Báo cáo của FT Confidential Research: Lĩnh vực ngân hàng đáng lo ngại ở Việt Nam: Không dễ giải quyết

  • Bởi Khách
    02/09/2015
    0 phản hồi

    Nguyễn Công Huân chuyển ngữ

    Ngành ngân hàng của Việt Nam đang gánh những khoản nợ xấu nặng nề, cản trở sự tăng trưởng. Chính phủ tuyên bố họ đang thực hiện những giải pháp cấp bách để giải quyết vấn đề, nhưng chúng tôi lo ngại rằng các vấn đề cơ cấu dài hạn vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng.

    Tóm lược

    - Chúng tôi cho rằng đánh giá cổ phiếu ngân hàng Việt đang ở mức outperformance – dựa trên tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ và những lạc quan về cải cách – sẽ tỏ ra là ngắn ngủi vì bộ máy chính trị tỏ ra miễn cưỡng trong việc giải quyết rốt ráo vấn đề nợ xấu.

    - Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng thực tế cao hơn nhiều so với con số chính thức, đứng vào khoảng 15% trong năm 2014 theo các cơ quan đánh giá. Giảm về tỷ lệ chính thức – xuống 3,15% trong tháng 5/2015, từ 4,2% trong tháng 12/2014 – trên thực tế phản ánh hiện tượng các ngân hàng chỉ đơn giản là xóa bỏ các khoản nợ xấu ra khỏi bảng cân đối của mình.

    - Hệ thống ngân hàng Việt đã bị cùm bởi các khoản nợ xấu từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng việc giải quyết vấn đề này trở nên phức tạp bởi sự phản đối trong hệ thống chính trị, cũng như quyền sở hữu không rõ ràng. Những lời ồn ào về việc cho phép các ngân hàng làm ăn thua lỗ phá sản đến nay chỉ là những lời đe dọa suông, khi mà người ta ưu tiên sự ổn định hơn là cải cách thực sự.

    * * *

    Tìm cách để nâng cao hiệu quả vốn, ngân hàng trung ương Việt Nam – Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam – đang tìm kiếm cách để giảm tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng trong nước xuống dưới 3% vào cuối tháng 9, và khuyến khích một làn sóng hợp nhất với mục đích giảm số lượng ngân hàng trong nước từ con số 40 (bao gồm cả 8 ngân hàng quốc doanh, 30 ngân hàng tư nhân và hai cơ quan cho vay chính sách nhà nước) xuống 15 vào năm 2017.

    Chúng tôi cho rằng kế hoạch này là khá tham vọng. Giảm số lượng ngân hàng trong nước xuống gần hai phần ba là một thách thức lớn, và chính quyền đối mặt với một trận chiến khó khăn để thực hiện thay đổi sâu rộng như vậy trong vòng có 2 năm. Trong khi ý tưởng giảm nợ xấu là đáng khen ngợi, mục tiêu chính thức phần lớn là rỗng tuếch; theo các cơ quan đánh giá quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam nằm ở ngưỡng 15% vào năm 2014.

    Thực sự thay đổi hệ thống ngân hàng Việt Nam là một thách thức lớn vì hệ thống sở hữu ngân hàng ở Việt Nam không minh bạch. Theo lý thuyết thì tư nhân không thể sở hữu hơn 20% của bất kỳ ngân hàng nào, nhưng thường thì quy định này bị nhiều người bỏ qua, bao gồm cả những đảng viên Đảng CSVN, những lợi ích của họ trong hệ thống ngân hàng tỏ ra là rào cản đáng kể cho việc cải cách.

    Hệ thống ngân hàng vẫn nuôi nhà nước

    Hệ thống ngân hàng Việt Nam trước đây chỉ gồm có một ngân hàng: Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam. Vào cuối những năm 1980, lãnh đạo Việt Nam đã theo bước của Trung Quốc và thiết lập 4 ngân hàng quốc doanh để phục vụ cho các lĩnh vực khác nhau: nông nghiệp, thương mại, công nghiệp và cơ sở hạ tầng.

    Đến cuối năm 2014, sau quá trình tự do hóa đáng kể, 42 ngân hàng trong nước của Việt Nam sở hữu trên 325 ngàn tỷ đồng (14,9 tỷ đô-la) vốn đăng ký, tăng từ 90 ngàn tỷ đồng bảy năm về trước (xem bảng 1). Thực vậy, từ đầu năm 2000 trở đi, tăng trưởng tín dụng trung bình hơn 25% mỗi năm. Phần lớn các khoản vay đi trực tiếp tới các doanh nghiệp nhà nước, mà hiện nay chiếm khoảng 60-70% dư nợ tín dụng.

    20150828_asean-finance_the-scale-of-vietnam-s-banking-industry_standard_590.png
    Những con số về hệ thống ngân hàng Việt Nam.

    Theo một niềm tin phổ biến – nhưng nguy hiểm – rằng Việt Nam có thể lặp lại tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, nếu nó bắt chước mô hình đầu tư, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nhà nước vay mượn thật nhiều để đầu tư vào mọi hình thức kinh doanh. Nhưng họ đã nhanh chóng quá sức, dẫn đến việc thị trường chứng khoán và bất động sản đổ vỡ năm 2007, và tình hình càng xấu hơn nữa với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Những thị trường này vẫn chưa phục hồi hoàn toàn, và sự sụp giảm mạnh trong tăng trưởng tín dụng đã diễn ra trong vòng 5 năm qua (xem đồ thị 2).

    20150828_asean-finance_outstanding-credit-of-financial-institutions-in-domestic-market_standard_590.png
    Mức dư nợ tín dụng của các thể chế tài chính trong nền kinh tế quốc gia.

    Khó xử lý nợ xấu với hệ thống không minh bạch

    Bên cạnh việc ức chế tăng trưởng tín dụng, những đổ vỡ trên hai thị trường nói trên không tránh khỏi dẫn tới sự gia tăng nợ xấu. Số lượng nợ xấu đáng kể vẫn đang bị nhốt trong thị trường bất động sản, cũng như các lĩnh vực kinh doanh không cốt lõi khác của nhiều doanh nghiệp nhà nước lớn, nhưng với phạm vi kinh doanh rộng – từ khai khoáng cho đến vận chuyển đến khách sạn – và thiếu vắng sự minh bạch, rất khó để đánh giá mức độ tổng thể của nợ xấu một cách chính xác.

    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ lệ nợ xấu là khoảng 3,15% vào tháng 5/2015, nhưng các cơ quan chức trách Việt Nam được nhiều người biết đến với khả năng chỉnh sửa số liệu chính thức, do đó chúng tôi ngả về phía con số nợ xấu cao hơn rất nhiều của các cơ quan đánh giá quốc tế (xem biểu đồ 3).

    20150828_asean-finance_bad-debt-levels-in-banking-system-may-be-much-higher-than-official-figures-suggest_standard_590.png
    Mức nợ xấu thực tế có thể cao hơn nhiều so với con số chính thức.

    Số lượng hồ sơ tham nhũng và gian lận bị bắt giữ ở cấp cao trong những năm gần đây chứng thực cho thiếu vắng sự minh bạch.

    Vào tháng 7/2015, cựu chủ tịch tập đoàn dầu mỏ nhà nước PetroVietnam, ông Nguyễn Xuân Sơn bị bắt vì quản lý yếu kém dẫn đến thất thoát 800 tỷ đồng ở ngân hàng Đại Dương, sở hữu một phần bởi PetroVietnam. Điều này theo sau những vụ bắt bớ cấp cao trong số các đại gia ngân hàng như Nguyễn Đức Kiên (người đồng sáng lập ngân hàng ACB, nắm giữ cổ phần của vài ngân hàng lớn khác, và hiện vẫn đang nằm trong tù cùng với một số giám đốc cao cấp khác của ACB).

    Chúng tôi tin rằng những vụ bắt giữ này chỉ là phần nổi của tảng băng, khi mà tham nhũng và quan hệ giữa các lãnh đạo cao cấp của ngân hàng và lãnh đạo cao cấp của đảng là rất sâu rộng.

    Loại bỏ nợ xấu khỏi sổ sách

    Trong một nỗ lực giảm dần nợ xấu trong hệ thống tài chính, tháng 5/2013 Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã thành lập Công ty Quản Lý Quỹ Đầu Tư Việt Nam (VAMC), được ủy nhiệm để cơ cấu lại hoặc bán lại các khoản nợ.

    VAMC mua nợ xấu theo giá trị sổ sách bằng cách phát hành trái phiếu không lãi xuất, điều này đòi hỏi một số lượng hạn chế vốn của nó. Năm ngoái, nó đã mua tổng nợ xấu trị giá 5,8 tỷ đô la, và năm nay dự định mua tiếp 3,5 tỷ đô la nữa. Tuy nhiên trong 5 tháng đầu tiên của năm 2015, nó chỉ bán được có 600 triệu đô la nợ xấu, tương ứng với 17% mục tiêu.

    Một thách thức lớn đối với VAMC là bán lại nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng ở Việt Nam là một tiến trình tế nhị. Chuyển đổi tài sản của nhà nước thấp hơn giá trị sổ sách – dù có cao hơn trị giá thực – có thể được coi là lừa đảo nhà nước và chịu rủi ro tố tụng hình sự. Điều này chắc chắn làm chậm tiến độ.

    Thêm vào đó, nó không có năng lực nội tại để tái cấu trúc hơn 10 tỷ đô la nợ xấu, và sự sẵn sàng cũng như khả năng của chính phủ trong việc cung cấp quỹ nhà nước cho tái cấp vốn vẫn rất hạn chế. Trên thực tế, đa số các trường hợ VAMC chỉ đơn giản là đón nhận nợ xấu, mà không tái cấp vốn cũng như xóa nó khỏi sổ sách, mà cứ khoản nợ này nằm trong bản cân đối của mình.

    Tiếp quản các ngân hàng gặp khó khăn

    Chính sách này có dụng ý tốt, nhưng thiếu biện pháp để cải thiện hiệu suất của ngân hàng. Vào đầu năm nay chính phủ cho quyền Ngân hàng Nhà Nước tiếp nhận các ngân hàng đang gặp khó khăn và buộc họ phải phá sản. Trên thực tế, ngân hàng trung ương không làm như thế để tránh ảnh hưởng đến toàn bộ lĩnh vực ngân hàng, và nó lo ngại sự bất ổn định diễn ra trước Đại hội Đảng quan trọng vào năm tới. Thay vào đó, theo như một tài liệu nội bộ của ngân hàng Nhà nước mà FT Confidential Research có được, nó sẽ cứu các ngân hàng lỗ vốn bằng mọi giá.

    Điều này không có nghĩa là Ngân hàng Nhà Nước không hoạt động. Vào tháng 2/2015 nó đã chiếm quyền điều hành của Ngân hàng Xây Dựng Việt Nam (đang thua lỗ), và bổ nhiệm ngân hàng quốc doanh Vietcombank - ngân hàng lớn nhất Việt Nam tính theo vốn thị trường – để quản lý ngân hàng gặp khó khăn này. Nó cũng chiến quyền điều hành ngân hàng Đại Dương và trao cho ngân hàng nhà nước Vietinbank quản lý.

    Hơn nữa, trong tháng 7/2015 Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam mua lại Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu vì nó không thể tăng vốn điều lệ tối thiểu theo luật định – 3 ngàn tỷ đồng (hay 45 triệu đô la). Mức vốn điều lệ tối thiểu được tăng lên từ con số 1 ngàn tỷ đồng tháng 1/2011 để cải thiện tỷ lệ an toàn vốn trong ngành.

    Ngân hàng đẩy thị trường chứng khoán tăng điểm

    Tuy nhiên, bất chấp những vấn đề diễn ra với nợ xấu, tham nhũng và không hiệu quả, cổ phiếu ngân hàng Việt vẫn được định giá ở mức outperform, tăng chung 40% trong năm tới 25/8/2015 bất chấp sự suy giảm gần đây, tạo bởi mức thu nhập tăng mạnh mẽ (xem biểu đồ 4). Chỉ số chứng khoán chính của Việt Nam đã giảm 2,7% so với cùng kỳ, hiệu suất tương đối vững chắc, bất chấp những suy giảm ở các thị trường chứng khoán khác, được hỗ trợ bởi việc dỡ bỏ trần về quyền sở hữu nước ngoài trong một số lĩnh vực và một số dấu hiệu cải thiện của thị trường bất động sản (báo cáo ASEAN Dec 11 2013, Real Estate).

    20150828_asean-finance_vietnam-banks-share-prices-have-soared-amid-regional-weakness_standard_590.png
    Giá cổ phiếu ngân hàng Việt Nam cất cánh trong khi cả khu vực suy giảm.

    Chúng tôi không trông đợi chứng khoán ngân hàng Việt Nam sẽ giữ được định giá outperform lâu. Trong khi các áp lực lớn hơn đang đè nặng lên các ngân hàng để đáp ứng tỷ lệ nợ xấu trên lý thuyết 3% của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tới tháng 9, các ngân hàng Việt đều có những vấn đề mang tính cơ cấu sâu rộng, và các vấn đề này đang tiếp tục làm hỏng hiệu quả vốn và kéo theo hệ thống tài chính và nền kinh tế.

    Muốn giải quyết những vấn đề này đúng đắn, người ta phải chấp nhận các ngân hàng không chịu nổi các khoản nợ xấu phá sản. Nhưng chính quyền sẽ không để việc này xảy ra, khi các phe phái mạnh hiện đang chạy đua cho vị trí lãnh đạo không muốn một nền kinh tế và xã hội bất ổn vào thời điểm này. Quá nhiều lợi ích từ lĩnh vực ngân hàng khiến các bên liên quan có quá nhiều thứ để mất, và do đó họ cản trở những nỗ lực tìm cách giải quyết cấu trúc sở hữu ngân hàng thiếu minh bạch của Việt nam – điều mà chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn trong báo cáo kế tiếp. Vấn đề nợ xấu là biểu hiện của một tình trạng bất ổn thể chế sâu hơn, nhưng những cải cách nghiêm túc dường như khó xảy ra, bất kể ai được lựa chọn làm lãnh đạo trong năm tới.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi