Nhìn lại giai đoạn Ngô Đình Diệm

  • Bởi Admin
    04/12/2015
    10 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    “…Một sự thực đáng buồn là cho tới này phần lớn những bài viết về chế độ Ngô Đình Diệm và anh em họ Ngô đều chỉ dựa vào một số sự kiện để phát biểu lập trường có sẵn của mình… Thái độ phải có là cố gắng hiểu rõ một giai đoạn lịch sử để có thể rút ra những kết luận đúng cho tương lai…”

    Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 52 ngày chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ và hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu bị thảm sát – sau đó ít lâu ông Ngô Đình Cẩn cũng bị xử tử - tôi đã đề nghị ban biên tập Thông Luận cho đăng lại hai bài tôi viết trước đây. Đó là bài "Kinh nghiêm Ngô Đình Diệm" viết năm 2004 và bài "Ông Ngô Đình Diệm đã lên cần quyền như thế nào?" viết năm 2005. Tôi giữ nguyên những ý kiến trong cả hai bài này dù trong khoảng thời gian giữa hai bài đã xảy ra một sự kiện quan trọng: đó là tôi có được hai tài liệu cho thấy rõ một cách không thể chối cãi tiến trình đã đưa ông Diệm lên cầm quyền và cũng giải thích tại sao chính quyền Ngô Đình Điệm đã hành động như họ đã làm.

    Lần này tôi công bố toàn bộ hai tài liệu này mà mười năm trước khi viết bài "Ông Ngô Đình Diệm đã lên cầm quyền như thế nào?" tôi đã không có thì giờ để đánh máy và dịch sang tiếng Việt. Đó là một thư của ông Ngô Đình Nhu viết cho ông Jacques Bénet ngày 20 tháng 4 năm 1955 và một thư của ông Jacques Bénet viết cho bà Ngô Đình Nhu ngày 18 tháng 10 năm 2004. Tôi xin nhắc lại một điều đã viết trong bài này là ngay từ trước, khi được ông Ngô Đình Luyện (có sinh hoạt một thời gian trong nhóm Thông Luận, tiền thân của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, trước khi qua đời) giải thích rằng ông Diệm lên cầm quyền là do ý muốn của Bảo Đại tôi đã thấy giải thích này không hợp lý.

    Thư của ông Jacques Bénet gửi bà Nhu trình bày một cách chi tiết tiến trình trong đó người Pháp đưa ông Diệm lên cầm quyền và làm áp lực để buộc Bảo Đại phải chấp nhận giải pháp này.

    Thư của ông Nhu gửi ông Jacques Bénet cho thấy rõ là chính quyền Pháp đã có cả một kế hoạch ngầm để giúp ông Ngô Đình Diệm loại tướng Nguyễn Văn Hinh, dẹp quân Bình Xuyên và các giáo phái để thu tóm quyền lực về một mối. Thư này cũng nói đến "trận chung kết" là tổ chức bầu cử. Đó là cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 lật đổ Bảo Đại. Sau đó chế độ Việt Nam Cộng Hòa được chính thức công bố ngày 26/10/1955. Ông Nhu cũng nhấn mạnh về sự cần thiết của một chính sách của Pháp tại Đông Dương.

    Hai lá thư này cho phép kết luận rằng ông Ngô Đình Diệm không phải do Mỹ đưa lên cũng không phải do ông Bảo Đại chọn lựa mà là một giải pháp của chính quyền Pháp để triệt thoái một cách êm thấm khỏi Việt Nam đồng thời giữ được tối đa ảnh hưởng chính trị và văn hóa cũng như các quyền lợi kinh tế. Như vậy phải hiểu rằng chính sách hợp tác với Mỹ và chống Pháp trong những năm đâu của chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ là bề ngoài. Bên trong thực sự là đi đêm với Pháp và lợi dụng Mỹ.

    Cũng theo chủ trương của Pháp mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã ngấm ngầm tiếp xúc với phe cộng sản để tìm cách thỏa hiệp. Theo hồi ký của ông Nguyễn Phú Đức, cựu bộ truởng VNCH, việc này bị Mỹ phát giác vì đại tá Hoàng Thụy Năm đã thông báo cho tình báo Mỹ cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng trên sông Sài Gòn. Ông Nhu đã ra lệnh giết ông Hoàng Thụy Năm và đổ tội cho cộng sản ám sát. Ông Nguyễn Phú Đức đã liên tục giữ những chức vụ rất quan trọng trong chế độ VNCH nên những điều ông tiết lộ có mọi khả năng là đúng. Hơn nữa tiết lộ của ông Nguyễn Phú Đức cũng rất phù hợp với một chuỗi sự kiện:

    - Đầu tháng 3/1961 ông Ngô Đình Nhu thay mặt chính quyền VNCH đi Maroc dự lệ tấn phong vua Hassan II. Tại sao ông Nhu, một người không có chức vụ chính thức nào lại thay mặt cho chính quyền VNCH trong một nghi lễ chính thức và long trọng như vậy mà không phải là tổng thống Ngô Đình Diệm, hay phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ hay ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu?

    - Sau đó, như một sự tình cờ, ông Ngô Đình Nhu được tiếp đón rất long trọng tại Pháp và ở lại Pháp vài ngày dù lúc đó bề ngoài Việt Nam đang rất lạnh nhạt với Pháp. Việc đi Maroc dự lễ đăng quang vua Hassan II có thể chỉ là một lý cớ để ông Nhu hội ý với chính quyền Pháp.

    - Sau đó vài tháng là cuộc tiếp xúc Ngô Đình Nhu - Phạm Hùng. Người ta có thể hiểu rằng cuộc tiếp xúc này đã do Pháp dàn xếp sau khi thuyết phục ông Nhu. Nhiều tài liệu còn cho hay là ông Nhu còn gặp lại Phạm Hùng đầu năm 1963.

    - Ngày 01 tháng 10 năm 1961 đại tá Hoàng Thụy Năm bị bắt cóc và bị giết. Sau này người ta được biết ông Hoàng Thụy Năm không bị cộng sản ám sát mà do ông Nhu ra lệnh giết.

    Việc tìm kiếm một thỏa hiệp với Hà Nội có đúng hay không là một vấn đề có thể bàn cãi. Điều chắc chắn là nó rất trái ngược lập trường "diệt cộng" chính thức của chính quyền Ngô Đình Diệm; nó đã khiến Hoa Kỳ cảm thấy bị phản bội và quyết tâm lật đổ chế độ, nhất là sau khi hai ông Diệm và Nhu giết ông Hoàng Thụy Năm. Việc chính quyền Ngô Đình Diệm thiên vị Công giáo là có thật nhưng việc đàn áp Phật Giáo chỉ là lý cớ dàn dựng của người Mỹ để lật đổ ông Diệm. Việc Dương Văn Minh giết hai ông Diệm và Nhu sau khi họ đã đầu hàng rất có thể là theo chỉ thị của Mỹ. Khó có thể tưởng tượng Mỹ chấp nhận để hai ông sang Pháp và chống đối lại chính sách của họ tại Việt Nam.

    Đây cũng là dịp để nhìn lại những nét chính của chế độ Ngô Đình Diệm.

    1. Nhận xét đầu tiên là người có quyền lực lớn nhất trong chế độ là ông Ngô Đình Nhu chứ không phải ông Ngô Đình Diệm. Chính ông Nhu đã vận động chính quyền Pháp để đưa ông Diệm lên cầm quyền và sử dụng ông Diệm như một biểu tượng.

    2. Ông Nhu, và ông Jacques Bénet, đã rất chủ quan và sai lầm khi nghĩ rằng ông Ngô Đình Diệm là một biểu tượng tốt. Quan điểm của tôi, như đã trình bày trong bài "Kinh nghiệm Ngô Đình Diệm", là ông Ngô Đình Diệm không thể là một biểu tượng cho Việt Nam trong thời đại độc lập. Ông đã hợp tác tận tình với chế độ Pháp thuộc và đã tiếp tay đàn áp những người đấu tranh giành chủ quyền dân tộc. Ông, và cả ông Nhu, cũng không phải là người hùng biện và có viễn kiến để thu hút trí thức và quần chúng.

    3. Cách làm chính trị của ông Diệm và ông Nhu là cách làm chính trị nhân sĩ. Họ không xây dựng lực lượng đấu tranh mà chỉ vận động hành lang để được một thế lực ngoại bang đưa lên cầm quyền. Cách hoạt động chính trị này phải bị vất bỏ dứt khoát và vĩnh viễn. Kinh nghiệm Ngô Đình Diệm cho thấy rằng cách làm chính trị này dù có "thành công" trong nhất thời cũng chỉ là một tai họa cho đất nước và sau cùng cho chính mình. Chính vì không có tổ chức mà khi cầm quyền hai ông Diệm và Nhu đã phải dựa vào gia đình và một số người thân thuộc.

    4. Ông Nhu đã quá chủ quan khi nghĩ rằng có thể đánh lửa được dư luận Việt Nam và chính phủ Mỹ khi bề ngoài tỏ ra chống Pháp trong khi vẫn liên hệ mật thiết ngấm ngầm với Pháp. Sự chủ quan còn đi đôi với sự vụng về vì chính quyền Ngô Đình Diệm là một sự tiếp nối quá lộ liễu của chính quyền bảo hộ Pháp. Tất cả các quyền lợi của Pháp đều được duy trì, con cái các cấp lãnh đạo cao cấp đều chỉ học trường Pháp, mọi viên chức thời Pháp thuộc đều được trọng dụng và thăng tiến, các đảng phái chống Pháp bị đàn áp, dù được nhân dân tôn kính, như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt.

    5. Thống nhất quyền lực vào giai đoạn 1954 - 1955 là một chủ trương đúng nhưng tiêu diệt các lực lượng giáo phái như hai ông Diệm – Nhu đã làm là không đúng. Họ là những lực lượng có cơ sở quần chúng và cũng có bản chất dân tộc hơn những công chức, sĩ quan và hạ sĩ quan của bộ máy thuộc địa mà chính quyền Ngô Đình Điệm trân trọng và lưu dụng. Vấn đề là phải thuyết phục và giáo dục được họ, nhưng điều này vượt khả năng của các ông Diêm và Nhu, những người thuộc môi trường quan lại sống tách biệt với xã hội Việt Nam.

    6. Trái với quan điểm của một số người, ông Ngô Đình Nhu không có bản lĩnh chính trị cao. Chắc chắn ông có kiến thức chính trị cao hơn phần lớn những người lãnh đạo phe quốc gia cùng thời đại với ông, nhưng ông chưa có khả năng chính trị phải có ở tầm mức quốc gia. Chủ nghĩa nhân vị mà ông đề cao - và cũng không có dấu hiệu gì là đã hiểu - trên thực tế chỉ là một chủ nghĩa cá nhân lúng túng không dám tự xác nhận. Tôi đã có may mắn quen biết hai cộng sự viên gần gũi nhất của hai ông Diệm và Nhu tại Dinh Độc Lập trong suốt thời gia họ cầm quyền là đại tá Lê Văn Đức và giáo sư Tôn Thất Thiện. Cả hai đều xác nhận các tác phẩm của ông Nhu chỉ là những bài diễn văn của ông Diệm. Nhưng bài diễn văn này không có gì đặc sắc.

    7. Sai lầm và trách nhiệm lớn nhất của chế độ Ngô Đình Diệm là đã đàn áp các đảng quốc phái quốc gia. Các đảng này đã đóng góp xương máu giành độc lập dân tộc và chống lại cộng sản. Họ có sự chính đáng hơn hẳn ông Ngô Đình Diệm. Chỉ có hợp tác với họ mới có thể tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng.

    8. Nhiều người ca tụng hai ông Diệm và Nhu là có tác phong xứng đáng, có danh dự cao và đã dũng cảm bảo vệ bằng tính mạng lập trường của mình. Đúng là ông Diệm và ông Nhu đã có phong cách hơn hẳn nhưng người đã từng giữ vai trò lãnh đạo trong gần một thế kỷ qua trong cả hai phe quốc gia cũng như cộng sản. Tuy vậy cũng không thể quên là cuối cùng, khi thấy mình tuyệt vọng, họ đã đầu hàng nhóm tướng lãnh đảo chính để rồi bị giết. Mặt khác theo lời của ông Kenneth Todd Young, một viên chức cao cấp tại bộ ngoại giao Mỹ phụ trách về Châu Á, thì ông Trần Văn Chương, thân phụ bà Ngô Đình Nhu, đã cho hay là một tuần trước khi bị đảo chính hai ông Diệm và Nhu cũng đã có ý định đào thoát ra nước ngoài nhưng ý định này không được thực hiện vì sự chống đối dữ dội của bà Ngô Đình Nhu. Ông Diệm và ông Nhu không tuẫn quốc như nhiều người nghĩ. Họ đã lãnh đạo đất nước, đã không thành công và bị giết, sau khi chính họ cũng đã thủ tiêu nhiều người khác.

    9. Sau cùng nhân dịp này tôi thấy cần khẳng định dứt khoát một lần nữa là ông Ngô Đinh Nhu không liên quan gì tới cuốn Chính Đề Việt Nam. Tác giả cuốn sách này là ông Lê Văn Đồng một cựu công sự viên của hai ông Diệm và Nhu nhưng đã chia tay ngay từ năm 1957 vì bất đồng quan điểm. Khi tham gia Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên năm 1988 (lúc đó chưa có danh xưng chính thức THDCĐN) ông Lê Văn Đồng đã đem đến và trình bày cuốn Chính Đề Việt Nam. Chính chúng tôi đã làm photocopy và phổ biến tới một số thân hữu. Lúc đó ông Ngô Đình Luyện cũng sinh hoạt với chúng tôi và cũng có tham gia cuộc thảo luận về cuốn Chính Đề Việt Nam với ông Lê Văn Đồng, và không ai đặt nghi vấn về việc Tùng Phong là bút hiệu của Lê Văn Đồng cả. Giả thuyết ông Ngô Đình Nhu là tác giả cuốn sách này chỉ dựa trên dựa trên một sự kiện rất mỏng manh là ông Cao Xuân Vỹ nhớ lại rằng có lần ông Ngô Đình Nhu đã nhờ ông trao cho ông Lê Văn Đồng một tập tài liệu bằng tiếng Pháp mà ông không nhớ là gì. Từ đó mà suy luận rằng đó là bản tiếng Pháp của Chính Đề Việt Nam thì quả là quá phiêu lưu.

    Một sự thực đáng buồn là cho tới này phần lớn những bài viết về chế độ Ngô Đình Diệm và anh em họ Ngô đều chỉ dựa vào một số sự kiện để phát biểu lập trường có sẵn của mình. Người bênh anh em họ Ngô thì viện dẫn mọi lý do - kể cả những lý do rất vu vơ như trong câu chuyện cuốn Chính Đề Việt Nam - để ca tụng, người ghét thì cũng tìm mọi lý cớ để đả kích, trong khi thái độ phải có là cố gắng hiểu rõ một giai đoạn lịch sử để có thể rút ra những kết luận đúng cho tương lai.

    Giai đoạn Ngô Đình Diệm mới chỉ gần đây thôi. Còn khá nhiều tài liệu và nhân chứng. Nếu chúng ta không có nổi một sự hiểu biết chính xác thì những sử liệu về các giai đoạn trước có giá trị gì?

    Nguyễn Gia Kiểng
    (01/11/2015)

    Phụ đính 1:

    Thư của ông Ngô Đình Nhu gửi ông Jacques Bénet

    Le 20 Avril

    Mon cher Bénet,

    Merci infiniment de ta longue lettre du 8. C'est positivement étonnant cette unité de vue entre toi et moi sur tous les aspects du problème qui nous intéresse que cela touche les réalités politiques ou les hommes qui y participent, y compris mes frères, M. Khiêm ou tes compatriotes. C'est à croire que nous ne nous sommes pas quittés depuis 1949 et que nous travaillons côte à côte dans le même bureau sous la vigilance de ta Simone. C'est te dire combien je suis heureux de voir pareilles communion d'idées et de sentiments entre toi et moi, séparés par des milliers de kilomètres. C'est vrai qu'après avoir surmonté la crise Hinh nous nous apprêtions à démarrer avec l'affaires des sectes qui se présentait on ne peut plus favorablement. Malheureusement nous nous sommes coincés entre l'incompréhension française et l'inexpérience américaine: une différence d'appréciation sur l'opportunité de briser de façon ferme et décisive l'obstacle féodal pour libérer le pauvre peuple vietnamien et le rallier à nous. Depuis l'avènement du Président la grande pensée du gouvernement est de briser les deux obstacles, cercles de fer, qui séparaient le peuple du gouvernement progressite. C'est l'armée "nationale" et "les sectes". Nous avons gagné la première manche, nous espérons gagner la seconde, la belle sera alors les élections que nous sommes certains de gagner. Ajouté à cela ce "Temps harcelant" qui ne nous permet pas de musarder en chemin et de pratiquer la bonne vieille politique de compromis. L'heure est donc unique et décisive. Si nous ne réussissons pas à convaincre les responsables du Monde Libre pour qu'ils nous aident à neutraliser les colonialistes qui soutiennent les féodaux contre le gouvernement national nous irons à la catastrophe. Car le peuple vietnamien déçu définitivement nous abandonnera. Et le Monde Asiatique que nous avons travaillé ces derniers mois et qui commençait à s'impatienter avec nous, se détournera de nous, isolés alors en Asie et à la merci du Viet Minh. Car il ne faut plus recommencer l'expérience de 1945 – 1954. Soutenus seulement par le camp occidental nous sommes surs d'être battus par le communisme en Asie. Il faut avoir le soutien du peuple vietnamien et la sympathie du Monde Asiatique, pour que l'aide occidentale, dédouanée par la personalité du Président Ngô, puisse être utile, ayant reçu l'étiquette asiatique. Cette conception est bien comprise par des hommes intelligents et au courant des affaires d'ici, tels que M. M Roux (affaires étrangères), A Risterucci (Etats Associés). Il faut travailler de manière à ce que des instructions en ce sens qui sont, j'en suis persuadés, déjà prêtes soient envoyés d'urgence à Saigon. Le général Ely est un honnête homme, malheureusement il est de nature inquiet et pessimiste (voir affaire Hinh = armée coupée en deux, guerre civile et… si le Président touche à Hinh). Ce général est une espèce de "Docteur Tant Pis" qui voit tout en noir ou plutôt tout en rouge. Rappelle toi les velléités des communistes qui cherchaient à créer un état autonome en France à l'époque de la libération et que le gouvernement français n'a pas hésité à étouffé dans le sang. Il faut sacrifier quelques uns pour le bien de tous.

    La France n'a pas eu jusqu'ici de politique en Indochine. C'est le moment ou jamais d'en avoir une.

    A Dieu, cher ami, et merci pour tes conseils et encouragements. Je reste toujours le même sans quoi (les quelques mots de la fin sont illisibles, à moitié coupés lors de la photocopie)

    Chuyển ngữ:

    Ngày 20 tháng 4

    Bénet thân,

    Vô cùng cảm ơn mày về lá thư dài ngày 8. Thật ngạc nhiên một cách thú vị khi mày và tao đồng nhất quan điểm trên tất cả mọi mặt của vấn đề mà chúng ta cùng quan tâm, dù là về những thực tại chính trị hay về những người trong cuộc, kể cả các anh em tao, ông Khiêm (1) hay các đồng bào của mày. Cứ như là chúng mình chưa từng chia tay từ 1949 khi còn làm việc với nhau trong cùng một văn phòng dưới sự chăm sóc của bà xã Simone của mày. Để nói với mày rằng tao hân hoan tới mức độ nào về sự đồng cảm và đồng ý giữa mày và tao dù cách nhau hàng ngàn cây số. Đúng là sau khi đã vượt qua được cơn khủng hoảng Hinh (2) chúng ta bắt đầu giải quyết vấn đề các giáo phái trong những điều kiện không thể nào thuận lợi hơn. Rất tiếc là chúng ta bị kẹt giữa sự thiếu hiểu biết của Pháp và sự thiếu kinh nghiệm của Hoa Kỳ: đó là sự đánh giá khác nhau về cơ hội để đánh tan một cách quả quyết và dứt khoát trở ngại phong kiến để giải thoát dân tộc Việt Nam xấu số và để gắn bó họ với chúng ta. Từ ngày ông Chủ Tịch (3) lên cầm quyền, chủ trương lớn của chính phủ là đập tan hai trở ngại, hai vòng sắt, tách biệt dân tộc Việt Nam với chính phủ Việt Nam cấp tiến, đó là quân đội "quốc gia" và các "giáo phái". Chúng ta đã thắng trận đầu, chúng ta hy vọng sẽ thắng trận thứ hai, trận chung kết sẽ là cuộc bầu cử mà chúng ta tin chắc sẽ thắng lợi. Thêm vào đó là thời gian "thiêu đốt" không cho phép chúng ta nhởn nhơ trên đường đi hay làm những thỏa hiệp như thói quen. Thời điểm này vừa duy nhất vừa quyết định. Nếu chúng ta không thuyết phục được Thế Giới Tự Do giúp chúng ta vô hiệu hóa đám thực dân ủng hộ bọn phong kiến (4) chống lại chính quyền quốc gia chúng ta sẽ rơi vào thảm họa. Nhân dân Việt Nam sẽ thất vọng và vĩnh viễn bỏ rơi chúng ta. Và Thế Gìới Châu Á mà chúng ta đã vận động từ mấy tháng nay và đã bắt đầu có cảm tình với chúng ta sẽ quay lưng lại với chúng ta. Lúc đó chúng ta sẽ cô lập và khốn đốn với Việt Minh. Chớ nên lặp lại kinh nghiệm 1945-1954. Nếu chỉ được Phương Tây yểm trợ chúng ta chắc chắc sẽ thua cộng sản Châu Á. Phải tranh thủ được sự hưởng ứng của dân tộc Việt Nam và cảm tình của các nước Châu Á để viện trợ của Phương Tây, bạch hóa bởi nhân cách của Chủ Tịch Ngô, có thể hữu hiệu sau khi đã mang nhãn Châu Á. Quan điểm này đã được thấu hiểu nơi những người thông minh và hiểu rõ hiện tình tại đây, như Ông M. Roux (bộ ngoại giao) ông Risterucci (bộ Liên Hiệp Pháp). Phải vận động để những chỉ thị theo chiều hướng này, mà tao chắc chắn là đã chuẩn bị sẵn, được khẩn cấp gửi sang Sài Gòn (5). Tướng Ely là một người chân thật nhưng bản tính lo âu và bi quan (nhìn vụ Hinh = quân đội chia đôi, nội chiến v.v. nếu ông Chủ Tịch đụng vào Hinh…). Ông tướng này là một loại "Bác sĩ Đành Vậy" nhìn cái gì cũng đen tối hay đúng ra đỏ rực. Mày hãy nhớ lại những toan tính của những người cộng sản Pháp muốn thành lập một nhà nước tự trị tại Pháp trong giai đoạn giải phóng (6), toan tính mà chính phủ Pháp đã không ngần ngại đập tan trong máu. Phải hy sinh một vài người vì lợi ích của mọi người.

    Nước Pháp cho tới nay chưa có một chính sách Đông Dương, đây là cơ hội cuối cùng để có một.

    Chào mày, thằng bạn thân. Cảm ơn mày về những lời khuyên và khích lệ. Tao vẫn là tao nếu không thì… (một vài chữ cuối cùng không đọc được vì bị cắt khi làm photocopy)

    Chú thích:

    Phạm Duy Khiêm, anh ruột nhạc sĩ Phạm Duy, đaị sứ Việt Nam tại Pháp vào lúc đó, do ông Diệm bổ nhiệm.

    1) Tướng Nguyễn Văn Hinh (1913-2005), tổng tham mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam từ 1949, mâu thuẫn với thủ tướng Ngô Đình Diệm và bị cất chức. Ông trở lại phục vụ trong quân đội Pháp và lên đến cấp trung tướng, tham mưu trưởng lực lượng không quan chiến lược (nguyên tử) Pháp.

    2) Ông Ngô Đình Diệm lúc đó là thủ tướng và chủ tịch hội đồng bộ trưởng Quốc Gia Việt Nam.

    3) Ở đây ông Nhu muốn nói tới các nhóm giáo phái Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo được Bảo Đại bảo trợ. Sau khi các giáo phái đã bị dẹp thì từ "phong kiến" được chính quyền Ngô Đình Diệm dùng để chỉ chế độ quân chủ.

    4) Trong cuộc gặp gỡ với tôi cuối tháng 11-2004, với sự hiện diện của hai anh Trần Minh Châm và Nghiêm Văn Thạch, ông Bénet cho biết những chỉ thị đó nằm trong kế hoạch giúp ông Diệm gồm thu quyền lực về một mối, trước hết là giải tán quân đội của các giáo phái.

    5) Giai đoạn sau 1945 khi Paris được giải phóng, lực lượng võ trang của Đảng Cộng Sản Pháp rút về khu Rambouillet định thành lập một khu tự trị nhưng bị dẹp tan.

    Phụ đính 2:

    Thư của ông Jacques Bénet gửi bà Ngô Đình Nhu

    22676745942_4f823deafa.jpg

    Jacques Bénet

    5 rue Vavin, 75006 Paris Paris le 18 octobre 2004

    Chère Madame,

    Depuis que je suis passé vous voir chez vous, voici une dizaine de jours, j'ai remis la main dans "mes" papiers sur une lettre que vous m'avez adressée le 22 août 1976, vraisemblablement de Rome.

    Je joins à ce courrier l'original de cette lettre. Vous y faites état de ce que je vous ai annoncé que j'avais retrouvé le dossier confié par vous en 1963.

    En 1976 j'étais fonctionnaire en poste au Ministère de la Coopération et j'ai pris mon congé annuel en juillet ou en août. J'avais repris mon service au plutard au 1er Septembre.

    Il n'est pas pensable que votre fils Quỳnh ne soit pas parvenu à me joindre pour que je lui remette ce dossier chez moi ou à Suffren.

    Et, pourtant, il ne semble pas vous être parvenu ce dossier puisque vous le demandez maintenant. Mystère total, dans le quel je ne suis pas le seul impliqué!

    Je comprends maintenant que ce dossier que je vous ai remis la semaine dernière n'ait pu vous satisfaire.

    Il a vraisemblablement été constitué par des copies de lettre anciennes, datées de la période 1963 – 1964, mais que vous m'avez remises par la suite en même temps que les copies de lettres à Andréotti et au Pape qui ont été écrites par vous plus tardivement.

    Dans la période de 1976 à 1980, où je venais de me remarier, j'ai envoyé en Normandie quelques meubles, objets, livres ou documents, parce que je remettais à neuf mon appartement et que les documents, que je vous ai remis l'autre jour, après les avoir récupérés en Normandie ont dû m'apparaître dans ces années 1976 -1980 comme des documents "pour mémoire" sans utilisation immédiate possible et ne contenant pas d'nformations "brûlantes".

    Vous m'avez dit lors de cette dernière recontre que vous aviez trouvé "désinvolte" la réponse que je vous aurais faite lorsque, pour la première fois, vous m'avez redemandé le dossier confié fin 1963.

    Je ne me rappelle pas avoir eu envers vous, cette fois là ou une autre, une attitude de désinvolture. Mais si vous en gardez le souvenir c'est que je vous ai paru alors effectivement "désinvolte". Et je vous pris de bien vouloir m'en excuser.

    Mais j'ai remarqué depuis de nombreuses années que, de votre côté, vous avez fait montre d'une désinvolture certaine, vis-à-vis du président Ngô Đình Diệm, de votre mari, de moi-même et de quelques autres en ne vous souciant jamais de savoir comment le futur président Ngô Đình Diệm avait accédé au pouvoir en 1954!

    La Providence, certes oui, car Dieu gouverne toutes choses, mais il se sert bien souvent de modestes relais humains pour concrétiser ses desseins.

    Or votre mari, Ngo Dinh Nhu, a eu l'intuition géniale - dictée bien sûr par la Providence - que le moment était arrivé, en mars 1954 pendant la bataille de Đien Bien Phu, d'essayer de convaincre le gouvernement français d'alors (gouvernement Laniel – Bidault – Reynaud), qui disposait encore de quelques atouts déterminants quant au destin de l'ancienne Indochine pour permettre d'urgence la venue au pouvoir de son frère, Monsieur Ngo Đinh Diem, personnalité nationaliste vietnamienne d'une réputation sans tâche et d'une notoriété évidente, afin de prendre la tête du gouvernement vietnamien non communisé.

    Du même coup, Nhu décide l'envoi à Paris pour facilité la prise de contact avec le gouvernement français son camarade du combat nationaliste Tran Chanh Thanh – revenu totalement de ses illusions communistes. La mission première que Nhu donne à Tran Chanh Thanh est de me joindre afin que je l'aide à faciliter cette prise de contact. Nhu, que j'ai reçu à la maison à Paris en 1949 avant le décès de ma première femme, savait que je disposais de relations avec divers hommes politique français.

    Une lettre personnelle de Nhu m'annonce d'ailleur la mission de Thành.

    Bien que vous n'aimiez guerre Trân Chánh Thành, ce dernier s'est révélé être, lui aussi, un homme "providentiel", dans la chaine de ceux qui ont permis, en fin de compte, à Monsieur Ngo Dinh Diem d'être reçu successivement par le président Laniel et par le Ministre des Affaires étrangères Georges Bidault.

    Il s'est trouvé, entre temps, que j'ai été moi aussi, "providentiellement", un maillon indispensable dans la chaine qui a conduit à ce fait.

    Ma confiance totale en mon cher ami Nhu et la certitude acquise par moi qu'il était plus que temps, en ce moment de 1954, de voir conférer au Vietnam non communiste son indépendance totale, jointes à l'évidence que Monsieur Ngo Đinh Diem était bien l'homme "providentiel" pour assumer la charge de diriger cette indépendance, m'avaient déterminé à agir.

    Et j'ai pu passer toute ma conviction à un de mes meilleurs amis français, Antoine Ahon, qui avait ses entrées personnelles au cabinet au Président René Laniel par le directeur de cabinet, le préfet Germain Vidal, et auprès du Secrétaire d'Etat à la Présidence Bougenot passé directement sous les ordres du Président Laniel. Mon ami Ahon, d'autrepart, connaissait bien personnellement le Ministre des Affaires Etrangères Georges Bidault.

    Homme "providentiel" à son tour, Antoine Ahon a été l'introducteur parfait de Trân Chánh Thành auprès des deux personalités précitées du cabinet du Président Laniel et auprès de Geoges Bidault.

    L'intelligence, la fidélité et le sens de l'efficacité de Trần Chánh Thành des ont fait l'essentiel du reste. En plusieurs entretiens espacés de la fin mars à la mi mai 1954 il a eu loisir d'exposer la situation d'alors au Vietnam, d'un authentique point de vue nationaliste vietnamien, et les qualités exceptionnelles de Monsieur Ngô Đình Diêm pour assurer le pouvoir au Vietnam du Sud en ces temps particulièrement critiques.

    C'est ainsi que le Président Laniel et le Ministre Bidault accueillirent, dans les meilleures dispositions d'esprit Monsieur Ngô Đinh Diêm.

    Et, "providentiellement" encore, ces deux personalités responsables, après hésitation et réflexion, comprirent que, à l'approche de la chute de leur gouvernement, il s'imposait pour sauver le Vietnam en grand danger d'engloutissement dans le Monde Communiste, et tenter de la sorte de préserver les futures relations franco-vietnamiennes d'obtenir d'urgence de l'empereur Bao Đai, encore officiellement Chef d'Etat du Vietnam la nomination de Ngo Đinh Diem à la tête du gouvernement vietnamien.

    Cela fut fait par décret de Bao Đai pris au début de juin 1954, quelques jour seulement avant que le gouvernement Laniel – Bidault – Reynaud fasse place au gouvernement Mendès France.

    Cela fut possible parce que le gouvernement français d'alors disposait vis-à-vis de Bao Đai, particulièrement de divers moyens de pression déterminants.

    Et cette décision, qui fut majeure et "providentielle" pour le Vietnam n'aurait jamais été prise par le gouvernement Mendès France totalement sous l'influence de courants politiques français décidés à s'en tenir à la lettre des accords de Genève de juin 1954 qui envisageaient la tenue d'élections législatives étendues à tout le Vietnam, Nord et Sud.

    De telles élections auraient abouti, selon toute vraisemblance, à installer le pouvoir communiste, dès ce moment là sur tout le Vietnam, fermant toute perspective à Ngo Đinh Diem d'accéder un jour au pouvoir.

    Ce dernier étant tellement convaincu de cela qu'il est venu chez moi me remercier de mes efforts et de ceux de mon ami Ahon, au cours des quelques jours qui ont séparé la sortie du décret de Bao Đai de son départ en avion pour rejoindre son poste à Saigon

    J'en suis toujours à m'étonner, chère Madame, que vous n'ayez jamais cherché à connaître le processus de l'ascension au pouvoir du Président Ngo Đinh Diem.

    Il est vrai que mon ami Nhu était particulièrement discret. Mais une épouse décidée ne parvient-elle pas généralement à percer les secrets entretenus par son mari?

    Je vous prie d'agréer, chère Madame, l'expression de ma très respectueuse considération.

    (Signature de Jacques Bénet)

    Ci-joint votre lettre du 22 août 1976

    Chuyển ngữ:

    Jacques Bénet

    5 rue Vavin, 75006 Paris Paris le 18 octobre 2004

    Thưa Bà,

    Từ khi tới gặp Bà tại tư gia cách đây khoảng mười hôm tôi đã tìm lại được trong những giấy tờ "của tôi" một thư Bà đã gửi cho tôi ngày 22 tháng 8-1976, có lẽ từ Rome.

    Tôi gửi kèm theo thư này bản chính của thư đó. Bà viết trong thư rằng tôi đã thông báo với Bà là đã tìm lại được tập hồ sơ Bà đã giao cho tôi năm 1963.

    Năm 1976 tôi còn là công chức ở bộ Hợp Tác và tôi nghỉ hè tháng 7 hoặc tháng 8. Tôi đi làm trở lại trễ lắm là ngày 01 tháng 9.

    Khó có thể nghĩ là anh Quỳnh con trai Bà lại không thể liên lạc được với tôi để tôi trao lại tập hồ sơ này, tại nhà tôi hay tại Suffren.

    Và dầu vậy tập hồ sơ này đã không tới tay Bà, bằng chứng là bây giờ mà còn hỏi tôi. Bí ẩn hoàn toàn, trong đó tôi không phải là người liên can duy nhất!

    Bây giờ tôi hiểu là tập hồ sơ mà tôi đã trao cho Bà tuần trước đã không làm Bà hài lòng.

    Nó có lẽ gồm những bản sao của các thư cũ, viết trong giai đoạn 1963 – 1964, mà Bà đã trao cho tôi sau đó cùng lúc với các bản sao các thư gửi Andreotti và Đức Giáo Hoàng do Bà viết sau đó.

    Trong những năm từ 1976 đến 1980, lúc tôi vừa tái hôn, tôi đã gửi đi Nordmandie một số giường tủ, vật dụng, sách và tài liệu vì tôi tân trang căn hộ của tôi, và những tài liệu mà tôi trao lại Bà hôm trước sau khi tìm thấy tại Nordmandie có vẻ là những tài liệu mà trong giai đoạn 1976 -1980 tôi cho là chỉ "giữ để nhớ" chứ không có công dụng tức khắc nào. Và không chứa đựng một dữ kiện "nóng hổi" nào.

    Bà đã nói với tôi trong lần gặp cuối rằng Bà thấy tôi đã trả lời Bà một cách "vô tư" khi lần đầu tiên Bà yêu cầu tôi hoàn lại tập hồ sơ mà Bà đã nhờ tôi giữ hộ năm 1963.

    Tôi không nhớ đã có thái độ vô tư đối với Bà lúc đó hay một lúc nào khác. Nhưng nếu Bà vẫn còn nhớ như vậy thì chắc là tôi phải đã tỏ ra vô tư. Và tôi xin Bà thứ lỗi cho.

    Tuy nhiên tôi đã nhận thấy từ nhiều năm rồi chính Bà tỏ ra rất vô tư đối với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đối với chồng Bà, đối với chính tôi và đối với vài người khác khi không bao giờ chịu tìm hiểu vào năm 1954 vị tổng thống tương lai Ngô Đình Diệm đã lên cầm quyền như thế nào.

    Dĩ nhiên là do Chúa muốn (1), bởi vì Chúa điều khiển tất cả, nhưng Người cũng dùng những con người làm những trung gian khiêm tốn để cụ thể hóa ý muốn của Người.

    Vì thế mà chồng Bà, Ngô Đình Nhu, đã có trực giác thiên tài, chắc chắn do Chúa khiến, là đã đến lúc, vào tháng 3-1954, khi trận Điện Biên Phủ đang diễn ra, để thử thuyết phục chính phủ Pháp (chính phủ Laniel –Bidault – Reynaud) lúc đó vẫn còn một vài con bài quyết định đối với số phận của Đông Dương cũ để khẩn cấp đưa anh mình là ông Ngô Đình Diệm, một nhân vật quốc gia không vẩn gợn và có uy danh rõ rệt, lên cầm dầu chính phủ Việt Nam không cộng sản.

    Cùng lúc Nhu quyết định gửi sang Paris người chiến hữu quốc gia của mình là Trần Chánh Thành - vừa hoàn toàn hồi phục khỏi những ảo tưởng cộng sản- để tiếp xúc với chính phủ Pháp. Sứ mạng đầu tiên mà Nhu giao phó cho Trần Chánh Thành là tìm gặp tôi để nhờ tôi giúp bắt liên lạc. Nhu đã từng tới nhà tôi năm 1949 trước khi người vợ đầu của tôi qua đời và biết rằng tôi có quan hệ với nhiều chính khách Pháp.

    Nhu có viết thư riêng cho tôi báo trước chuyến công tác của Thành.

    Dù Bà không ưa Trần Chánh Thành, ông này đã tỏ ra là một người "Chúa ban" trong chuỗi sự kiện đã khiến ông Ngô Đình Diệm tuần tự được thủ tướng Laniel và bộ trưởng ngoại giao Bidault tiếp.

    Tình cờ là trong thời gian đó chính tôi cũng "do ý Chúa" đã là một mắt xich không có không được trong diễn tiến dẫn tới kết quả này.

    Lòng tin hoàn toàn vào bạn Nhu và nhận định chắc chắn là tình thế đã quá chín muồi vào thời điểm đó, 1954, để trả lại độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, cùng với điều hiển nhiên là ông Ngô Đình Diệm đúng là nhân vật "Chúa khiến" để lèo lái nền độc lập này, đã thúc đẩy tôi quả quyết hành động.

    Và tôi đã chia sẻ được lòng tin của mình với một trong những người bạn Pháp thân nhất của tôi, ông Antoine Ahon, một người có liên hệ mật thiết với văn phòng Chủ Tịch René Laniel (1), qua trung gian của ông chủ nhiệm văn phòng, tổng đốc Germain Vidal, và có liên hệ với bộ trưởng tại phủ chủ tịch Bougenot, trực tiếp dưới quyền Chủ Tịch Laniel. Anh bạn Ahon, mặt khác cũng quen thân với bộ trưởng ngoại giao Georges Bidault.

    Cũng là một người "Chúa khiến", Antoine Ahon đã là người trung gian tuyệt vời cho Trần Chánh Thành với hai nhân vât kể trên (Vidal và Bougenot) trong văn phòng Chủ Tịch Laniel và Geoges Bidault.

    Trí thông minh, sự trung thành và giác quan hiệu quả của Trần Chánh Thành đã là hoàn thành cốt lõi phần còn lại. Qua nhiều trao đổi trong thời gian từ cuối tháng 3 đến giữa tháng 5-1954 ông ta đã trình bày tình trạng Việt Nam lúc đó với nhãn quan quốc gia chân chính cũng như những đức tính xuất chúng của ông Ngô Đình Diệm để cầm quyền tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn khẩn trương này.

    Chính vì thế mà chủ tịch Laniel và bộ trưởng Bidault đã tiếp ông Ngô Đình Diệm một cách thuận lợi.

    Và cũng nhờ "ơn Chúa", hai vị lãnh đạo này, sau khi đắn đo suy nghĩ đã hiểu rằng, vào lúc chính quyền chính phủ của họ sắp đổ, bắt buộc phải cứu Việt Nam đang đứng trước hiểm họa lớn là bị nuốt trửng vào Thế Giới Cộng Sản, và phải cố cứu vãn quan hệ Pháp Việt bằng cách khẩn cấp khiến Hoàng Đế Bảo Đại, lúc đó vẫn còn là quốc trưởng Việt Nam chính thức, bổ nhiệm Ngô Đình Diệm đứng đầu chính phủ.

    Điều này đã được thực hiện bằng dụ (sắc luật) của Bảo Đại đầu tháng 6-1954, chỉ vài ngày trước khi chính phủ Laniel –Bidault – Reynaud bàn giao quyền hành cho chính phủ Mendès France.

    Điều này đã có thể thực hiên được vì chính quyền Pháp lúc đó có nhiều phương tiện để gây áp lực quyết định trên Bảo Đại (2).

    Và quyết định tối quan trọng và "theo ý Chúa" này đối với Việt Nam chắc chắn đã không thể có với một chính phủ Mendès France hoàn toàn chịu ảnh hưởng của khuynh hướng chính trị Pháp đòi thực hiện y chang Hiệp Định Genève tháng 6-1954, theo đó sẽ có tổng tuyển cử trên toàn cõi Việt Nam, Bắc cũng như Nam.

    Cuộc tổng tuyển cử này hầu như chắc chắn sẽ dẫn tới kết quả là thiết lập chế độ cộng sản trên cả nước Việt Nam và triệt tiêu mọi hy vọng cầm quyền của Ngô Đình Diệm.

    Ông này đã hiểu rất rõ như vậy nên ông đã đến nhà tôi để cảm ơn tôi và bạn Ahon của tôi trong khoảng thời gian vài ngày từ khi ông được Bảo Đại bổ nhiệm đến khi ông lên máy bay về Sài Gòn nhận chức.

    Tôi luôn luôn ngạc nhiên tại sao Bà chưa bao giờ bận tâm tìm hiểu tiến trình đã đưa Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên cầm quyền.

    Đúng là anh bạn Nhu của tôi rất kín đáo. Nhưng một người vợ quyết tâm không lẽ lại không khám phá ra được những bí mật của chồng mình?

    Xin gửi Bà lời chào rất trân trọng.

    (ký tên Jacques Bénet)

    Đính kèm thư của Bà ngày 22 tháng 8-1976

    Chú thích:

    1) Bà Ngô Đình Nhu tin rằng việc ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền là hoàn toàn do ý Chúa.

    2) Nước Pháp lúc đó theo chế độ đại nghị, thử tướng là chủ tịch hội đồng bộ trường.

    3) Khi tôi hỏi ông trong bữa ăn trưa cùng với hai anh Trần Minh Châm và Nghiêm Văn Thạch áp lực nào thì Jacques Bénet mỉm cười nói rằng Bảo Đại ăn chơi cờ bạc nên luôn luôn có nhiều vấn đề, kể cả tài chính.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    10 phản hồi

    Sau khi đọc bài của Kiểng, với những bản photcopy bút tích ông cố vấn, rồi tên bà vợ tôi có một niềm lo lắng ..chả nhẽ?! May mắn sao, tôi đọc tiếp các comment sau đó và bổng vở òa vì vui mừng, hóa cu Kiểng đã quá hồ đồ, nước Việt tan hoang do CS và cũng do những tay như Kiểng, tại thời điểm 2015 có quyền nghi ngờ về một sự đi đêm của Kiểng, một đơn đặt hàng của CS Hanoi khi nhận thấy ảnh hưởng của sự nhìn nhận lại lịch sử, về sự sáng ngời của miền Nam, của nền đệ nhất Cộng Hòa và công lao của Tổng thống Ngô Đình Diệm?

    Hình như có gì không ổn trong bài viết của ông Kiểng khi ông khẳng định là “Hai lá thư này cho phép kết luận rằng ông Ngô Đình Diệm không phải do Mỹ đưa lên cũng không phải do ông Bảo Đại chọn lựa mà là một giải pháp của chính quyền Pháp để triệt thoái một cách êm thấm khỏi Việt

    Thứ nhất, thư của ông Nhu viết cho Benet đề ngày 20 tháng Tư không đề năm, liệu ông Nhu quên hay ai đó xóa nó đi, có Trời mới biết tại sao. Kế đó là nội dung lá thư cho thấy dường như ông Nhu lúc viết đã “vào vị trí” của một giới chức đang cầm quyền nghĩa là sau khi ông Diệm về nước chấp chánh . Dẫn chứng thư này để bảo Pháp đưa ông Diệm về là khó thuyết phục .

    Thứ hai, có một điều quan trọng trong lá thư của Benet viết cho bà Nhu mà ông Kiểng dùng làm cơ sở lý luận có một câu quan trọng “Điều này đã được thực hiện bằng dụ (sắc luật) của Bảo Đại đầu tháng 6-1954, chỉ vài ngày trước khi chính phủ Laniel –Bidault – Reynaud bàn giao quyền hành cho chính phủ Mendès France..”

    Chính phủ Laniel tồn tại trong thời gian ( 27 juin 1953 – 12 juin 1954). Ông Diệm chấp chánh ngày 26 October 1955 .
    Chuyện ông Diệm được Benet bạn của ông Nhu vận động chính phủ Joseph Lauriel để “bảo” Vua Bảo Đại đưa ông Diệm về chấp chánh như trong lá thư thứ hai mà Benet gửi cho bà Nhu là có thật, và cũng rất thật là vài ngày sau đó chính phủ Lauriel đã ra đi nhường chỗ cho chính phủ Mendès France.

    Trong tháng 5 năm 1955, Pháp, Hoa Kỳ và Anh đã gặp nhau tại Paris để thảo luận về việc phòng thủ Châu Âu, nhưng Pháp đã kịp thời đưa Việt Nam thành một điểm chính của chương trình nghị sự. Pháp khẳng định rằng Hoa Kỳ, trong việc ủng hộ Diệm, đã nhất thiết buộc Pháp phải rút hoàn toàn ra khỏi Việt Nam. Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, ông Faure đã cho rằng Diệm là ‘không những không có khả năng mà còn là kẻ điên... Pháp không thể chấp nhận rủi ro với ông ta.’
    Đoạn này được trich ra từ tài liệu “Bí Mật Ngũ Giác Đài – Phần IV – A3” (*)

    Như vậy, khẳng định của ông Kiểng là Pháp đưa ông Diệm về Việt Nam đúng là có một vận động chính trị như thế, đúng trên bàn giấy, nhưng không còn đúng khi diễn tiến chính trị xảy ra sau đó

    Riêng về những phê phán của ông Kiểng về hai ông Diệm Nhu, tất cả những điểm đều có thể tranh luận nhưng ở điểm 2 viết “Ông đã hợp tác tận tình với chế độ Pháp thuộc và đã tiếp tay đàn áp những người đấu tranh giành chủ quyền dân tộc” đây là một thứ ngậm máu phun người kinh hoàng . Ông Diệm bỏ cả chức Thượng Thư Bộ Lại đi lưu vong vì không chịu phục tùng người Pháp, khi về nước đã đánh tan tất cả các lực lượng Giáo Phái mà sau lưng là Pháp trang bị và tài trợ, vụ Bảy Viễn, việc loại bỏ tất cả các trường Pháp tại Miền Nam, chắc ai nấy ở tuổi ông Kiểng vẫn còn nhớ .

    Những điểm khác, chê bai người khác để làm mình nỗi trội cũng khó thuyết phục được ai, tôi cũng không mất công để tranh luận .

    Chỉ mong mọi người đọc tài liệu “Bí Mật Ngũ Giác Đài – Phần IV – A3” để có cái nhìn chính xác hơn về ông Diệm, vì đây là tài liệu mật, các dữ kiện là có thật không phải kiểu tôi quen ông này, tôi bàn với bà nọ để tỏ rằng ta đây là kẻ hiểu biết .
    (*) http://ttngbt.blogspot.com/2012/10/bi-mat-ngu-giac-ai-phan-iv-a3-quan-he.html

    >>> Chế độ ông Diệm không hoàn hảo, chắc chắn là thế. Cũng tương tự như các chính quyền không hoàn hảo của các quốc gia mới dành độc lập trong vùng như Đại Hàn thời Lý Thửa Vãn, Đài Loan thời Tưởng Giới Thạch, Phi Luật Tân thời Ramon Magsaysay.

    Đã có nhiều đánh giá cân bằng về chế độ Ngô đình Diệm, một trong số đó là:
    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/why-president-ngo-dinh-diem-should-be-killed-ml-10292015135932.html

    Nguyễn Gia Kiểng chưa bao giờ tỏ ra là có quan điểm, tầm nhìn cân bằng. Kiểng có vẻ là một advocate, political activist già, cực đoan, nhưng thất thời, bất lực, đóng đô ở Paris, cay cú có lẽ vì (và như là) nước Pháp, một nước đã và đang mất ảnh hưởng quốc tế, kể cả ảnh hưởng ở thuộc địa cũ là Việt nam.

    Ngô đình Diệm và Nhu đã có vẻ muốn có và tự tạo một chính sách tự chủ, độc lập với cả Mỹ và Pháp, điều này làm nhiều người lúc đó cay cú, tức giận. Người Mỹ có nhiều tay sai quân phiệt Việt hơn, đã phần nào đưa đến cái chết cho hai ông.

    Những người phê phán ông Nhu đã tìm cách liên lạc với Việt cộng nên so sánh việc ông Nhu tự chủ, độc lập đàm phán với Việt cộng với việc ông Nguyễn văn Thiệu bị Mỹ xềnh xệch kéo vào bàn đàm phán chỉ trong giai đoạn cuối của việc thương thuyết, bắt ký hiệp định Paris, khoảng 10 năm sau nước cờ của ông Nhu. Tự chủ khởi động đàm phán hay bị kéo vào bàn đàm phán vào lúc cuối cùng, phương án nào hay hơn?

    Sự thiệt là vấn đề ở Việt nam sau cùng phải được giải quyết bằng giải pháp chính trị. Giải pháp chính trị do người Việt hai bên tự chủ thương thuyết với nhau, hay giải pháp do người Mỹ thương thuyết rồi áp đặt cho miền Nam Việt nam, cách nào hay hơn? Lúc đó, những ông tướng lãnh võ biền ở miền Nam tay sai của Mỹ đã không hiểu được điều này, việc này có thể hiểu được. Nhưng chẳng hiểu vì sao lúc này, năm 2015, Kiểng, một người Việt không phải là thuộc giới quân phiệt, lại đi phê phán ông Nhu đã độc lập, tự chủ đi nước cờ trước người Mỹ tới 10 năm?

    Càng về già, tui lại càng có cái nhìn có thiện cảm hơn với chế độ ông Diệm.

    Tớ ngậm ra rằng, bài viết nì của "kụ" Kiểng hơi bị giống phim " te ro in lít tôn sàigòn" của Tôm sòm.
    Này nhá: Có những vật chứng "rành rành" ra đó, dư "một vài từ ngữ trong 2 lá thơ cách nhau 50 năm (1954-2004)"- tớ cầm đỡ cụm từ nì của cụ PU- rùi kết lận chắc nịch như mặt giăng, mặt giời quay quanh quả đất:

    Nguyễn Gia Kiểng viết:

    đó là tôi có được hai tài liệu cho thấy rõ một cách không thể chối cãi tiến trình đã đưa ông Diệm lên cầm quyền và cũng giải thích tại sao chính quyền Ngô Đình Điệm đã hành động như họ đã làm.người Pháp đưa ông Diệm lên cầm quyền và làm áp lực để buộc Bảo Đại phải chấp nhận giải pháp này...

    "Chí sĩ" - mượn đỡ lời đề nghị của FP- Kiểng phán chắc nịch vì... Kenneth Todd Young đã nói thía.
    Đề nghị "chí sĩ" Kiểng mần một bộ phim "điều cha" cho những phiếm lận nì, mở mắt cho Lừa , để bỏn có " một sự hiểu biết chính xác" về lịch sử nền Đệ Nhất Cộng Hoà ở miền Nam Việt Nam. Sau khi được xem phim do "ngài" Kiểng mần, Lừa sẽ "đời đời" nhớ ơn "ngài" đã cho bỏn "sáng mắt sáng lòng":

    Tên tác giả viết:

    Và... chính quyền Pháp đã có cả 1 kế hoạch ngầm để giúp ông NDD loại tướng Nguyễn Văn Hinh, dẹp quân Bình Xuyên và các giáo phái để thâu tóm quyền lực về một mối...
    ....
    Mặt khác theo lời của ông Kenneth Todd Young, một viên chức cao cấp tại bộ ngoại giao Mỹ phụ trách về Châu Á, thì ông Trần Văn Chương, thân phụ bà Ngô Đình Nhu, đã cho hay là một tuần trước khi bị đảo chính hai ông Diệm và Nhu cũng đã có ý định đào thoát ra nước ngoài nhưng ý định này không được thực hiện vì sự chống đối dữ dội của bà Ngô Đình Nhu. Ông Diệm và ông Nhu không tuẫn quốc như nhiều người nghĩ. Họ đã lãnh đạo đất nước, đã không thành công và bị giết, sau khi chính họ cũng đã thủ tiêu nhiều người khác.
    Giai đoạn Ngô Đình Diệm mới chỉ gần đây thôi. Còn khá nhiều tài liệu và nhân chứng. Nếu chúng ta không có nổi một sự hiểu biết chính xác thì những sử liệu về các giai đoạn trước có giá trị gì?
    .

    Tất cả đều chỉ dề một hướng:

    Nguyễn Gia Kiểng viết:
    ...
    Việc Dương Văn Minh giết hai ông Diệm và Nhu sau khi họ đã đầu hàng rất có thể là theo chỉ thị của Mỹ

    Lại một Tunnel-Vision mí vật chứng là 2 bức thơ dà vài chữ trong đó.

    Tiến theo đà phát triển nì, Tôm sòm và Co. sẽ tìm ra các khẩu súng- mất dấu tay- đã giết các ký giả người Việt ở xứ cờ huê.

    He he or- and- cbn. :) :(

    Pi ét: vấn đề tài trợ cho "phim bộ", "kụ" Kiểm nên tự tìm lấy, "có thể" liên lạc mí địa chỉ sau đây:

    Đường lên thiên đàng số 2020
    12345 tỉnh mặt giăng, mặt giời
    nước ép phờ răn cê.

    Trích dẫn:
    Nguyễn Gia Kiểng:
    Một sự thực đáng buồn là cho tới này phần lớn những bài viết về chế độ Ngô Đình Diệm và anh em họ Ngô đều chỉ dựa vào một số sự kiện để phát biểu lập trường có sẵn của mình.

    Câu nhận định "chắc nịch" trong phần kết luận của bài viết, với tôi, cũng áp dụng luôn cho chính tác giả. T/g có vẻ gay gắt trong phê phán, thậm chí kết tội, hai ông Diệm - Nhu. Tôi không có nhiều kiến thức về các chủ thuyết chính trị, chính sách, đường lối, thỏa hiệp, v.v ... trong giai đoạn ông Ngô Đình Diệm cầm quyền. Tôi chỉ có một vài nhận xét cụ thể như sau:

    - Lên cầm quyền, hầu như không có hậu thuẩn vững chắc của một lực lượng quân sự, chính trị nào, trong giai đoạn nhiễu nhương của loạn sứ quân thời đó, mà TT Diệm đã ổn định được cả miền Nam, thiết lập được nền đệ nhất cộng hòa, thì đâu phải là không có tài trị quốc?

    - Chính phủ non trẻ của TT Diệm đã ổn định được cuộc sống cho gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư, trong giai đoạn thật đa đoan của một quốc gia non trẻ, với nhiều xáo trộn, thì đâu phải là không có khả năng quản lý đất nước?

    - So với các nước trong vùng thời đó, cùng có nhiều điểm tương đồng về phân chia/chiến tranh quốc cộng như Đại Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, thì VNCH đâu thua kém gì về các mặt kinh tế, giáo dục, văn hóa xã hội, tự do ngôn luận, và cả về tự do hoạt động chính trị đảng phái? Có thể còn tốt hơn về nhiều lãnh vực là khác!

    Chế độ ông Diệm không hoàn hảo, chắc chắn là thế. Cũng tương tự như các chính quyền không hoàn hảo của các quốc gia mới dành độc lập trong vùng như Đại Hàn thời Lý Thửa Vãn, Đài Loan thời Tưởng Giới Thạch, Phi Luật Tân thời Ramon Magsaysay.

    Nếu không có quyết định của Bộ Chính Trị đảng CS VN, qua nghị quyết tháng 5, 1959 (NQ 559) quyết tâm tiến hành phát động vũ trang lật đổ chính quyền VNCH bằng cách xua quân xâm nhập miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại và lấn chiếm, gây bạo loạn thành thị, góp phần làm sụp đổ nền đệ nhất cộng hòa, thì tôi chắc VNCH vẫn sung túc, ấm no, an bình, vẫn sẽ tiếp tục khởi sắc, như nhiều năm đầu sau 1954.

    Nếu ông Nguyễn Gia Kiểng muốn, bạn đọc chúng tôi sẵn sàng xưng hô với ông : Chí Sĩ Nguyễn Gia Kiểng!
    Ấy là để ông đỡ vất vả, hao tâm tổn trí đi tìm những tài liệu cỡ này nhằm... "soán ngôi" chí sĩ cuả cụ Diệm!

    Đoc bài của Nguyễn Gia Kiểng, bậc hậu sinh như tôi lại càng kính trọng Ngô Đình Diệm. Một người hết lòng vì quốc gia. Chỉ có một điều tôi không phục ông Diệm, đó là Ông làm chính trị mà không biết lừa dối, lươn lẹo, mượn gió bẻ măng, lựa nước theo dòng, không biết tình thế. Cây cứng quá dễ gãy.

    Tác giả viết:
    Việc Dương Văn Minh giết hai ông Diệm và Nhu sau khi họ đã đầu hàng rất có thểtheo chỉ thị của Mỹ.

    Mặc dù tác giả chỉ nói là có thể Mỹ đã ra lệnh thủ tiêu, thêm thông tin.

    Qua 1 phim, 1 cựu CIA diễn tả khá chi tiết Bài Bản người Mỹ lật đổ vì lý do kinh tế hoặc chính trị etc... Không nhớ chính xác, đại ý họ có những toán, những giai đoạn và trường hợp. Tóm tắt như sau, khi ko còn giải quyết được bằng miệng (thương thảo etc...):

    1) Toán 1, thuộc CIA, mang tên Ice Breaker (ko nhớ chính xác tên), dùng người của chính nước đó làm coup d'état. Nếu ko thành, bước kế đến.

    2) Toán 2, cũng thuộc CIA, có nick nhưng ko nhớ, dũng vũ lực (loại nhẹ). Họ đào tạo, cung cấp vũ khí cho những phiến quân hoặc những phe nhóm chống lại chính phủ cầm quyền.

    3) Khi cả 2 phương cách trên thất bại, bước kế đến, hàng khủng. Sau khi cân đo đong đếm, quyền lợi chiếm ưu thế hơn dù phải đổ máu. Lúc đó mấy tướng nhà binh được triệu tập, tham khảo, lên kế hoạch để dứt điểm.

    Qua những phương cách bài bản trên, ngay từ bước đầu, với cá nhân, người Mỹ ko cần phải ra lệnh bóp cò.

    Ghi chú: Người kể lại đã từng là thành viên của toán 1 hoặc 2 (ko nhớ).

    1) Tôi thấy quá hồ đồ khi chỉ căn cứ vào một vài từ ngữ trong 2 lá thơ cách nhau 50 năm (1954-2004) : một, của ông NĐN gửi ông J.Bénet, một, của ông Bénet gửi bà NĐN, mà suy đoán là " người Pháp đưa ông Diệm lên cầm quyền và làm áp lực để buộc Bảo Đại phải chấp nhận giải pháp này... Và... chính quyền Pháp đã có cả 1 kế hoạch ngầm để giúp ông NDD loại tướng Nguyễn Văn Hinh, dẹp quân Bình Xuyên và các giáo phái để thâu tóm quyền lực về một mối ". Cũng phải nói thêm là chả ai biết cái ông Bénet này là ai cả.. Nhưng trong lá thư riêng gửi cho bà Nhu năm 2004, với tư cách là bạn ông Nhu, thì đến năm 1976 ông này mới chỉ là một viên chức thường của bộ Hợp tác (bộ Thuộc địa cũ), thì năm 1954, ông này là cái thá gì mà có thể vận động được chính phủ Pháp để cho ông Diệm lên cầm quyền?
    Tôi cũng xin nói thêm là tôi thấy tròng bản dịch 2 lá thơ, có nhiều chữ dịch không đúng nghĩa của nó : Chẳng hạn như chữ "désinvolte", không có nghĩa là "vô tư" mà có nghĩa trách móch là có thái độ coi thường người khác, không thèm để ý chuyện người khác nhờ : Bà NĐN trách ông Benet trả lời một cách "sans gêne", lững lờ về một hồ sơ bà gửi ông đó từ năm 1963 và cũng để đối lại, ông Bénet cũng trách bà không thèm để ý đến phiên bản của ông về trrường hợp nào ông Diệm lên cầm quyền. Từ "Président" dịch là "chủ tịch" cũng vậy. Président ở đây là Président du Conseil (chủ tịch Hội đồng bộ trưởng), tức là thủ tướng. Còn trong những bản chép lại những lá thơ bằng chữ in, thì vô số những lỗi về văn phạm và chính tả, chẳng hạn như " ... qui sont, j'en suis persuadé(s) không có S vì không đi với "qui sont". Guerre là chiến tranh khác với guère trong "vous n'aimiez guère chứ không phải "guerre". Những fautes mà học trò lớp 6è chương trình Pháp ngày trước (lớp 6 bây giờ) cũng không bao giờ mắc phải.

    2) Tôi xin trích dịch dưới đây đoạn trong cuốn "Rồng Nam" của Bảo Đại nói về lí do vì sao đã triệu ông Ngô Đình Diệm làm thủ tướng (trang 328-329) :
    " .... Bị thiếu 13 phiếu, ngày 12-6-54 chính phủ Laniel phải từ chức. Ngày 14, tổng thống Coty chỉ nhiệm Mendès France thành lập chính phủ... Tôi không còn trông cậy gì ở người Pháp. Ở Genève chỉ còn có người Mỹ là đồng minh thôi... Tôi triệu tập tới Cannes tất cả các lãnh đạo chính trị và tinh thần để họ cho ý kiến và để gợi ý họ sự cần phải thay hoàng thân Bửu Lộc bằng Ngô Đình Diệm trong chức vụ thủ tướng chính phủ. Tất cả đều vui vẻ đồng lòng với đề nghị của tôi... Sau khi bàn bạc với Foster Dulles (ngoại trưởng Mỹ), tôi triệu Ngô Đình Diệm đến và nói :
    " -- Mỗi lần tôi cần thấy phải thay đổi chính phủ , tôi đều vời ông đến. Ông luôn luôn từ chối. Hiện nay, tình hình đã quá trầm trọng, đất nước có cơ bị cắt đôi. Ông phải ra đứng đầu chính phủ;
    " -- Thưa Ngài, không thể được. Phải thưa với Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi có ý định sống trong dòng tu.
    " -- Tôi kính trọng ý định của ông, nhưng bữa nay, tôi phải kêu gọi ý chí yêu nước của ông, Ông không được quyền trốn tránh trách nhiệm. Sự sống còn của Việt Nam đòi hỏi như vậy.
    " Sau một hồi yên lặng; NĐD nói với tôi ;
    " -- Trong những điều kiện này, tôi xin nhận lãnh nhiệm vụ.
    " Tôi kéo tay NĐD qua phòng bên cạnh có cây thánh giá; Trước cây thánh giá, tôi nói :
    " -- Đây là Chúa của ông. Ông hãy thề trước mặt Chúa là phải giữ gìn đất nước được giao phó cho ông. Ông phải bảo vệ nó chống lại cộng sản và nếu cần thiết, phải chống ngay cả người Pháp.
    " NĐD đứng yên lặng cầu nguyện một hồi, nhìn tôi rồi quay về phía thánh giá, nói lẩm bẩm với một giọng nghẹn ngào :
    " -- Tôi xin thề "

    >>> Như vậy phải hiểu rằng chính sách hợp tác với Mỹ và chống Pháp trong những năm đâu của chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ là bề ngoài. Bên trong thực sự là đi đêm với Pháp và lợi dụng Mỹ.

    Giả sử là Ngô đình Diệm và Ngô đình Nhu có theo đuổi chính sách "là đi đêm với Pháp và lợi dụng Mỹ." Khi đệ nhất Cộng hoà còn non trẻ, phải chống Cộng sản từ phương Bắc, trong hoàn cảnh quyền lợi của Mỹ và Pháp có khi ngược nhau, chính sách "đi đêm với Pháp và lợi dụng Mỹ," tìm cách độc lập, có lợi cho đất nước như vậy có gì là xấu? Chắc ông Kiểng muốn ông Diệm và Nhu phải đóng vai thông dịch, tay sai cho Mỹ hoặc/và Pháp thì ông mới thoả mãn? Hay là đóng vai lưu vong, viết báo linh tinh ở Pháp như ông Kiểng hiện nay thì mới là parfait? Hay là phải có quan hệ bạn 16 vàng + 4 tốt như Đảng và Nhá nước ta hiện nay?

    >>> Cũng theo chủ trương của Pháp mà chính quyền Ngô Đình Diệm đã ngấm ngầm tiếp xúc với phe cộng sản để tìm cách thỏa hiệp.

    Ngấm ngầm tiếp xúc với Cộng sản để tìm cách thoả hiệp: Thiệt ra, sau khi nhìn cách người Mỹ, người Pháp, rút khỏi Việt nam sau cuộc chiến dài, sau khi nhìn các cuộc chiến và quan hệ quốc tế, tui thấy thượng thuyết, giải pháp chính trị là một trong những giải pháp hay nhất. Trong hoàn cảnh của ông Diệm và Nhu, khi quân Mỹ lăm le muốn đổ vào và nền độc lập của miền Nam sắp bị mất, thì nói chuyện với miền Bắc là một trong những options mà lãnh đạo miền Nam phải thăm dò.

    Sau khi tham chiến gần 10 năm ở miền Nam, chính người Mỹ cũng phải ngồi lại thương thuyết với Hà nội, đưa đến hiệp định Paris. Khi ngấm ngầm tiếp xúc với Phạm Hùng, ông Nhu đã có bước cờ đi trước Mỹ tới 10 năm, và điều này đã làm người Mỹ tức giận.

    >>> Theo hồi ký của ông Nguyễn Phú Đức, cựu bộ truởng VNCH, việc này bị Mỹ phát giác vì đại tá Hoàng Thụy Năm đã thông báo cho tình báo Mỹ cuộc tiếp xúc giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng trên sông Sài Gòn. Ông Nhu đã ra lệnh giết ông Hoàng Thụy Năm và đổ tội cho cộng sản ám sát.

    Ở Mỹ hiện nay, nếu tiết lộ những điều như Hoàng Thụy Năm đã làm, sa thải là việc tức khắc, mang ra toà quân sự là điều đương nhiên. Trong hoàn cảnh ông Diệm và ông Nhu và quan hệ với người Mỹ khi đó, nếu ông Nhu ra lệnh giết ông Năm thì điều này có thể hiểu được.

    Nói chung, đọc xong bài Nguyễn Gia Kiểng phê phán Ngô Đình Diệm và Nhu, tui có cảm giác là Ngô Đình Diệm và Nhu có vẻ đã theo đuổi một chính sách độc lập với cả Pháp lẫn Mỹ, chẳng hiểu tại sao điều này đã làm ông Kiểng tức giận.

    Diệm và Nhu đã chết, đã trả giá cho chính sách độc lập đối với Mỹ bằng sinh mạng của chính họ, chắc cũng chẳng thèm để ý đến ý kiến của người hậu thế ồn ào, mà tầm nhìn là muốn làm thông dịch, tay sai cho Pháp.