để củng cố chủ quyền và quyền khai thác biển. TQ cũng cần tài nguyên biển, nhưng kiểm soát biển Đông vì an ninh và vị thế cường quốc trong tương lai mới là nhu cầu quan trọng nhất. Việt Nam hoàn toàn có thể cho phép TQ kiểm soát biển Đông về mặt quân sự nếu TQ nhượng bộ các yêu sách của Việt Nam về quyền khai thác biển. Khi những nguyên tắc sử dụng biển Đông được cùng thống nhất và đem lại quyền lợi thỏa đáng cho các bên biển Đông sẽ ổn định trở lại và trở thành không gian thinh vượng chung cho các quốc gia.

    Những nghi kỵ hành vi gây bất ổn, xung đột hiện nay chỉ là biểu hiện của việc chưa thống nhất được các nguyên tắc sử dụng khai thác biển Đông. Không loại trừ có nhiều kẻ muốn biển Đông trở thành mồi lửa chiến tranh khu vực nhằm kìm hãm các nước hay khiến các nước phải dựa vào sự bảo trợ của Mỹ. Có thể những hành động TQ đang làm là nhằm chứng tỏ TQ có thể làm được những gì, nhằm ép các nước khác phải có những thỏa thuận với TQ. Đối đáp lại, Việt Nam cũng đã có những hành động nhằm khẳng định rằng TQ không thể muốn quá nhiều thứ tại biển Đông.

    Câu hỏi thứ hai: nếu đánh Việt Nam, liệu TQ có tiến hành đánh phủ đầu như tác giả mô tả?

    Nếu xem xét hoàn cảnh TQ thì sẽ thấy là TQ sẽ tìm mọi cách hạn chế các xung đột quân sự trên biển Đông vì mục đích của TQ cuối cùng là khẳng định vai trò kiểm soát biển Đông về mặt quân sự, khi còn đang tiến hành xây dựng lực lượng. TQ không cần phải đánh vào đất liền Việt Nam để phòng thủ mà sẽ có các biện pháp để Việt Nam không dám hay không thể sử dụng các căn cứ trên đất liền để tấn công lực lượng TQ trên biển. TQ giờ cũng không cần phải đánh các đảo của Việt Nam vì dù đánh hay không đánh, với việc tập trung khí tài quân sự, sân bay trên các đảo nhân tạo, TQ đã có lực lượng đồn trú đủ để khống chế biển Đông.

    Vậy TQ thực sự chỉ có nhu cầu đánh Việt Nam nếu Việt Nam thực sự có mưu đồ dùng quân đội tập kích lực lượng quân đội TQ trên biển Đông. Điều này hiện nay không có. Không chỉ vì VN không đủ lực lượng, mà vì bản thân người Việt đã chán ghét chiến tranh và Việt Nam thực sự chẳng có lợi gì khi chủ động tấn công TQ.

    Cũng phải nói thêm rằng, lập luận trên dựa trên tình hình hiện tại, đó là ý thức bảo vệ Tổ quốc rất cao của người Việt Nam với tổ chức Đảng, quân đội, nhà nước tương đối chặt chẽ, thống nhất. TQ chắc chắn ý thức rõ điều đó nên họ sẽ không bao giờ bừa bãi tấn công Việt Nam.
    Về việc TQ chiếm các đảo đá ở Trường Sa, sự thực là các đảo đá đó lúc đó chưa có người ở và TQ cũng như Việt Nam cùng tuyên bố chủ quyền. Năm 1988, Việt Nam đưa công binh ra các đảo đó để xây dựng cột mốc, có thể có ý định xây dựng cả các nhà chòi (như ở một số đảo khác) nhằm khẳng định chủ quyền. TQ lúc đó nổ súng vì không thể yêu cầu công binh Việt Nam rời bỏ đảo.

    Nói tóm lại,

    Oánh nhau thì phải có cớ, vô dưng vô cớ đem quân đánh nhau thì xem chừng khó bác Lãng ạ. Đến thời phong kiến xưa, vốn chả cần cớ gì, mà bọn vua chúa Tầu cũng cố bịa một cái cớ để xuất quân.
    vả lại, chiến tranh sẽ kéo theo khoản chiến phí không nhỏ, hủy hoại phát triển kinh tế, nó là sự lựa chọn cuối cùng của tất cả các nước, kể cả nước lớn.
    Quân Tầu nói là mạnh nhưng thực chỉ là hổ giấy, quân đội bọn chúng tham nhũng nặng nề, sĩ quan binh lính yếu kém vì toàn con một, nói chung đừng hù dọa làm xôn xao dư luận bác Lãng ạ.
    Trong cuộc tập trận Bắc Kiếm vừa rồi, 1/3 số xe tăng Tầu còn không hoạt động được kia. Thử thách tinh thần sĩ quan và binh lính chiến đấu trong boong ke 2 tuần mà chỉ 3 ngày chúng đã không chịu nổi.
    Nói chung, tâm lý cầu an của bọn Tầu cũng rất lớn, chúng ta đừng quá ngán ngại bọn chúng.