Trọng Đạt - Từ Staline tới Putin (1)

  • Bởi Admin
    22/10/2015
    0 phản hồi

    Trọng Đạt

    Joseph Staline

    Nước Nga, một giải đất rộng mênh mông bát ngát chiếm 1/6 diện tích thế giới, một đất nước vĩ đại vô cùng lạnh lẽo, một dân tộc bất hạnh chịu nhiều tang thương đau khổ bị dầy vò xâu xé vì chiến tranh cách mạng, chịu nhiều thảm kịch núi xương sông máu qua những thập niên dài đằng đẵng.

    Mùa đông nước Nga lạnh nhất thế giới, thường là bốn, năm chục độ dưới số không. Họ có một nền văn chương giầu vào bậc nhất trên thế giới với nhiều nhà văn hào, thi hào vĩ đại như Léon Tolstoi, Dostoievsky, Pouchkine, Sholokhov… đã được cả thế giới nhất là Tây phương vô cùng ngưỡng mộ.

    Thời Nga hoàng, đất nước, xã hội không văn minh bằng Anh, Pháp, cuộc cách mạng tháng 2-1917 nhà lãnh đạo Kerensky lật đổ Nga Hoàng, từ tháng 3 tới tháng 5 ông làm Bộ trưởng tư pháp và chiến tranh, tháng 7 làm Thủ tướng một chính phủ tư sản. Tháng mười 1917 Kerensky bị Lénine cướp chính quyền lật đổ. Người ta thường hiểu lầm cuộc cách mạng vô sản hay cách mạng Bolshevik lật đổ Nga hoàng, thực ra chính quyền tư sản lật đổ chế độ phong kiến (tháng 2) sau đó nhóm Marxist mới cướp lại chính quyền từ tay tư sản (tháng 10).

    Mới đầu các lý thuyết gia Mác xít tưởng cách mạng vô sản sẽ nổ ra tại Đức, một nước công nghiệp, nơi phát sinh lý thuyết Marx Engels. Đúng lý thuyết một nước muốn tiến lên xã hội chủ nghĩa phải là một nước tư bản công nghiệp vì họ có sắn nhiều xưởng máy có khả năng sản xuất nhiều của cải vật chất tiến lên làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế cách mạng lại diễn ra tại Nga một nước nông nghiệp lạc hậu, sau đó nó cũng phát sinh tại Trung Hoa, Việt Nam … những nước lạc hậu nông vi bản. Những nước nghèo đói, xã hội thối nát là những miếng mồi ngon của Cách mạng, có người nói:

    “Con vi trùng Cộng Sản chỉ sinh sôi nẩy nở trong những đống rác xã hội hôi thối”

    Lý thuyết vô sản chỉ sống được trong những môi trường dơ bẩn thối tha, những nước Nga, Tầu, Việt Nam, Cuba… nghèo nàn đói rách, xã hội đầy bất công là môi trường thuận lợi nhất cho cách mạng. Những nước này tiến lên Xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn tư bản.

    Sau cách mạng 1917 nước Nga lâm vào một cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài từ 1917 cho tới 1922 giữa khoảng 4 triệu lính Hồng quân và 2 triệu rưỡi Bạch Vệ. Khi cuộc chiến kết thúc Hồng quân có một triệu hai và Bạch vệ một triệu rưỡi người tử trận.

    Joseph Stalin được cử làm Tổng bí thư Trung ương đảng từ 1922, ông củng cố địa vị mạnh sau khi Lénine chết năm 1924, xóa bỏ những lời kết tội của Lénine. Di chúc Lénine được soạn đầu năm 1923 trong đó có đề nghị truất Staline ra khỏi chức Tổng bí thư Trung ương đảng. Tháng 3-1923 Lénine bị liệt, cuối cùng bản di chúc không loại được Staline khi Lénine mất tháng 1 năm 1924, vợ Lénine muốn di chúc phải được đọc trước Đại hội đảng lần thứ 13, tháng 5 năm 1924. Năm 1926 Staline bị áp lực phải cho đọc bản di chúc trước kỳ họp của Trung ương đảng. Staline đã củng cố địa vị của ông ta những năm cuối thập niên 20, kết án những ai trích dẫn di chúc này coi như phản động.

    Sau khi Nikita Khrushchev hạ bệ Staline tại Đại hội đảng kỳ 20 năm 1956, chính phủ cho chính thức in lại di chúc. Từ 1926 bản di chúc đã được đăng đầy đủ trên báo New York Times, trong bộ Lénine tuyển tập, bản dịch tiếng Việt do Hà Nội ấn hành thập niên 70 có ghi lời Lénine:

    “Chúng ta không dùng đồng chí Staline nữa, đồng chí Staline là một người thô bạo”

    Sau năm 1924 Staline cho xóa bỏ những chỉ trích kết án của Lénine, Staline làm Tổng bí thư cho tới 1952 khi chức này bị bỏ vào năm 1952, ông ta đồng thời làm Thủ tướng từ 1941. Dưới thời Staline, lý thuyết chủ trương chỉ thực hiện xã hội chủ nghĩa trong nước thôi được chấp nhận từ 1924, trái ngược với Léon Trosky chủ trương tiến lên vô sản hóa toàn thế giới. Staline thay đổi chính sách kinh tế mới của Lénine bằng chính sách kinh tế chỉ huy tối đa, xúc tiến một giai đoạn công nghiệp hóa và hợp tác xã để biến nước Nga thành một cường quốc kỹ nghệ. Staline đã đưa nước Nga phong kiến lạc hậu lên hàng cường quốc kỹ nghệ nhưng phải trả giá quá đắt, ông đã làm đổ máu khoảng 10 triệu người.

    Thập niên 1930, một thập niên đẫm máu ghê tởm nhất của lịch sử nước Nga khi Staline tiến hành thực hiện Hợp tác xã nông nghiệp, làm ăn tập thể tiến lên làm ăn lớn xã hội chủ nghĩa. Staline cho lệnh tiêu diệt những thành phần ăn bám, chống đối, lừng khừng, phản động …Đây là giai đoạn đoạn bắn giết tập thể theo kế họach của Staline.

    Sau này Tổng thống Nga Gorbachov tố cáo Staline tắm trong máu, ông cho biết đã thấy danh sách tử hình dài do Staline ký hàng loạt, trong khoảng 1937-1941 có tới 11 triệu người bị giết.

    Churchill viếng Kremlin năm 1942, Staline thú thực với ông đã có 10 triệu người bị đổ máu trong giai thực hiện Hợp tác xã, ông nói không thể làm khác hơn được. Phim The Soviet Story nói trong khi ấy tại Đức Hitler theo dõi và khâm phục Staline, trong một khoảng thời gian không dài lắm đã giết được nhiều người như thế.

    Năm 1932-33 Staline đã gây nạn đói tại Ukraine khiến 7 triệu người chết. Từ 1934-1939 Staline mớ những cuộc thanh trừng vĩ đại, đẫm máu trong đảng, trong chính phủ, quân đội, ngành tình báo….nhiều triệu người bị coi là kẻ thù của nhân dân bị tù đầy bắn giết trong các trại tập trung từ 1936-1939. Ông ta mở chiến dịch chống kẻ thù trong các khuôn mặt lớn của Đảng CS như các Bolsheviks lão thành, Léon Trosky và phần lớn các Tướng lãnh Hồng quân. Họ bị xử tử với tội danh âm mưu lật đổ chính quyền, Trosky trốn sang Mễ Tây Cơ bị Staline cho ngưòi tới ám sát năm 1940.

    Năm 1939 Staline đàm phán với Anh Pháp để lập liên minh chống Đức Quốc Xã nhưng thất bại, ông ký hòa ước với Đức tháng 8-1939. tháng sau Staline cho chiếm đông Ba Lan trong khi Đức chiếm phía tây Ba Lan.

    Hitler trở mặt mở chiến dịch Barbarossa tấn công Sô Viết ngày 22-6-1941 với đạo quân khổng lồ 180 Sư đoàn bộ binh và cơ giới (70% lực lượng) nhưng Staline lại thờ ơ không tin mấy. Quân Nga mặc dù đông nhưng trang bị lỗi thời đã bị Đức đè bẹp ngay từ đầu. Khởi đầu chiến dịch cho tới những ngày gần chót khi quân Đức đã tiến sát Mạc Tư Khoa trong gần nửa năm, họ đã bắt được khoảng 3 triệu tù binh Nga.

    Đầu tháng 12-1941, quân Đức chỉ còn cách Mạc Tư Khoa 18 dặm Anh (30km), cả thành phố hốt hoảng tưởng như địch sắp vào tới nơi, Hitler đắc thắng tuyên bố “Cộng Sản Nga đang dẫy chết”. Thế giới nín thở, người ta cho rằng nước Nga đã thua trận, khoảng hơn 200 Sư đoàn chủ lực đã bị đánh tan rã. Nhờ tin tình báo của Tiến Sĩ Sorge cho biết quân Nhật ở Mãn Châu sẽ không tấn Nga như đã dự trù. Staline cho rút 40 sư đoàn tại đây về tăng cường cứu nguy Mạc Tư Khoa, chuyển bại thành thắng, đẩy lui được quân Đức ra xa hằng 100km. Trận Moscow kéo dài từ tháng 10-1941 cho tới tháng 1-1942

    Hitler cho tiến xuống chiếm Stalingrad phía nam, vì tiến quá xa thiếu tiếp tế, bị Nga bao vây từ tháng 8-1942 tới đầu tháng 2-1943 quân Đức đầu hàng, Staline thắng một trận lớn nhưng thiệt hại quá nặng, khoảng nửa triệu lính tử trận, nhiều hơn toàn bộ số binh sĩ tử trận của Mỹ trong suốt Thê chiến (400 ngàn). Những năm 1942, 1943 đất nước trở thành bãi chiến trường đẫm máu cho các trận đánh long trời lở đất giữa hàng trăm sư đoàn Nga-Đức.

    Những tháng đầu 1944, quân Đức phải rút về phía tây vì thiệt hại nặng, thiếu tiếp liệu, Staline đã đuổi được quân thù ra khỏi đất nước.

    Không ai ngoài Staline có thể lãnh đạo thắng lợi trận chiến mà họ gọi là Cuộc Chiến Tranh Vệ Quốc Vĩ Đại, Great Patriotic War nhưng với cái giá quá cao. Theo tài liệu do Liên Xô đưa ra là 20 triệu người trong đó một nửa là dân, một nửa là lính (sách báo Liên xô tại Saigon sau 1975) nhưng theo Tây phương tổng cộng có 27 triệu người Nga bị giết trong cuộc Thế chiến (phim Anh-Mỹ: World War II Behind Closed Doors). Ngoài ra (theo tài liệu Nga) có hơn 1,000 tỉnh, thị xã, quận huyện Nga bị phá hủy. Sự lãnh đạo sắt máu tàn bạo của Staline không kể gì tới sinh mạng người dân mà chỉ cần tiến tới mục tiêu chiến thắng.

    Thế chiến thứ hai gần kết thúc, Staline họp với Roosevelt, Churchill tại hội nghị Yalta, Mỹ nhường Đông Âu cho Nga để nhờ phụ Mỹ đánh quân Nhật tại Á châu vì địch còn mạnh. Staline truy kích Đức Quốc Xã đầu năm 1944 và chiếm luôn các nước Đông Âu như Lỗ Ma Ni, Bảo Gia Lợi, Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức... tại những nước này quân Nga lấy hết vàng bạc, quí kim, ngoại tệ trong các ngân hàng đem về.

    Staline chủ trương chỉ tiến lên xã hội trong một nước nhưng cuối Thế chiến nhân đánh đuổi quân Đức rồi chiếm các nước Đông Âu dựng lên nhiều chính quyền Cộng Sản. Nhân dịp này ông ta tiến lên vô sản hóa thế giới không bằng đấu tranh giai cấp mà bằng họng súng đẻ ra chính quyền. Cuộc Thế chiến là cơ hội nghìn vàng cho CS bành trướng rất nhanh mà chính họ cũng không ngờ.

    Ngày 6 và 9 tháng 8-1945 Mỹ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố lớn ở Nhật, ngay sau đó một triệu rưỡi quân Nga tấn công lộ quân Quân Đông Nhật tại Mãn Châu. Sự thực Sô Viết chỉ nhẩy vào ăn có sau khi Mỹ đã ném bom nguyên tử, khoảng một triệu quân Nhật đầu hàng. Người Nga lấy kho vũ khí to lớn của Nhật kể cả xe tăng thiết giáp giao cho Mao Trạch Đông, thật là giáo vào tay giặc. Nga cũng tháo gỡ hết các nhà máy tại đây đem về nước.

    Giữa năm 1946 cuộc nội chiến Trung Hoa giữa Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông nổ ra, Mỹ giúp Tưởng, Nga giúp Mao.. sau mấy năm chinh chiến, Mao thắng trận, Tưởng đại bại. Ngày 1-10-1949, Mao tuyên bố thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, thủ đô là Bắc Bình, nay đổi là Bắc Kinh. Cuối năm 1949 Tưởng và khoảng 2 triệu Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới đảo Đài Loan.

    Thế là Staline lập được một đế quốc CS mênh mông từ Âu sang Á y như đế quốc Mông cổ của Thành Cát Tư Hãn bẩy thế kỷ trước, nước Tầu rơi vào tay CS làm lệch cán cân giữa Thế giới tự do và Xã hội chủ nghĩa Sô viết. Mặc dù đã bị Đức Quốc Xã đập cho một trận nên thân, Nga không lo tái thiết mà vẫn không ngừng bành trướng.

    Cuối tháng 8-1949, Nga thí nghiệm thành công bom nguyên tử lần đầu nhờ đánh cắp tài liệu Mỹ. Giữa năm 1950 Staline giúp Bắc Hàn tấn công chiếm Nam Hàn, Mỹ vào can thiệp, sau mấy năm chiến tranh tàn khốc, hai bên ký đình chiến tháng 7-1953

    Staline mất ngày 5-3-1953 sau gần 30 năm cầm quyền.

    Nikita Khrushchev

    Ông là người kế vị Staline, giữ chức Bí thư thứ nhất đảng CS Nga từ 1953 tới 1964, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng hay Thủ tướng từ 1958 tới 1964. Khrushchev là người hạ bệ Staline và yểm trợ chương trình không gian Nga và có một số cải cách trong nội trị, chú trọng nâng cao đời sống nhân dân. Năm 1964 ông bị Bộ chính trị đảng lật đổ và đưa Leonid Brezhnev lên thay, xuất thân công nhân kim loại thời trẻ tuổi, thời nội chiến ông là Ủy viên chính trị, ủng hộ cuộc thanh trừng của Staline. Năm 1939 Khrushchev được Staline gửi tới Ukraine tiếp tục thanh trừng tại đó, ông làm chính ủy thời Thế chiến, sau 1945 ông về Ukraine và được Staline gọi về làm cố vấn.

    Sau 1953 ông ta dành được quyền. Khi đã diệt hết tay chân của Staline, năm 1956 trong kỳ Đại hội đảng lần thứ 20 ông ta tố cáo cuộc thanh trừng, tố cáo tội ác của Staline và bắt đầu một chính sách cai trị ít đàn áp hơn. Khruschev cải thiện cuộc sống ngưòi dân nhưng ít kết quả nhất là nông nghiệp. Từ 23-10-1956 cho tới 10-11-1956 cuộc nổi dậy của người Hung Gia Lợi tại Budapest đòi tự do bị Khrushchev cho xe tăng đàn áp dã man có khoảng 2,500 người Hung bị thiệt mạng, quân Nga có 700 người chết

    Ông hy vọng nhiều ở hỏa tiễn và giảm bớt lực lượng thuộc chiến tranh qui ước, tuy cắt giảm nhưng ông cũng gặp nhiều căng thẳng trong chiến tranh lạnh nhất là vụ khủng hoảng hỏa tiễn tại Cuba trong 13 ngày căng thẳng tháng 10-1962 Mỹ-Nga về hỏa tiễn Sô viết đặt tại Cuba đã được đưa lên truyền hình trên toàn thế giới và đã suýt đưa tới chiến tranh nguyên tử toàn diện.

    Để trả đũa vụ Mỹ xâm lược Vịnh Con Heo năm 1961 và Mỹ đặt hỏa tiễn tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ý mà Moscow nằm trong tầm, Khrushchev theo yêu cầu của Cuba đặt hỏa tiễn mang đầu đầu đạn hạt nhân tại đây để ngăn ngừa Mỹ xâm phạm như vụ Vịnh Con Heo sau khi ông ta họp mật với Fidel Castro tháng 7.

    Tháng 10-1963 Mỹ đang có tranh cử Tổng thống, máy bay do thám U-2 khám phá ra hỏa tiễn tầm trung nguyên tử tại Cuba, TT Kennedy làm dữ cho ngăn chận tầu Nga mang hỏa tiễn tới và buộc phải tháo gỡ hỏa tiễn đã gắn tại Cuba mang về Nga. Sau cuộc thương thuyết căng thẳng đạt tới thỏa thuận giữa Kennedy và Khrushchev, Nga tháo gỡ hỏa tiễn tại Cuba mang về có Liên Hiệp Quốc giám sát, ngược lại Mỹ sẽ phải thỏa thuận không được xâm lược Cuba mà không tuyến chiến. Mỹ cũng bí mật tháo gỡ hỏa tiễn tại Ý, Thổ Nhĩ Kỳ đem về nhưng không tuyên bố cho dân biết.

    Sau đó Mỹ-Nga thỏa thuận thiết lập đường giây điện thoại nóng giữa Moscow và Washington để ngăn ngừa Thề chiến mà cả hai bên cùng sợ, tình hình đã dịu sau đó.

    Năm 1949 Nga thỏa thuận sẽ giúp Trung Cộng chế tạo bom nguyên tử, sau 1956 khi Khrushchev hạ bệ Staline khiến Nga-Hoa lạnh nhạt rồi căng thẳng, Mao tức giận vì Khrushchev không hỏi ý kiến Mao trước, ông này âm mưu phá Khrushchev đang muốn hòa hoãn với Mỹ. Nga cho rút các chuyên viên nguyên tử về nước 1959. Năm 1960 hai bên công khai chỉ trích, xỉ vả nhau ngày càng dữ dội, Trung Cộng chỉ trích Nga là xét lại sự va chạm hai bên gia tăng.

    Ngày 16-10-1964 Trung Cộng thành công cho nổ trái bom nguyên tử đầu tiên nhờ đánh cắp tài liệu Mỹ, cùng năm đó Khrushchev bị Leonid Brezhnev và Trung ương đảng lật đổ tháng 10 khi ông vắng mặt, người ta cũng cho là Mao lật đổ Khrushchev và cho nổ bom nguyên tử.

    Leonid Brezhnev

    Ông giữ chức Tổng bí thư Trung ương đảng Sô Viết từ tháng 10-1964 cho tới khi chết tháng 11-1982, tổng cộng 18 năm, làm Tổng bí thư lâu nhất sau Staline, ông giữ chức Chủ tịch Liên Bang Sô viết từ tháng 6-1977 tới tháng 11-1982. Dưới thời Brezhnev ảnh hưởng Nga trên thế giới sút giảm mạnh phần vì phát triển quân sự đánh dấu thời kỳ sự trì trệ xã hội, kinh tế của Liên bang Sô viết.

    Tốt nghiệp kỹ sư ngành luyện kim tại Ukraine, ông tham gia Thanh niên xung phong năm 1923, sau đó vào quân đội tham gia Thế chiến Thứ hai. Năm 1946 giải ngũ khi mang cấp bậc Trung tướng, năm 1952 ông trở thành Ủy viên Trung ương đảng, năm 1964 kế vị Khrushchev trong chức Bí thư thứ nhất trong khi Kosygin kế vị chức Thủ tướng

    Ông thường hỏi ý kiến các cộng sự trước khi hành động nhưng lế lối cầm quyền thiếu cải cách kinh tế khiến đưa tới suy thoái giữa thập niên 1970, thời kỳ bị đình trễ. Chi phí quốc phòng lên cao vì chạy đua vũ trang khoảng 12.5% tổng sản lượng, các nhà lãnh đạo Nga giai đoạn này nói chung già nua thiếu khả năng khiến Tổng sản lượng kinh tế sút giảm so với Tây phương. Theo lượng giá CIA, từ 1960-1965 tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Nga là 4.8, từ 1970-1975 tụt hậu còn 3.00, từ 1980-85 tụt xuống còn 1.8. Kinh tế gia Samuelson nói trong cuốn Economics trang 830 (in 1970)

    “Thập niên 1970 cũng như thập niên 1960 Tổng sản lượng kinh tế của Nga vào khoảng một nửa Tổng sản lượng Mỹ”

    (In the 1970s, as in the 1960s, U.S.S.R real GNP is about one-half United States real GNP)

    Brezhnev thúc đẩy hòa hoãn với Tây phương theo lời kể của Henry Kissinger trong White House Years (chương 8, The Agony of Vietnam tr. 276-311) , năm 1969 Nga muốn đàm phán với Mỹ về tài giảm binh bị. Cuối tháng 5-1972 TT Nixon sang Moscow ký với Brezhnev hiệp ước tài giảm binh bị vũ khí hạt nhân.

    Tuy thế năm 1968 ông ra Thuyết Brezhnev cương quyết trấn áp một nước trong khối xã hội chủ nghĩa một khi có ý muốn chuyển qua tư bản, nó không chỉ liên quan tới nước đó nhưng liên hệ tới cả khối CS. Cuối năm 1979 Nga đưa quân qua Afghanistan để giúp chính phủ thân Nga chống lại cuộc nổi dậy, cuộc chiến sa lầy 9 năm cho tới đầu năm 1989 đã khiến 14,453 lính Nga bị giết. Trong No More Vienams trang 214 (in 1985) Cựu Tổng thống Nixon khâm phục Nga nói trừ Afghanistan họ đưa quân đàn áp phong trào chống chính phủ bù nhìn Nga, Moscow đã thống trị được 9 nước kể từ 1974 mà không phải gửi quân vào. Thật vậy Sô viết chỉ đứng ngoài dựt giây đã chiếm được nhiều nước.

    Thuyết Brezhnev được tuyên bố để biện minh cho việc Nga đưa quân sang Tiệp Khắc tháng 8-1968 đàn áp cuộc nổi dậy tại Prague cũng như sự đàn áp tại Hung gia Lợi từ năm 1956

    Khrushchev bị lật đổ phần lớn vì ông không quan tâm tới các Ủy viên cao cấp trong đảng và chính phủ, thời Brezhnev nước Nga do một tập thể cai trị từ thập niên 60 cho tới 70

    Quan hệ với Trung Cộng ngày càng xuống, hai bên đã chạm súng nhau tại biên giới tháng 3-1969, Nga có 59 người Thiệt mạng, Trung Cộng từ 200 tới 800 người, cả hai bên đều dấu kín chuyện này.

    Khrushchev mới đầu trợ giúp Bắc Việt trong tình đồng chí nhưng khi chiến cuộc leo thang ông kêu gọi các lãnh đạo BV từ bỏ con đường giải phóng miền Nam. Ông từ chối giúp BV và bảo họ thương thuyết với Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc. Sau khi Khrushchev bị lật đổ, Brezhnev tiếp tục giúp CSVN dấn thân vào cuộc chiến đẫm máu, nhất là thập niên 70, Nga viện trợ quân sự cho BV rất nhiều để chiếm cho được miền nam VN và toàn cõi Đông dương.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi