LS. Trần Quốc Thuận: Vụ án Ba Sàm thiếu chứng cứ, có dấu hiệu vi phạm tố tụng nghiêm trọng

  • Bởi Sapphire
    17/11/2015
    4 phản hồi

    Đoan Trang

    “Ban đầu tôi tưởng đâu vụ này sẽ lại lặp lại các vấn đề về dân chủ – nhân quyền như vụ Cù Huy Hà Vũ, nhưng hóa ra lại là một vấn đề khác, còn vi phạm nhân quyền nghiêm trọng hơn. Đó là, theo những công ước nhân quyền quốc tế mà Việt Nam đã ký thì: Không thể kết tội một người nếu không chứng minh được người đó có tội” – ông Trần Quốc Thuận, một trong 5 luật sư bảo vệ cho blogger Ba Sàm (Nguyễn Hữu Vinh), trao đổi với Luật Khoa.


    Luật sư Trần Quốc Thuận. Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ.

    PV: Ông tiếp nhận hồ sơ vụ án “Anh Ba Sàm” từ khi nào?

    LS: Khi anh Vinh bị bắt thì anh có nói qua cô Hà (bà Lê Thị Minh Hà, vợ ông Nguyễn Hữu Vinh – PV) mời tôi làm luật sư. Nhưng do tôi ở miền Nam nên đã từ chối vì không muốn đi lại nhiều gây tốn kém cho gia đình trong giai đoạn thẩm vấn, chất vấn bị can. Tôi nói lúc nào thích hợp thì tôi sẽ tham gia.

    Và khi có kết luận điều tra, anh Vinh lại nhắc lại là mời tôi làm luật sư. Nên tôi gửi hồ sơ ra, đến ngày 21/3/2015 thì có quyết định của Viện Kiểm sát đồng ý cho tôi làm luật sư cho anh Vinh, nhưng phải giục nhiều lần thì cuối tháng 4/2015, tôi mới nhận được quyết định đó.

    Lần ra nhận quyết định, tôi cũng tranh thủ gặp anh Vinh trong một tiếng đồng hồ, cũng không nói được nhiều. May mà có LS. Hà Huy Sơn tham gia ngay từ đầu, anh ấy có đầy đủ hồ sơ vụ án. Tôi đã nhờ anh ấy chuyển cho tôi để đọc và tiếp cận vụ án. Khi tiếp cận vụ án, thật sự tôi đã đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

    PV: Ngạc nhiên sao ạ?

    LS: Ban đầu tôi vẫn nghĩ rằng anh Vinh bị bắt vì anh là chủ trang “Anh Ba Sàm” tức trang “Thông Tấn Xã Vỉa Hè”. Nhưng khi tiếp cận hồ sơ thì hóa ra không phải, mà anh ấy bị bắt vì hai trang “Dân quyền” và “Chép sử Việt”. Rôi lại cũng chẳng phải do hai trang này mà thành ra là vấn đề kỹ thuật vi tính.

    Tôi đã chuẩn bị tranh tụng cho vấn đề dân chủ và nhân quyền như Việt Nam đã ký ở các công ước quốc tế liên quan, nhưng cuối cùng thì không phải vậy. Và theo hướng kỹ thuật vi tính thì việc điều tra vụ án thực sự là bế tắc cho cơ quan điều tra.

    PV: Ông có thể nói rõ bế tắc như thế nào?

    LS: Tức là, cơ quan điều tra khẳng định anh Vinh là chủ của hai trang “Dân quyền” và “Chép sử Việt”, bởi vì họ cho rằng anh ấy có số điện thoại và email cài mật mã hai lớp để vào được hai trang đó.

    Anh Vinh nói rằng họ phải chứng minh được anh vào khi nào, bằng cách nào. Lúc này thì cơ quan điều tra thua, họ phải mời tới FPT và các cơ quan truyền thông của Bộ Thông tin – Truyền thông để làm rõ. Bên FPT đưa ra giờ, ngày, tháng… mà anh Vinh có ở trên giao diện của hai trang đó, tức là đang đọc tin trên hai trang đó. Nhưng đọc tin mà có tội thì Việt Nam này có tới cả triệu người đi tù rồi.

    Dù vậy, cơ quan điều tra vẫn nói đại rằng anh Vinh chính là quản trị viên của hai trang trên, bởi lẽ anh Vinh có đủ điều kiện để vào được hai trang đó. Anh Vinh vẫn bác lại với lập luận: “Không phải tôi có chìa khóa vào nhà thì có nghĩa là tôi vào nhà. Mà nếu tôi vào nhà thì phải để lại dấu vết, còn không tìm ra dấu vết thì không thể khẳng định được gì”.

    Cơ quan điều tra cũng cố làm rõ xem có phải anh Vinh đã can thiệp thay đổi nội dung các bài đăng trong hai trang trên không, vì nếu có thì đúng là anh Vinh vào đó thật. Nhưng anh ấy không nói, mà cơ quan điều tra thì không thể chứng minh được. Lẽ ra, điều tra không được thì phải thả.

    Ban đầu tôi tưởng đâu vụ này sẽ lại lặp lại các vấn đề về dân chủ – nhân quyền như vụ Cù Huy Hà Vũ, nhưng hóa ra lại là một vấn đề khác, còn vi phạm nhân quyền nghiêm trọng hơn. Đó là, theo những công ước nhân quyền quốc tế mà Việt Nam đã ký thì: Không thể kết tội một người nếu không chứng minh được người đó có tội. Và anh Vinh đang rơi vào trường hợp đó.

    PV: Ông có thể cho biết vắn tắt các vi phạm tố tụng trong vụ án Ba Sàm?

    LS: Trong hồ sơ có kết luận điều tra thì thấy nói rằng Tổng cục An ninh (Tổng cục 6) theo dõi và thấy có hai trang mạng “Dân quyền” và “Chép sử Việt”. Sau đó, họ gửi công văn cho bên FPT… Rồi họ giao cho cơ quan điều tra, cơ quan điều tra mới phối hợp điều tra và xác minh. Và thế là có lệnh bắt khẩn cấp.

    Khi đến bắt khẩn cấp thì họ gõ cửa, kêu lâu quá. Anh Vinh bảo: “Đâu phải nhà tôi lúc nào cũng sẵn sàng mở cửa cho các anh đâu”. Lúc họ vào nhà thì anh Vinh đang đau đầu, nằm trên ghế. Họ cứ thế vào bật máy và in ra rất nhiều tài liệu, phòng của cô Thúy họ cũng vào in ra được ba bài. Đem biên bản cho anh Vinh ký thì anh ấy không ký, bảo “với đường truyền tốc độ cao thì các anh muốn in bao nhiêu bài chả được, cứ gì 6 bài”.

    Sau đó họ niêm phong cửa phòng lại. Nhưng phòng này lại là phòng có hai cửa, nên về sau anh Vinh nói rằng ai đó khác cũng có thể vào bằng cửa kia và in ra rất nhiều bài.

    Trường hợp này cũng không cần phải bắt khẩn cấp, bắt khẩn cấp là lạm quyền. Chưa kể, như bình thường, lệnh bắt khẩn cấp phải được Viện Kiểm sát phê chuẩn trong 24 giờ sau khi bắt, nhưng trong vụ này thì 8 ngày sau Viện Kiểm sát mới phê chuẩn.

    Đó là những vấn đề vi phạm tố tụng nghiêm trọng.

    Ngoài ra, trong tố tụng hình sự, có quy định rằng những người có liên quan đến vụ án (ví dụ: người bị hại…) thì không được tham gia vào tố tụng.

    Vụ án này có liên quan đến ông Hoàng Kông Tư, bởi trong 24 bài mà anh Vinh bị buộc tội đăng tải, có một bài về ông Hoàng Kông Tư, là bài “Ông trời con Hoàng Kông Tư vs. BBC Việt ngữ”. Ấy thế mà ông Hoàng Kông Tư lại đứng ra điều tra về vụ án có bài viết đó.

    Như vậy, rất có thể hiểu thành ông Tư trả thù người ta; vì người ta đăng tải bài đó nên ông đứng ra điều tra để trả thù, ông có động cơ trả thù.

    Việc đó, về mặt tố tụng, là không được phép. Người bị hại không được phép đứng ra điều tra.

    PV: Ông có biết tại sao anh Nguyễn Hữu Vinh bị bắt? Mà lại bắt vào đúng tháng 5 năm ngoái, thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan khổng lồ vào vùng biển của Việt Nam. Liệu có phải là một động thái của chính quyền nhằm trấn áp những người chống việc thân Trung Quốc không? Sau đó họ cũng bắt Bọ Lập, GS. Hồng Lê Thọ…

    LS: Các blogger viết bài, nhiều khi nhìn vào cách viết thì thấy là họ cũng có thiên kiến, không ủng hộ ông này mà ủng hộ ông kia, giữa những ông có đầy quyền lực. Cho nên bắt bớ kiểu đó cũng là kiểu chặt tay, chặt chân của nhau. Thế gọi là “trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”.

    Trước những ngưỡng cửa, trước những bước ngoặt thì thường hay có biến cố kiểu đó.

    PV: Ông thấy hai vụ – Cù Huy Hà Vũ và Anh Bà Sàm, vụ nào khó cãi hơn?

    Bây giờ không khí cởi mở hơn so với năm 2013, tư pháp cũng có nhiều đổi mới hơn. Để cãi thì cũng có nhiều chỗ để mà cãi hơn. Trong bài cãi cho Cù Huy Hà Vũ thì có lý sự, lập luận rõ ràng và có vẻ logic hơn.

    Còn trong trường hợp Nguyễn Hữu Vinh, tôi cho rằng câu chuyện là sự vi phạm quy trình tố tụng, bắt người mà không có chứng cứ. Khi không chứng minh được anh Vinh phạm tội mà vẫn giam giữ anh thì vi phạm nhân quyền đó còn lớn hơn là vi phạm quyền tự do ngôn luận. Vì quyền con người đầu tiên là quyền được sống, được tự do thân thể, không bị giam giữ.

    PV: Vậy theo ông thì sắp tới vụ án sẽ diễn biến thế nào ạ?

    LS: Thì chính quyền cũng sẽ gặp khó khăn, họ biết vậy. Nhưng giống như vụ Cù Huy Hà Vũ, họ cũng chịu một áp lực là phải xử, phải đem Nguyễn Hữu Vinh ra tòa xét xử. Giờ chúng ta chỉ không biết họ sẽ khép anh Vinh vào tội gì cho đỡ vô lý thôi, không biết có khép tội trốn thuế không nữa (cười).

    Vụ án Ba Sàm: Ông Nguyễn Hữu Vinh, tức blogger Ba Sàm, và bà Nguyễn Thị Minh Thúy (nhân viên kế toán của Công ty TNHH Điều tra và Bảo vệ V) cùng bị bắt khẩn cấp ngày 5/5/2014 tại nhà riêng ở Hà Nội. Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an buộc tội ông Vinh là chủ sở hữu và điều hành hai trang web có tên “Dân quyền” và “Chép sử Việt”, đăng tải trên đó 24 bài viết “có nội dung sai sự thật, không có căn cứ; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước…”. Tuy nhiên, các kết luận điều tra đều không chứng minh được ông Vinh là chủ sở hữu và điều hành hai trang này.

    Các luật sư nhận bảo vệ cho ông Vinh và bà Thúy, tính đến thời điểm này, gồm: Trần Quốc Thuận, Trần Văn Tạo, Hà Huy Sơn, Nguyễn Hà Luân, Trịnh Minh Tân, Nguyễn Tiến Dũng. Trong đó, ông Trần Quốc Thuận (Văn phòng Luật sư Hà Hải & Cộng sự) là nguyên Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Quốc hội Việt Nam và từng là một trong các luật sư biện hộ trong vụ án Cù Huy Hà Vũ.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Phản hồi: 

    Trích :
    " Khác biệt thứ hai: Tại các nước có tam quyền phân lập, quyết định khởi tố thuộc về công tố. Qui định này bảo đảm tính cách khách quan của quyết định khởi tố dựa trên kết quả điều tra của cảnh sát. Nếu kết quả điều tra của cảnh sát không đưa ra đủ yếu tố để buộc tội (indictment) thì công tố có quyền từ chối khởi tố. "

    Ngoài ra phải có thêm ý kiến của bên nguyên cũng như bên nghi can có phản đối việc khởi tố của công tố viên hay không. Bởi vì hồ sơ tư pháp trong tất cả mỗi giai đoạn, phải có tiếng nói của tất cả các bên thì mới có thể cho là tương đối công bằng và khách quan.

    Bên nguyên có thể không đồng ý khởi tố ngay bởi vì họ cho rằng bên điều tra làm ăn dở ẹc, thiếu sót, cho nên phải điều tra thêm, tìm thêm hướng mới, thay ê kíp điều tra, .... Việc phản đối này phải được tranh cãi ở tòa

    Bên nghi can có thể không đồng ý khởi tố bởi vì họ cho rằng bên điều tra vi phạm tố tụng nghiêm trọng, ... Việc phản đối này phải được tranh cãi ở tòa khác, một tòa chuyên giải quyết vi phạm tố tụng của bên điều tra cũng như của bên công tố.

    Tóm lại, tất cả các bên từ điều tra, công tố cho đến bên nguyên, bên bị, đều phải có quyền ngang nhau (trước pháp luật), có các trọng tài khác nhau (tòa án) lắng nghe lý lẽ tranh cãi của tất cả các bên, ở từng giai đoạn tố tụng

    Phản hồi: 

    Trích :
    Điều khác biệt thứ nhất: Tại các quốc gia có phân quyền phân lập, cảnh sát chỉ có công tác điều tra; quyết định khởi tố thuộc về công tố viện và kết luận có tội thuộc về toà án.

    Bên Mỹ, hình như Viện công tố, prosecutor chỉ đạo việc điều tra và giao một số việc cho cảnh sát địa phương và liên bang (FBI) thi hành.
    Một số nước khác việc chỉ đạo điều tra là do bên tòa án, thực hiện bởi một thẩm phán điều tra. Cảnh sát chỉ thừa hành công việc do thẩm phán điều tra giao ví dụ trinh sát, lấy dấu tay, săn bắt, làm báo cáo, ...

    Cảnh sát khi phát giác việc, lập biên bản vá đánh giá ban đầu (qualification) và nếu cần, cảnh sát thông báo ngay cho VCT.
    VCT xuống hiện trường quan sát, có thể đánh giá lại và nếu cần, quyết định mở hồ sơ khởi tố và chỉ định một thẩm phán điều tra mở hồ sơ điều tra.

    Nếu có nghi can bị tạm giam thì vòng vài ngày, Viện công tố, prosecutor phải ra văn bản xác nhận tạm giam.
    Văn bản xác nhận tạm giam này phải thông báo chính thức cho các bên như cảnh sát tư pháp (giữ nhà tù), nghi can + luật sư (hoặc người đại diện gia đình) và tòa án.

    Dĩ nhiên là cơ quan, do con người, thì có thể có sai sót, sai lầm ... Nếu quá thời hạn vài ngày mà VCT không gởi (đôi khi do lỗi của cô thư ký) văn bản chính thức tạm giam đến các nơi, cảnh sát bắt buộc phải thả nghi can ra. Prosecutor này dĩ nhiên bị giũa te tua, mất điểm.

    Nếu văn bản quyết định tạm giam được gởi đúng thời hạn, nghi can có quyền không đồng ý với quyết định tạm giam của VCT, họ và LS nộp đơn ra tòa (nơi cũng nhận văn bản này) để phản đối văn bản về việc tạm giam .... Hình như trong vòng vài ngày, tòa triệu tập một phiên tòa bỏ túi để quyết định việc tạm giam hay trả tự do (có điều kiện hay không, ...)

    Nói tóm lại, ở mỗi giai đoạn, mỗi quyết định, nghi can + LS, nguyên đơn + LS, tòa án, VCT, bên điều tra, đều biết rõ lộ trình và status của hồ sơ.
    Hình như, trong quá trình điều tra thì nguyên đơn + LS không được tham dự ở tòa bởi vì việc người bị tạm giam phản đối tạm giam thì không liên quan đến bên nguyên đơn

    Phản hồi: 

    [quote=NGT"] Chẳng lẽ cơ quan điều tra CA là Ông trời con ?
    Theo nguyên tắc tư pháp ở các nước cơ quan điều tra cũng chỉ là một cơ quan tức là thể sai sót, phạm lỗi và phải được kiểm soát bởi các cơ quan khác như viện công tố và tòa án
    Cơ quan điều tra ở VN do các cơ quan nào khác kiểm soát ?
    Tại sao nghi can tạm giam không thể yêu cầu tạm thả và xét xử tại tòa án
    Tại sao VKS không có ý kiến với bên tòa án ?
    Do chưa có thi hành án, tai; sao thủ tướng hoặc chủ tịch nước không có ý kiến tích cực khi có đơn tố cáo cơ quan điều tra vi phạm nhân quyền và luật pháp ?[/quote]

    Về đoạn bôi đậm trong quote ở trên, câu trả lời là: Đúng y như vậy. CHXHCNVN theo chế độ công an trị nên quyền lực của công an bao trùm trên mọi lãnh vực. CHXHCNVN lại không có tam quyền phân lập nên công an có quyền ngang hay trên cả toà án. Khuynh hướng công an trị được hiện rõ trong bộ Luật Tố Tụng Hình Sụ (LTTHS), rất khác so với các qui định về tố tụng hình sự tại các nuớc theo tam quyền phân lập.

    Điều khác biệt thứ nhất: Tại các quốc gia có phân quyền phân lập, cảnh sát chỉ có công tác điều tra; quyết định khởi tố thuộc về công tố viện và kết luận có tội thuộc về toà án. Để việc điều tra được khách quan, công bằng, và tránh sự lợi dụng của cảnh sát, hay các xung đột về lợi ích (conflicts of interests), các hoạt động điều tra của cảnh sát được giám sát chật chẽ. Cảnh sát cần có quyết định của toà để khám xét (search) hay bắt giữ (arrest) những người tình nghi. Lý do là việc khám xét vi phạm vào quyền riêng tư cá nhân, và việc bắt giữ lấy mất đi quyền tự do cá nhân nên phải do quyềt định của toà án độc lập với chính quyền.

    Tại nuớc CHXHCNVN (điều 34 LHSTT) cả công an và viện viện kiểm sát đều có quyến ra lệnh bắt giữ và khám xét. Qui định này khiến cho việc điều tra thiếu khách quan, vì chính quyền (công an và việm kiểm sát) muốn điều tra ai thì cứ tự tiện ra lệnh bắt giữ, khám xét, tương tự như khi trọng tài vừa đá bóng vừa thổi còi.

    Khác biệt thứ hai: Tại các nước có tam quyền phân lập, quyết định khởi tố thuộc về công tố. Qui định này bảo đảm tính cách khách quan của quyết định khởi tố dựa trên kết quả điều tra của cảnh sát. Nếu kết quả điều tra của cảnh sát không đưa ra đủ yếu tố để buộc tội (indictment) thì công tố có quyền từ chối khởi tố.

    Ở nuớc CHXHCNVN, công an cũng có quyến khởi tố (điều 34 LTTHS) . Do đó, khi muốn khởi tố ai, công an có thể thực hiện các cuộc điều tra theo ý họ muốn và khởi tố dù không có đầy đủ chứng cớ. Đây có thể là trường hơp của Anh Ba Sàm cũng như các nhà bất đồng chính kiến bị khởi tố nhưng không có đầy đủ bằng cớ nên không đưa ra xét xử đưọc, cứ phải chờ công an tiếp tục thu thập hay . . . ngụy tạo bằng chứng.

    Khác biệt thứ ba: Tại các nước có tam quyền phân lập, chỉ có toà án mới có quyến cho tại ngoại (bail) hay ra lệnh tạm giam chờ ngày ra toà (pre-trial detention) vì quyết định tại ngoại hay tạm giam liên quan đến quyền tự do cá nhân (freedom). Trong vòng 72 tiếng sau khi cảnh sát hoàn tất việc bắt giữ, toà án phải ra quyết định tại ngoại hay tạm giam.

    Tại nước CHHXHCNVN (điều 34 LTTHS), công an (và công tố) có quyền quyết định về các biện pháp ngăn chặn, trong đó có việc bắt, tạm giữ và tạm giam (điều 71 LTTHS). Qui định này của LTTHS vi phạm nặng nề tính cách khách quan trong việc điều tra vì tạo điều kiện cho công an làm áp lực với nguời bị điều tra bằng biện pháp tạm giam. Thời hạn tạm giam đưọc qui định từ 2 tháng (tội ít nghiêm trọng) tới 4 tháng (tội rất nghiêm trọng). Tuy nhiên, viện kiểm sát có quyền gia hạn thời gian tạm giam 3 lần (mỗi lần không quá 4 tháng) đối với tôi rất nghiêm trọng (điều 120 LTTHS). Đây lại cũng là một việc vi phạm nghiêm trọng tính khách quan trong tố tụng, tạo điều kiện cho công an và kiểm sát bắt giữ nguời tuỳ tiện, thiếu chứng cớ rồi ra hạn tạm giam để đi tìm chưng cớ.

    Khác biệt thứ tư liên quan đến quyền bào chữa: CXHCNVN công nhận quyền bào chữa, nhưng khác với các nuớc theo tam quyền phân lập, CHXHCNVN (điều 34 LTTHS) cho công an quyền cấp giấy chứng nhận luật sư tham gia tố tụng trong từng truờng hợp riêng biệt. Đây cũng là một sự vi phạm nghiêm trọng vào quyền được bào chữa và tính khách quan của tố tụng hình sự vì khi công an không muốn luật sư nào vạch ra các khuyết điểm trong quá trình điều tra của công an thì sẽ không cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư ấy.

    Tóm lại, đo nhiếu qui định của luật tố tụng hình sự ở VN vi phạm các nguyên tắc về khách quan và công bằng trong tố tụng hình sự, công việc của các luật sư là đề nghị lên quốc hội sửa đổi LTTHS để đem lại công bằng trong quá trình xét xử đồng thời tạo cơ hội thuận tiện cho việc hành nghề của họ. Tại các quốc gia phát triền, cac luật sư đoàn có tiếng nói rất mạnh mẽ trong việc cải tổ luật pháp. Trách nhiệm của luật sư là đem lại công lý nói chung và công lý cho thân chủ của mình, nhưng sẽ không thể có công lý khi luật sư đồng ý chấp hành thứ luật pháp vốn đã không tuân theo những nguyên tắc về công lý và công bằng từ trong văn bản.

    Phản hồi: 

    Trích :
    " Như vậy, rất có thể hiểu thành ông Tư trả thù người ta; vì người ta đăng tải bài đó nên ông đứng ra điều tra để trả thù, ông có động cơ trả thù.
    Việc đó, về mặt tố tụng, là không được phép. Người bị hại không được phép đứng ra điều tra.
    Khi không chứng minh được anh Vinh phạm tội mà vẫn giam giữ anh thì vi phạm nhân quyền đó còn lớn hơn là vi phạm quyền tự do ngôn luận. "

    Chẳng lẽ cơ quan điều tra CA là Ông trời con ?
    Theo nguyên tắc tư pháp ở các nước cơ quan điều tra cũng chỉ là một cơ quan tức là thể sai sót, phạm lỗi và phải được kiểm soát bởi các cơ quan khác như viện công tố và tòa án
    Cơ quan điều tra ở VN do các cơ quan nào khác kiểm soát ?
    Tại sao nghi can tạm giam không thể yêu cầu tạm thả và xét xử tại tòa án
    Tại sao VKS không có ý kiến với bên tòa án ?
    Do chưa có thi hành án, tai; sao thủ tướng hoặc chủ tịch nước không có ý kiến tích cực khi có đơn tố cáo cơ quan điều tra vi phạm nhân quyền và luật pháp ?

    Phản hồi: 

    Trích :
    " họ cũng chịu một áp lực là phải xử, phải đem Nguyễn Hữu Vinh ra tòa xét xử. "

    Ai làm áp lực lên chính quyền là phải xử ? Ý của cụm chữ "phải xử" có phải là tuyên án có tội và tù giam ?
    Nếu không thì cứ đưa ra tòa xét xử và kết luận Nolle prosequi (không cần truy tố).