GS Nguyễn Văn Bông - Đối lập chính trị

  • Bởi Admin
    26/08/2015
    6 phản hồi

    GS Nguyễn Văn Bông

    Đây là một bài tham luận sâu sắc về quan niệm “Đối Lập” viết bởi cố Giáo Sư Nguyễn Văn Bông trong bối cảnh chính trị của nền Đệ Nhị Cộng Hòa. Tạp Chí Cách Mạng xin đăng lại cho những độc giả muốn dùng làm tài liệu tham khảo.


    Giáo sư Nguyễn Văn Bông bị Vũ Quang Hùng đặt bom giết chết tháng 11 năm 1971.

    I – Định Nghĩa Và Các Quan Niệm Về Đối Lập

    Nói đến Dân Chủ là chúng ta nghĩ ngay đến vấn đề đối lập, mà đối lập là gì? Và được quan niệm như thế nào?

    A – Định Nghĩa

    Chúng ta đã dùng nhiều danh từ đối lập. Mà đối lập là gì? Thế nào là đối lập? Đứng về phương diện lịch sử mà suy xét, đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch trình biến chuyển của chế độ Đại Nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viện của vấn đề. Ý niệm đối lập cần phải được phân tích rõ ràng hơn nữa để phân biệt nó với những hiện tượng tương tự. Đối lập có ba đặc điểm: Một sự bất đồng về chánh trị, có tánh cách tập thể và có tính cách hợp pháp.

    1. Trước nhất, đối lập phải là một sự bất đồng về chánh trị. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào những kẻ chống đối có thể tổng hợp lại tất cả những vấn đề được đặt ra, đưa những vấn đề ấy lên một mực độ đại cương và phán đoán theo một tiêu chuẩn chính trị. Có thể có một số đông người dân chận đường chận xá để phản đối một chính sách của chính phủ, có thể có một số đông sinh viên, một đoàn thể văn hóa hay tôn giáo biểu tình đòi hỏi những cái gì. Đành rằng những sự kiện ấy có thể có hậu quả chính trị, nhưng đó không phải là đối lập. Đó chỉ là một sự khước từ, kháng cự hay phản đối. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào sự khước từ ấy, sự kháng cự ấy, sự phản đối ấy được chính trị hóa.

    2. Là một sự bất đồng về chính kiến. Đối lập phải có tính cách tập thể. Trong bất cứ lúc nào, luôn luôn có những người bất đồng chính kiến với chính quyền. Có thể có một thiểu số đông anh em, thỉnh thoảng họp nhau, rồi trong lúc trà dư tửu hậu, bàn quốc sự, có một thái độ chống đối đường lối, chủ trương của chính phủ. Đó là những kẻ chống đối, những cá nhân đối lập. Và những kẻ chống đối ấy có thể có trong chính thể Độc Tài, Cộng Sản. Đó không phải là đối lập.

    Đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến ấy có tính cách tập thể, khi nào nó là kết quả biểu hiện một sự hành động có tổ chức của những kẻ chống đối. Nói đến sự hành động có tổ chức là nghĩ ngay đến chính đảng. Chỉ có đối lập khi nào có một chính đảng đối lập.

    3. Là một sự bất đồng về chính kiến có tính cách tập thể, đối lập phải hợp pháp nữa. Có thể vì một lý do gì mà một đoàn thể phải dùng võ lực chống lại chính quyền. Có thể vì một lý do gì mà một chính đảng phải hoạt động âm thầm trong bóng tối. Những hành động ấy, đành rằng nó có tính cách tập thể và kết quả của một sự bất đồng chính kiến, không được xem là đối lập. Những hành động ấy chỉ được xem là những cuộc âm mưu phiến loạn hay kháng chiến, nó không còn là đối lập nữa. Vì đối lập chỉ hoạt động trong vòng pháp luật.B – Các Quan Niệm Về Đối Lập

    Một khi đã ý thức được danh từ “đối lập” và nhận định tầm quan trọng của nó trong cuộc sinh hoạt chính trị, vấn đề then chốt được đặt ra là xác định vị trí của đối lập trong các chính thể. Nếu tinh túy của dân chủ là lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, thì lẽ tất nhiên lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị ấy được thể hiện trên bình diện chính trị, qua những quyền của đối lập và sự hiện diện của đối lập chỉ là kết quả của sự thừa nhận tự do chính trị. Đối lập chỉ có giá trị và hiệu quả trong một chế độ mà triết học chính trị là Dân Chủ Tự Do. Vì đối lập dựa trên tinh thần khoan dung, trên sự chính đáng của bất đồng chính kiến. Vì thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chính trị.

    Một quan niệm đối lập như thế, dựa trên Chủ Nghĩa Tự Do, Chính Thể Độc Tài không thể chấp nhận được. Trong chính thể này, chính quyền là tất cả, còn đối lập chẳng những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì những nhà độc tài luôn cho rằng ý thức hệ của mình là bất di bất dịch và vai trò của cơ quan công quyền không phải tìm lấy một ý chí đi sát với nguyện vọng của quốc gia mà trái lại chỉ có nhiệm vụ áp dụng mệnh lệnh của chính đảng nắm quyền lãnh đạo. Chẳng những vô ích, đối lập còn nguy hiểm nữa. Nguy hiểm cho sự thực hiện nguyện vọng của quần chúng, vì hành động của đối lập phân ly quần chúng. Bởi thế, đối lập cần phải được thanh trừng và những cái mà người ta gọi là Dân Chủ, quyền tự do công cộng, những lợi khí mà đối lập dùng để hoạt động, lợi khí ấy cần phải được cấm nhặt.

    Bị khước từ bởi những chính thể Độc Tài, đối lập chỉ được thừa nhận trong chính thể Dân Chủ, chẳng những trên bình diện triết lý chính trị, đối lập còn được chứng minh qua khía cạnh cuộc điều hành thực tiễn của định chế. Chính sự hiện diện của đối lập phản ảnh tính cách chân chính của ý chí quốc gia. Trong những chế độ mệnh danh là “nhất tề – nhất trí”, trong những chế độ mà người ta chỉ nghe 99 phần trăm, đành rằng không phải không thể có được, nhưng sự vắng mặt của đối lập làm cho người ta lắm lúc phải hoài nghi. Chỉ trên bình diện thực tại, vai trò của đối lập chứng tỏ rằng, mặc dù bị loại ngoài hệ thống chính quyền, đối lập cần có mặt và phát biểu.

    Một quan niệm quá ư rộng rãi về Dân Chủ, lẽ tất nhiên – dựa trên một sự đối lập chân thành, xây dựng. Nhưng ý niệm đối lập ngày nay quá biến chuyển. Một hiện tượng mới đã xảy ra, một đối lập, không phải trong chính thể, mà chống chính thể Dân Chủ, một sự đối lập hoàn toàn phủ nhận nguyên tắc Dân Chủ, một sự đối lập về ý thức hệ. Tất cả vấn đề là thử hỏi, trước một sự đối lập như thế, thái độ của chính thể Dân Chủ phải như thế nào. Một vấn đề hết sức phức tạp, tế nhị và trên bình diện quốc tế, những giải pháp bảo vệ chính thể Dân chủ tùy thuộc hoàn cảnh thực tại chính trị của mỗi nước.

    Dù sao, để trở lại vấn đề đối lập trong chính thể Dân Chủ, không ai có thể chối cãi tính cách chính đáng của sự hiện diện của đối lập. Nhưng đối lập, chẳng những phải có mặt mà còn phải có thể phát biểu nữa. Mà đối lập phát biểu để làm gì và hành động của đối lập sẽ có tác dụng gì trong guồng máy chính trị quốc gia? Và theo thủ tục nào, dưới hình thức nào, với những bảo đảm nào, đối lập có thể mạnh dạn và thành thực phát biểu ý kiến?

    Đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng, vấn đề vai trò của đối lập và vấn đề qui chế của đối lập, hai vấn đề căn bản mà chính thể Dân chủ cần phải giải quyết một cách phân minh để ổn định cuộc sinh hoạt chính trị và để đối lập làm tròn sứ mạng của nó.

    II- Vai Trò Của Đối Lập

    Trong chính thể Dân Chủ thật sự, hiện diện của đối lập là một điều hết sức chính đáng. Chính đáng vì thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tự do chính trị. Chẳng những chính đáng, đối lập lại còn cần thiết nữa. Cần thiết cho phẩm tính, đối lập còn cần thiết cho sự hiện hữu của chính quyền nữa. Trong cuộc sinh hoạt chính trị ổn định, đa số ở đâu ra, chính quyền hiện tại ở đâu ra, nếu không phải là sự kết tinh của sự tranh chấp với đối lập? Trên khía cạnh này, đối lập đóng vai trò căn bản, vai trò hợp tác với chính quyền, đó là hai khía cạnh của vai trò đối lập.

    A – Vai Trò, Hạn Chế Và Kiểm Soát Chính Quyền

    1- Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Đó là một trong những hoạt động cốt yếu của đối lập ở bất cứ lúc nào trong cuộc sinh hoạt chính trị. Trước hết, ở giai đoạn tuyển cử đối lập có mặt, có thể phát biểu ý kiến, đối lập có quyền phủ nhận làm cho chính quyền bỏ bớt thái độ cứng rắn, những chương trình mỵ dân, những hứa hẹn hão huyền. Đối lập chận đứng lại những tư tưởng hẹp hòi, những quan điểm thiển cận, tư tưởng và quan điểm không phải của một chính phủ quốc gia mà hoàn toàn lệ thuộc vào mệnh lệnh của đảng phái.

    2- Đối lập bảo đảm tính cách đích xác công khai của những quyết định của nhà nước. Thật vậy, khi mà chúng ta nói đến ý chí của toàn dân, ý chí của quốc gia, cần phải nhận định rằng đó chỉ là ý chí của đa số. Ý chí của đa số là ý chí của quốc gia, cái phương trình ấy chỉ có giá trị khi nào quyết định của đa số được chấp thuận trong một bầu không khí cởi mở, sáng tỏ và tự do. Chính đối lập bảo đảm tính cách đích xác của quyết định của đa số và bắt buộc đa số nắm chính quyền phải tham dự một cuộc tranh luận công khai. Vẫn biết rằng, trong chế độ Tổng Thống hay trong chế độ Đại Nghị mà chính phủ có đa số ở Quốc Hội, đối lập không thể ngăn cản chính quyền hành động theo ý của họ. Nhưng, tự do chỉ trích, đối lập bắt buộc địch thủ phải tiết lộ dự định của họ, những lý do của một quyết định của họ. Và như thế, đối lập bảo đảm rằng, khi một biện pháp hay chính sách được chấp thuận, những lý lẽ chống đối hay bênh vực biện pháp, chính sách ấy, đều được công khai đưa ra dư luận. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền, đối lập đảm đương một cách thiết thực hơn nữa trên diễn đàn Quốc Hội.

    3 – Với phương tiện nào đối lập đóng vai trò của nó trên bình diện nghị viện? Đành rằng cơ cấu chính phủ nước này không giống nước kia, nhưng trong bất cứ chính thể Dân Chủ nào, người ta cũng tìm thấy từng ấy phương tiện cho phép đối lập phát biểu công khai ý kiến của họ. Trong những lúc bàn cãi và biểu quyết ngân sách quốc gia, sự hiện hữu của đối lập bắt buộc chính quyền bỏ hẳn chương trình mỵ dân, thái độ cứng rắn, và nhứt là chính quyền hết sức dè dặt khi bắt buộc toàn dân phải hy sinh quá độ. Cuộc đối thoại giữa chính phủ và quốc hội – chung qui giữa chính quyền và đối lập – qua những cuộc tranh luận, những câu hỏi, những cuộc tiếp xúc với ủy ban hay giữa phiên họp công khai là những dịp mà các vị Dân Biểu đối lập nói lên những lạm dụng của cơ quan hành chánh, hay nhận được – qua cuộc trình bày của các vị Bộ Trưởng – tin tức về một vấn đề nhất định hay câu trả lời đích xác. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền được biểu hiện một cách thiết thực nữa qua nguyên tắc trách nhiệm chính trị. Chúng ta biết rằng trong chế độ Đại Nghị, chính phủ bắt buộc phải từ chức khi đa số ở Quốc Hội biểu quyết chống chính phủ. Yếu điểm này sẽ là một ảo mộng nếu không có một đối lập thực sự.

    Vậy qua từng giai đoạn của sự khởi thảo chương trình và trong hành động hàng ngày, chính quyền luôn luôn để ý đến lập trường của đối lập, tự kiểm soát lấy mình và trong việc ấn định kế hoạch quốc gia, lắm lúc phải nhận lấy chủ trương của đối lập. Thái độ này không nhằm làm vui lòng đối lập mà cho toàn dân, vì để ý đến lập trường của đối lập trong việc xác định đường lối chính trị, chính quyền hướng về nguyện vọng của quốc gia.

    4 – Hạn chế và kiểm soát chính quyền. Vai trò tối quan trọng này, không phải đối lập luôn luôn đảm đương với tất cả hiệu quả thật sự. Không, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề là ở khía cạnh tâm lý của toàn dân. Vấn đề là mỗi công dân có thể chắc chắn rằng, ngoài Quốc Hội hay trên diễn đàn Quốc Hội, có những người đại diện có thể phát biểu ý kiến của mình, không phải theo đường lối của chính quyền mà khác hẳn chính quyền. Và dù rằng ý kiến không được chấp thuận đi nữa, họ có cảm giác rằng sự kiện ấy do nơi quyền lợi tối cao của quốc gia, chứ không phải vì tính thị hiếu nhất thời, chuyên chế. Cần phải nhận định rằng, đối lập không những là tượng trưng cho một khuynh hướng chính trị, đối lập còn có giá trị tự bản chất nó nữa. Vì chỉ có đối lập và bởi đối lập mà việc kiểm soát của toàn dân mới có tính cách chân thành và hiệu lực trong một chế độ thương nghị, không những hạn chế, kiểm soát chính quyền, đối lập còn cộng tác với chính quyền nữa.

    B – Vai Trò Cộng Tác Với Chính Quyền

    Cho rằng đối lập cộng tác với chính quyền, đó là một khẳng định có hơi mâu thuẫn. Tuy nhiên chính đó là khía cạnh tích cực của vai trò đối lập. Và chúng ta có thể quả quyết rằng cái lợi của chính quyền là dung túng đối lập.

    1 – Qua những cuộc tranh luận trong một bầu không khí cởi mở, những ý tưởng khích động tinh thần, những định kiến bớt phần cứng rắn, những ý kiến được chọn lọc và uy quyền sáng tỏ. Bất cứ một chính quyền nào cũng có khuynh hướng tự giam mình trong tình trạng cô đơn, chỉ nghe lời của đồng chí và lấy quyết định phù hợp với ảo vọng hoang đường qua những nhận xét riêng biệt của mình về thời cuộc. Đối lập có mặt, nhắc lại cho đoàn thể ở chính quyền tính cách phức tạp của thực tại chính trị, đem lại những màu sắc chính trị và đôi khi phản kháng lại những truyền tin báo cáo đơn phương của chính phủ. Qua những hành vi tích cực ấy, chính quyền thâu lượm được những dấu hiệu quý giá về tình trạng tinh thần của dư luận. Chẳng những trong lãnh vực thông tin, vai trò cộng tác với chính quyền của đối lập nổi bật lên nữa qua khía cạnh nghị viện.

    2 – Tất cả những công việc thuộc về thiết lập chương trình nghị sự, về những vấn đề cần phải được thảo luận, những dự án ưu tiên, những cuộc tiếp xúc v.v…, tóm lại, vấn đề liên hệ đến việc tổ chức công tác của Quốc Hội, sự thỏa thuận giữa đối lập và chính quyền là điều kiện cốt yếu của một tình trạng chính trị ổn định. Và lịch sử đã chứng minh rằng, trong những trường hợp đặc biệt, trong những tình trạng khẩn cấp, tối cần, trong những trường hợp mà sinh tồn của quốc gia được đặt ra, trong những trường hợp ấy, lịch sử đã chứng minh rằng đối lập từ khước độc lập và lắm lúc lại ủng hộ chính quyền để bảo vệ uy thế của chính quyền lúc phải đương đầu với mọi cuộc ngoại xâm.

    3 – Hướng dẫn chính quyền tham gia vào cuộc điều hành công tác Quốc Hội, một sự đối lập có tổ chức, có hệ thống đóng một vai trò cực kỳ quan trọng là chủ trương một chính sách để thay thế cho chính sách chính quyền. Cần phải nhấn mạnh đặc điểm này. Trong những xứ mà tình trạng chính trị chưa ổn định, trong những xứ mà đối lập vắng mặt, người ta luôn luôn lo ngại cho tương lai chính trị quốc gia. Ai sẽ thay thế nhà lãnh tụ hôm nay? Viễn tượng những cuộc cách mạng đẫm máu, những cuộc chính biến, viễn tượng những gián đoạn chính trị đầy hậu quả làm cho cuộc sinh hoạt chính trị kém phần tích cực. Đối lập, trong chính thể Dân Chủ, cho phép Quốc Gia xoay chiều, đổi hướng trong khung cảnh của định chế và không tổn thương đến sự liên tục của cuộc sinh hoạt chính trị. Đối lập là chính phủ của ngày mai, đối lập tượng trưng sự tin tưởng vào định chế quốc gia, đối lập duy trì sự liên tục của chính quyền.

    Một sự đối lập hữu hiệu là một lực lượng tích cực. Cần phải nhận định rằng đối lập không phải là lực lượng luôn luôn chống đối chính quyền. Đối lập và chính quyền là hai yếu tố căn bản của thế quân bình chính trị trong chính thể Dân Chủ.

    Hạn chế và kiểm soát chính quyền, cộng tác với chính quyền, một khi đã hiểu như thế, vai trò của đối lập, vấn đề được đặt ra bây giờ là thử hỏi trong điều kiện nào đối lập có thể làm tròn sứ mạng của nó trong một bầu không khí khoan dung, khi mà một số quyền hạn của đối lập được xem là bất khả xâm phạm và đồng thời đối lập thông suốt nhiệm vụ của mình. Kê khai những quyền hạn ấy, ấn định nghĩa vụ của đối lập, tức là bàn đến vấn đề quy chế của đối lập.

    III – Qui Chế Của Đối Lập

    Vấn đề ấn định qui chế của đối lập tùy thuộc mỗi quan niệm riêng về đối lập. Nếu đối lập chỉ được xem là một quyền đối lập, nó chỉ là hậu quả tất nhiên của thể chế chính trị Dân Chủ Tự Do. Đối lập tức là có quyền xử dụng tất cả những tự do hợp pháp. Trái lại, nếu đối lập được đưa lên hàng một chức vụ rất cần thiết cũng như chính quyền, nếu đối lập được xem không phải là một việc bất đắc dĩ, mà là một liều thuốc kích thích chính quyền, thì theo quan niệm này, quy chế chẳng những bảo đảm tự do của đối lập mà còn chú ý tới công hiệu của nó nữa. Tổ chức đối lập, định chế hóa đối lập đó là quan niệm thứ hai của đối lập.

    Nhưng dù có được định chế hóa hay không, đối lập để có thể đảm đương vai trò chủ yếu của nó, phải là một đối lập tự do và xây dựng. Nói đến đối lập tự do là phải nghĩ ngay đến quyền hạn của nó; nói đến đối lập xây dựng là nghĩ đến ngay nghĩa vụ của nó.

    A – Một Trong Những Quyền Hạn Của Đối Lập

    1 – Là quyền không thể bị tiêu diệt. Vì đối lập luôn luôn là một chướng ngại, chính quyền hay có khuynh hướng thừa một cơ hội nào đó, tẩy trừ phần tử rối loạn ấy đi. Vẫn biết rằng, có những lúc, những giờ phút nguy nan, đối lập hoặc tự mình, hoặc thỏa thuận với chính quyền, ngưng hẳn những phê bình hay chỉ trích. Nhưng đó chỉ là im hơi, lặng tiếng; chớ quyền sinh tồn vẫn là quyền tối cao của đối lập. Tiêu diệt đối lập tức là dọn đường cho Chủ Nghĩa Độc Tài. Đối thoại trở thành độc thoại.

    2 – Quyền thứ hai của đối lập là quyền phát biểu. Và quyền phát biểu này được thể hiện bởi những cái mà người ta gọi là tự do công cộng. Số phận của đối lập sẽ ra sao nếu đối lập không tự do có ý kiến khác hẳn ý kiến chính quyền, và tự do phát biểu ý kiến ấy trên báo chí và sách vở? Nếu đối lập không được tự do hội họp? Chỉ có đối lập thật sự trong một chế độ mà các tự do này được ấn định và chế tài một cách hợp lý.

    Chúng ta có nói rằng thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân Chủ. Tính cách tương đối này được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc bầu cử.

    Trên bình diện đại nghị, đối lập cần phải được đặc biệt bảo vệ. Trường hợp Dân Biểu đối lập bị bắt bớ hay tống giam không phải là những trường hợp hiếm có. Vì thế mà quyền bất khả xâm phạm của Dân Biểu là một thực tại.

    Những quyền hạn mà chúng tôi đã sơ lược kê khai không phải chỉ dành riêng cho đối lập. Đó là quyền bảo vệ tất cả công dân trong chính thể Dân Chủ. Nhưng phải thành thật mà nhận định rằng tự do phát biểu, tự do tuyển cử, quyền bất khả xâm phạm v.v… là những điều kiện quí giá cho đối lập luôn luôn bị chính quyền đe dọa.

    Đó là điều kiện tối thiểu. Một quan niệm cấp tiến đã đi đến chỗ định chế hóa đối lập. Đối lập trở thành một thực thể có hiến tính. Đó là trường hợp của Anh Quốc vậy.

    Ở nước Anh, đối lập có một tước vị chính thức “đối lập của Nữ Hoàng”. Và đối lập của Nữ Hoàng có cả chính phủ riêng của họ, một nội các bóng trong Hạ Nghị Viện. Vị lãnh tụ đối lập của Nữ Hoàng là một nhân vật cao cấp đầy uy thế, luôn luôn được mời đến cùng vị Thủ Tướng tham dự những buổi lễ chính thức và luôn luôn được tham khảo ý kiến về những vấn đề chính trị trọng đại. Và xin nhắc lại một điều rất lý thú là “nhà nước lại phải trả lương cho vị lãnh tụ đối lập”.

    Nhưng dù sao, định chế hóa hay không, quyền sinh tồn và những điều kiện thuận tiện để tự do phát biểu, chỉ có ý nghĩa khi nào đối lập tin tưởng có quyền nắm lấy chính quyền. Chính sự bình đẳng trong vận hội ấy làm cho cuộc sinh hoạt chính trị thêm phần phấn khởi.

    Đối lập có vài quyền hạn để đảm đương vai trò của nó. Nhưng đối lập không phải chỉ có quyền. Một số nghĩa vụ hạn chế hoạt động của đối lập, nghĩa vụ nhằm mục tiêu tôn trọng tinh thần Dân Chủ.

    B – Những Nghĩa Vụ Của Đối Lập

    Một trong những nghĩa vụ của đối lập là thừa nhận qui luật đa số. Những ai quan tâm đến cuộc bầu cử đều rõ rằng có thể xảy ra trường hợp mà vị Tổng Thống đắc cử hay một chính đảng chiếm đa số ở Quốc Hội trong lúc phiếu của mình lại kém địch thủ thất bại. Nhưng đó chỉ là hậu quả kỹ thuật của luật tuyển cử. Và công lý là một chuyện, mà hợp pháp là một chuyện khác nữa. Trường chính trị là một cuộc tranh đấu công nhận qui luật đa số, tức là thẳng thắn tham gia cuộc đấu tranh bởi đó là luật lệ của nguyên tắc dân chủ.

    Nghĩa vụ thứ hai của đối lập là hoạt động một cách ôn hòa xây dựng và có tinh thần trách nhiệm. Những chỉ trích vớ vẩn, những vu khống không có căn bản chính trị của những kẻ tự cho là chính khách, những phê bình chỉ đem lại hoài nghi và bất mãn, đó là những tệ đoan của sự đối lập không xứng đáng với danh hiệu của nó. Vì đâu lại có một hiện tượng bất thường như thế? Ngoài tham vọng cá nhân, hiện tượng này phát sinh từ một hệ thống chính đảng nhất định và liên quan đến khía cạnh ý thức hệ của một vài chính đảng.

    Trong một xứ, một hệ thống đa đảng là một thực tại chính trị, khi mà không một chính đảng nào chiếm đa số hay ưu thế trên sân khấu chính trị. Chính phủ luôn luôn là một chính phủ liên hiệp. Mà liên hiệp tức là tập hợp những khuynh hướng mâu thuẫn, dung hòa những chính sách tương phản. Chính cái viễn tượng không bao giờ tự mình chiếm được hoàn toàn quyền và thực hiện những chương trình hứa hẹn làm cho chính đảng thiếu ý thức xây dựng và tinh thần trách nhiệm. Tính cách rời rạc và chia rẽ của đối lập, chỉ biết phá hoại biến đổi hẳn mối tương quan truyền thống giữa đa số và thiểu số. Đối lập không còn là đối lập ngoài và chống chính phủ, đối lập ở đây là đối lập trong chính phủ.

    Chẳng những thế, khía cạnh ý thức của một vài chính đảng là nguyên do thứ nhì của sự thiếu tinh thần xây dựng. Đối lập chỉ có nghĩa trong một khung cảnh chính trị nhất định. Nếu chúng ta đồng ý về một nguyên tắc căn bản, nếu chúng ta thừa nhận chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân quyền, tự do chính trị, nếu chúng ta tôn trọng nhân vị, sự độc lập của Thẩm Phán hay quyền tự do phát biểu, thì cuộc tranh chấp chính trị chỉ nằm trên lãnh vực thực tiễn qua những nguyên tắc thứ yếu. Trái lại, nếu đối lập nhằm chống lại, không phải một khuynh hướng chính trị hay một chính sách nhất định, mà chính cả nền tảng của xã hội, nghĩa là chống cả chính thể, thì khẳng định rằng đối lập là chính phủ tương lai không còn giá trị nữa. Vì đặc tính của đối lập về ý thức hệ là chiếm chính quyền để rồi thủ tiêu quyền đối lập.

    Trong một tình trạng như thế, trước tình trạng mà đối lập không thi hành nghĩa vụ của nó, những quyền hạn không còn lý do tồn tại nữa. Và “Chính Thể Dân Chủ” cần phải có những biện pháp thích nghi để đối phó. Sa thải những phần tử bất chính trong hành chính, bắt buộc đối lập phải có một chương trình và có năng lực nắm chính quyền trước khi lật đổ chính phủ, sửa đổi luật bầu cử, đặt ngoài vòng pháp luật những chính đảng quá khích, đó là một vài ví dụ cụ thể về biện pháp được áp dụng để bảo vệ Chính Thể Dân Chủ.

    IV – Đối Lập Trong Các Quốc Gia Chậm Tiến

    Phác họa như thế, vai trò và “qui chế đối lập” trong “chính thể dân chủ” qua sự biến chuyển của ý niệm trong xã hội cận đại, chúng ta không khỏi tự nhủ rằng đó là lý tưởng. Và tự hỏi rằng lý tưởng ấy có phù hợp với những quốc gia trên đường phát triển, với hiện tình những nước vừa thu hồi độc lập.

    Thực tại chính trị cho chúng ta biết rằng, đối lập nếu không hoàn toàn vắng mặt, thì chỉ được dung túng một phần nào, một phần nhỏ nào, trong những nước mới này, những nước mệnh danh là Dân Chủ và đồng thời cũng được xem là những chính thể không độc tài. Tại sao lại có một sự kiện oái oăm như thế?

    Lý do thứ nhất mà người ta đưa ra là sự đe dọa trầm trọng của độc tài Cộng Sản. Những nước mới này, là những nước bị nạn Cộng Sản đe dọa và có nước đang chiến đấu một mất một còn với Cộng Sản. Dung túng đối lập tức là cho Cộng Sản cơ hội núp sau lá cờ đối lập để phá hoại nền dân chủ. Đối lập Cộng sản là đối lập về ý thức hệ, và chúng ta biết rằng đối lập về ý thức hệ là đối lập chống chính thể Dân Chủ.

    Lý do thứ hai là trình độ giáo dục của quần chúng. Người ta cho rằng dân chúng chưa có một trình độ giáo dục về chính trị khá đầy đủ để cho có thể xử dụng một cách hoàn hảo những quyền tự do công cộng. Và như thế, đối lập chỉ có hại vì nó sẽ là bức bình phong của những tham vọng cá nhân của những kẻ không cơ sở chính trị chỉ dựa trên cuộc chính đồ sinh hoạt. Hơn nữa, thì giờ gấp rút, nâng cao mực sống của toàn dân là một việc tối cần, lúc kiến quốc không phải lúc bàn cãi, phê bình hay chỉ trích.

    Những lý do mà chúng ta vừa nêu ra rất là chính đáng. Nhưng chính đáng không có nghĩa là phải chấp nhận. Trong lĩnh vực chính trị và xã hội, sự hoàn hảo của một định chế chính trị là kết quả của kinh nghiệm. Làm sao hy vọng một nhận thức khá cao của quần chúng, nếu hôm nay không có học tập hướng về Dân Chủ? Không phải nhất thiết áp dụng tất cả những gì đã có hay đang có ở Tây Phương. Thực tại chính trị xã hội văn hóa của mỗi nước là yếu tố căn bản. Nhưng điều kiện tối thiểu phải có để đối lập được phép khởi đầu và phát triển.

    Vả lại, vì thiếu đối lập mà Cộng Sản và những phần tử phản Dân Chủ nắm mất chính nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn, than phiền của quần chúng.

    Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chính quyền và nhân dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách ôn hòa, để cho phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra. Và như thế không những trong những nước tiền tiến, mà chính ngay trong những tân quốc gia, công cuộc kiến quốc và cứu quốc, công cuộc xây dựng nền Dân Chủ phải là kết tinh của hoạt động song phương giữa chính quyền và đối lập.

    Giáo Sư Nguyễn Văn Bông

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Công nhận ông GS Bông luận về dân chủ, đối lập rất rõ ràng, chặt chẽ, sâu sắc, thấu tình đạt lý, chứng tỏ một căn bản học thuật vững vàng, toàn diện về chính trị, xã hội, luật pháp, và là người có đầu óc thực tế. Ông thuộc loại chính trị gia 'lập quốc' đúng nghĩa, có nền tảng tư tưởng vững chắc, tầm nhìn sâu rộng, lí lẽ sắc bén. Tiếc là ông chưa kịp có cơ hội ra lãnh đạo đất nước.

    Hèn chi cộng sản đã liệt ông Bông vào hàng đầu bảng danh sách đen, như mối nguy hiểm khôn lường đối với 'sự nghiệp cách mạng', và ném mìn giết chết ngay, sau vài lần đã ám sát hụt !

    Sau này nếu nước VN 'đổi đời', thì nên cho lập Trường nghiên cứu chính trị hoặc Học viện hành chính quốc gia mang tên Nguyễn Văn Bông !

    [3]. Đấu tranh cho đất nước: Cớ Sao Phải Sợ ? - abcsukien 11/12/2010

    Trích dẫn:
    Lời giới thiệu: Bài viết “Cớ Sao Phải Sợ?” của Tuệ Vân sau khi được đưa lên trên trang mạng Báo Tổ Quốc thì có một bài viết với tiêu đề “Đấu Tranh Cho Đất Nước Cớ Sao Phải Sợ?” ký tên tác giả là abcsukien trả lời cho thắc mắc của Tuệ Vân. Nhận thấy đây là một bài phân tích hay, Tâm Thức Việt Nam xin được đăng tải để kính mời quý vị độc giả cùng đọc.

    Nhiều người ví đảng Cộng Sản ở Việt Nam như một băng đảng Mafia.
    Nói như vậy chưa đủ. Mafia chỉ là một băng đảng tội ác sống bên ngoài pháp luật. Mafia có khả năng tổ chức buôn lậu, chứa bạc, ăn cướp… Nhưng cướp của xong là phải …chạy !. Ðảng Mafia, ngay ở đảo Sicily bên Ý là nơi xuất phát của họ, cũng không bao giờ có thể đóng luôn cả vai cảnh sát bắt cướp để có quyền sử dụng vũ lực hợp pháp; đồng thời lại đóng vai quan tòa để sử dụng luôn hệ thống luật pháp tự bảo vệ mình.

    Ðảng Cộng Sản mạnh hơn Mafia rất nhiều.

    Từ thời Hồ Chí Minh, ông đã nói “Ðảng ta là một đảng cầm quyền.” Nghĩa là “đảng ta” nắm trong tay cả quân đội, công an, tòa án, luật pháp, báo chí, văn nghệ, ngân hàng, cửa khẩu, vân.vân… với quyền hành tuyệt đối. Nhưng có một điều khiến các đảng cộng sản và Mafia giống nhau, đó là Quy Luật “Omerta,” có thể dịch là “bảo mật.”

    Luật này có nghĩa là đảng viên phải giữ bí mật nội bộ, không bao giờ được tiết lộ chuyện trong đảng cho người ngoài biết. Các đảng viên Mafia khi bị bắt cũng không bao giờ được nói nửa lời về những chuyện riêng tư trong đảng, đứa nào nói là phản đảng, chống đảng, là tự kết án tử hình [cho mình ...cho cả cha mẹ, vợ con]

    Ðiều luật này, theo ngôn ngữ của đảng Cộng Sản Việt Nam, còn gọi là “đoàn kết nội bộ”. Hồ Chí Minh đã viết rằng: “Cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của đảng như giữ gìn con ngươi trong mắt mình.” -- Ngô Nhân Dụng

    . . . . . . . . . Trước đây, để huy động và lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân đánh đuổi quân Pháp hoặc chiếm miền Nam Việt Nam, đảng Cộng sản đã phải lường gạt người dân để họ tưởng rằng đảng có chính nghĩa. Vì thế, chắc chắn đã có nhiều người dân vào đảng, hoặc hy sinh xương máu chiến đấu dưới lá cờ của đảng, là do lòng yêu nước thật sự. Những người này đã bị đảng lợi dụng.

    Ta cứ nghĩ đồng chí rồi thì không ai xấu nữa
    Trong hàng ngũ ta chỉ có chỗ của yêu thương
    Đã chọn đường đi chẳng ai dừng ở giữa
    Mạc Tư Khoa còn hơn cả thiên đường.

    …Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ
    Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào
    Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ
    Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao – Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi -Việt Phương 1969

    Đến khi đảng thành công, cướp được chính quyền trên toàn bộ đất nước rồi, đảng mới dần dần lộ bộ mặt đích thực của mình ra là một đảng cướp đúng nghĩa, một đảng mafia chính danh:

    - “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc trốc tận rễ”! – Hồ Chí Minh
    - “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa…” – Lê Duẩn
    - “Đảng Cộng Sản cướp chính quyền bằng bạo lực thì Đảng Cộng Sản sẽ giữ chính quyền bằng bạo lực”. – Trường Chinh
    - “Bài học thất bại trong cuộc đời làm cách mạng của cha là chọn lầm lý tưởng CS và CNCS, nhưng điều đáng lên án nhất là tính cách phục tùng đến hèn nhát của cha là đối với những mệnh lệnh phi nhân, bất nghĩa của tập đoàn lãnh tụ độc tài chuyên chính đã mất hết tình tự dân tộc”. – Nguyễn Hữu Thọ (cựu chủ tịch MTGPMN, cựu chủ tịch nước CHXHCNVN) gởi cho con lúc lâm chung.
    - “Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả cho loại Hòa Bình đó, là những năm tăm tối mà những thế hệ kế tiếp của VN phải gánh chịu!” – Cố Tổng thống Mỹ Ronald Reagan
    - vân.vân… và v.v…

    Những người đã từng hoặc còn đang phục vụ cho đảng, kẻ trước người sau đều nhận ra điều ấy, chỉ có kẻ đui mới không thấy.

    Phản ứng của những người thấy được bộ mặt thực ấy của đảng???. Có nhiều phản ứng khác nhau tùy lương tâm, tính quân tử, lòng can đảm và hoàn cảnh mỗi người:

    1) Có những người can đảm như Nguyễn Hộ, Nguyễn Nam Khánh… lên tiếng phản kháng.

    Khi phản kháng, họ chỉ muốn đảng trong sạch hơn, ích quốc lợi dân hơn. Họ chưa nhận định được như Tổng Thống Nga Yelsin: “Cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không thể thay đổi”. Nhưng dù chỉ muốn làm đảng trong sạch hơn, họ cũng bị đảng khai trừ, bỏ tù, hay ít nhất là bạc đãi, không cho hưởng những quyền lợi mà họ đang được hưởng do công lao của họ với đảng trước đây.

    …Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ
    Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế này?
    Đồng chí – dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay
    và mọi ngả đường đã giăng cạm bẫy! – Những ngày thường đã cháy lên -Bùi Minh Quốc

    2) Có những người muốn lên tiếng phản đối, cải thiện đảng, nhưng khi thấy làm như thế thì sẽ bị đảng khai trừ hoặc bị mất đi những đặc ân đặc lợi đang hưởng, thì sợ, không dám lên tiếng hay phản ứng gì cả. Họ chấp nhận thái độ “nín thở qua sông”, “ngậm miệng ăn tiền”, đành chấp nhận “giả điếc làm ngơ” trước tất cả những bất công, sai trái sờ sờ trước mắt.

    Trước đây họ sẵn sàng hy sinh cả mạng sống để đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh “Ngụy” là do họ bị đảng lừa mị… Lúc đó họ còn trẻ, còn đầy nhiệt huyết, vả lại, thời ấy nhiều người trong họ chẳng có gì để mất ngoài sự nghèo khổ, vì thế họ sẵn sàng làm “anh hùng”. Nhưng bây giờ đã lớn tuổi, nhiệt huyết không còn, lại có quá nhiều thứ phải gìn giữ: nào là của cải, nhà cửa, đất đai, nào là địa vị, chức tước, nào là đặc lợi đặc quyền, nhất là thân mạng họ… Trong cái chế độ bất lương này, không khéo giữ mấy thứ ấy thì sẽ mất ngay! Và họ đành chấp nhận: im lặng là vàng ; thà hèn hơn là mất!

    …sợ bị công an theo dõi
    sợ bị bắt bớ điều tra
    sợ bị gán tội âm mưu với các “thế lực thù nghịch”
    sợ bị án tù phá hoại an ninh quốc gia
    …sợ trần nhà có mắt
    sợ vách tường có tai
    sợ cả bóng mình… – Tại sao các đồng chí sợ nhau?-Bắc Phong

    3) Có những người trước đây là những người yêu nước, họ vào đảng ban đầu vì lý tưởng giải phóng quê hương khỏi ách thực dân, đế quốc, v.v… Họ bị đảng lừa và lợi dụng lòng yêu nước của họ. Nhưng khi đảng đã cướp được chính quyền rồi thì họ cũng được chia phần vinh quang, hưởng những đặc quyền đặc lợi, được những địa vị, chức vụ béo bở hái ra tiền… Những “bả” này đã tha hóa họ, biến họ thành những con người hoàn toàn khác. Họ thấy chế độ độc tài hiện tại, nếu họ cứ yên thân chấp nhận, là một môi trường hết sức thuận lợi để họ thăng quan tiến chức, làm ra tiền, thực hiện giấc mộng giàu sang… Vì thế họ ủng hộ, thậm chí cố tình bảo vệ… Họ trở nên thành phần trung thành nhất với đảng… Trung thành để cùng tồn tại, cùng hưởng lợi, bất chấp những lợi lộc này rút ra từ mồ hôi nước mắt, xương máu của người dân. Ngày xưa họ có thể bất nhẫn không chịu được khi thấy đồng bào mình bị ngoại bang bóc lột, hành hạ; ngày nay thì chính họ lại là người ra tay bóc lột đồng bào, thậm chí còn độc ác và tàn tệ hơn ngoại bang:

    …không còn mang lý tưởng vì nước vì dân
    chỉ lo làm giàu bất chính
    vơ vét của công làm của riêng
    có phải vì muốn bảo vệ ngôi vị
    ăn trên ngồi trốc
    hưởng thụ bổng lộc, danh vọng, quyền uy
    sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn đàn áp người khác – Bắc Phong

    4). Để đào tạo nên những hạng người trung thành với đảng, đảng phải tạo ra một môi trường xã hội đặc biệt, trong đó:

    ‒ Ai tỏ ra nghi ngờ đảng, phê bình đảng, cho dù là phê bình xây dựng cách mấy hay đúng và chính xác đến đâu, thì đều trừng phạt, bị mất những quyền lợi đang hưởng, lại còn bị bạc đãi, sách nhiễu, thậm chí có thể bị tù tội, bị thủ tiêu nếu người ấy trở nên nguy hiểm cho đảng.

    ‒ Ngược lại, ai tỏ ra trung thành với đảng và tìm cách bảo vệ đảng thì sẽ được ưu đãi, được hưởng những đặc quyền đặc lợi của chế độ, được đảng bảo vệ (dù có phạm tội tày trời như Nguyễn Việt Tiến, Mai Văn Dâu, Lương Quốc Dũng, Huỳnh Ngọc Sĩ…).

    Đảng còn tạo điều kiện hết sức thuận lợi để họ mau thăng quan tiến chức, làm giàu nhanh chóng (kể cả cho phép tham nhũng, hối lộ hay cướp đoạt tài sản đất đai của dân). Đồng thời, đấy cũng là bằng chứng pháp luật để buộc họ phải trung thành với đảng mãi mãi; có muốn bỏ đảng để thể trở về với lương tâm, với lẽ phải cũng …không dám!.

    . . . . . . . . . XIN TÚM LẠI:

    . Người trí thức biết được tội ác của cộng sản mà không vạch trần trước công luận là bất trí. Kẻ nhìn thấy đồng bào mình bị nướng ‘trên ngọn lửa hung tàn’ mà không thương xót là bất nhân. Và …người hiểu nỗi thống khổ của đồng bào mình mà không lên tiếng giùm là bất nghĩa!.

    . Nhưng khi người trí thức đã dám yêu một đất nước VIỆT NAM …không XHCN thì chắc chắn rằng họ đã trở thành một con cừu non trước 01 bầy sói khổng lồ đang …đói. Chính vì vậy cho nên, họ có rất nhiều CỚ ...để phải SỢ (!!!)

    - Theo: http://www.tamthucviet.com/articleview.aspx?artId=%C5%B8O%19[

    Tên khủng bố Vũ Quang Hùng, người ám sát GS Bông là bạn học của cựu chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Cả hai cùng ghi danh lớp Toán-Lý (MGP) ĐH khoa học Saigon niên khóa 1963-1964, nhưng cả hai đều bỏ cuộc. Sau này Triết tự khai mình có Cử Nhân Toán ĐHKH Saigon !!

    [2]. Như thế nào là một CHÍNH TRỊ GIA, nhà hoạt động dân chủ chân chính & thực tế? - See more at: https://www.danluan.org/tin-tuc/20150825/gs-nguyen-van-bong-doi-lap-chinh-tri#comment-143541

    Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Chính trị gia hay Nhà chính trị hay Chính khách là một người tham gia trong việc gây ảnh hưởng tới chính sách công và ra quyết định. Trong đó bao gồm những người giữ những vị trí ra quyết định trong chính phủ và những người tìm kiếm những vị trí đó, dù theo phương thức bầu cử, bổ nhiệm, đảo chính, gian lận bầu cử, quyền thừa kế hay các phương thức khác.

    a). Chính trị gia là người có thực tài về kinh bang tế thế, có nguyện vọng và mục đích cao quý, chính đáng, muốn đem khả năng của mình ra để giúp đời, giúp nước.

    Riêng đối với /cho những CHÍNH TRỊ GIA muốn lật đổ chế độ CSVN, họ cần phải biết thêm:
    Đời CHÍNH TRỊ từ khi tôi đã hiểu
    Dấn thân vô là phải chịu tù đày
    Là gươm kề tận cổ súng kề tai
    Là thân sống chỉ coi còn một nửa - (nhại Tố Hữu)

    b). Tuyệt đại đa số các chính trị gia đều phải gia nhập đảng phái chính trị của mình.

    Một người, dầu tài ba thế mấy, nếu hành động đơn độc sẽ là thứ "người hùng cô đơn“, một mình nói một mình nghe, một mình làm một mình thấy, chẳng ai để ý, chẳng có tác dụng nào. Lắm lúc vì đơn độc nên họ dễ bị rơi vào chỗ bốc đồng, khiến hành động của họ chẳng những không làm người có trách nhiệm để ý lắng nghe, mà còn gây bực bội cho người chung quanh.

    Muốn làm chính trị trước hết con người phải tham gia một đoàn thể hoặc đảng phái chính trị hợp pháp, để tiếng nói và sự đấu tranh của họ được đối phương lưu ý lắng nghe; để tiếng nói và sự tranh đấu đó sẽ không bị rơi vào chỗ cá nhơn tự động tự phát, thứ tự động tự phát thường xảy ra nay thế này mai thế khác.v.v...

    Gia nhập đảng phái chính trị của mình, họ sẽ được rèn luyện chu đáo hơn, sống trong kỷ luật cộng đồng văn minh hơn, được săm soi, gò bó từng lời ăn tiếng nói, cử chỉ hành động …mọi lúc mọi nơi và từng ngày một. Bản lĩnh chính trị, qua đó, sẽ được nâng dần, nâng dần.

    c). Cho đến khi được cầm quyền, bất kỳ một đảng phái cầm quyền [kể cả chính trị gia của họ] cũng đều có ba nhiệm vụ chính:
    – Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
    – Gìn giử an ninh trật tự trong lãnh thổ quốc gia
    – Bảo đảm, ở mức cao nhất có thể, rằng mỗi đơn vị xã hội là gia đình phải có được nơi chốn sinh sống và phương kế sinh nhai trong lãnh thổ quốc gia của mình.

    Nếu là đảng cầm quyền, là một chính phủ đương quyền mà không thực thi được 3 nhiệm vụ chính yếu của mình thì …một cách đơn giản và dể hiểu:
    – Người dân rời bỏ quốc gia đó: tỵ nạn chính trị, kinh tế
    – Người dân đứng lên “lật đổ” chính phủ
    – Một quốc gia khác xâm lăng và có thể thôn tính quốc gia đó

    d). Sự cầm quyền của các Chính Trị Gia phải có thời hạn:
    Lấy ví dụ, vào năm 2012, nếu dân Mỹ không hài lòng, qua quyền lực tối thượng của lá phiếu, người dân sẽ “mời” chính phủ Obama về vườn để chính phủ khác lên thay.

    Sự thay đổi, chuyển tiếp quyền lực diễn ra quyết liệt nhưng hoàn toàn trong trật tự, hòa bình và theo thông lệ.

    ---Xem: Lữ Phương - Chủ nghĩa xã hội Việt Nam: di sản và đổi mới http://www.viet-studies.info/LuPhuong/LuPhuong_ChuNghiaXaHoiVietnam.htm

    Hòa thượng Thích Quảng Độ có nói: "Chúng tôi [Phật giáo] không làm chánh trị nhưng chúng tôi phải có thái độ chánh trị"

    Có thái độ chánh trị khác hoàn toàn với 'làm chánh trị'.

    [1]. Như thế nào là thái độ chính trị của một công dân không làm chính trị?
    Ông GS. Nguyễn Văn Bông (1929-1971, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh thời Đệ nhị Cộng hòa, giáo sư, chính khách gia VNCH) nhận định:

    "...Trường hợp của những người cầm bút, của văn sĩ, của các vị có danh tiếng. v.v… nghề nghiệp của họ đưa đến một ‘thái độ chính trị’, hoặc đôi khi có hậu quả chính trị mà họ không ý thức.

    Những người cầm bút trong những quyển tiểu thuyết hay những quyển tùy bút, tiểu luận... khi họ tố cáo những tệ đoan trong xã hội, khi họ miêu tả chánh giới với những đặc điểm như loạn luân, lãng mạn, con buôn chánh trị… khi họ tố cáo những thối nát của chính quyền, thì dù muốn dù không, các hành vi, thái độ của họ đều có tính cách chánh trị, có hậu quả chánh trị, và đôi khi, nhận định của họ có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội cũng như trong cuộc sinh hoạt chánh trị.

    Đã là người có học, lại có năng khiếu cầm bút thì không thể nào chỉ ghi nhận các sự kiện đang xảy ra mà không có đưa ra nhận xét, nhận định, suy nghĩ cá nhân... Tất cả các nhận xét, nhận định này đều được gọi là thái độ chính trị "

    a). Nhận định của GS. Bông hoàn toàn đúng với trường hợp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong tạp văn có nhan đề “Cũng đành bứt sợi dây câu”. Ở cuối tạp văn này, chính nhà văn Nguyễn Ngọc Tư phải đành thú nhận: “...tôi đã định chỉ kể và kể, không để tình cảm của chính mình chen vào. Rốt cuộc, tôi đã không làm được”.

    Nhà văn không làm chính trị, Nguyễn Ngọc Tư chỉ biểu lộ một ‘thái độ chính trị’.
    - Xem: Nguyễn Ngọc Tư – Cũng đành bứt sợi dây câu http://www.viet-studies.info/NNTu/NNTu_CungDanhButSoiDayCau.htm

    b). Nhận định của GS.Bông cũng đúng cho trường hợp của thiên tài toán học GS Ngô Bảo Châu. Ông GS. Châu - người được nhà nước csvn tổ chức nghênh đón tôn vinh, trọng thị ngay sau khi chiếm giải Toán Fields và mời dạy tại Hà nội - có so sánh ông Cù Huy Hà Vũ với các nhân vật huyền thoại như Kinh Kha xứ Vệ và Nestor của thành Troie.

    GS.Châu cũng công kích sự hoảng sợ của các viên chức liên quan trong vụ án này: “...Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này”. (!!!)

    Một số fan của ông tỏ ra tiếc khi ông nêu lời bình luận, số khác khen ông là kẻ sĩ trí, tâm, dũng toàn vẹn... khiến cho ông phải đóng blog Thích Học Toán của mình.

    Thiên tài toán học, GS. Ngô Bảo Châu không hề, chưa và hiện không phải là một CHÍNH TRỊ GIA.

    Bài viết trên blog của ông chỉ là biểu hiện một ‘thái độ chính trị’.
    - Xem: Ngô Bảo Châu - Về sự sợ hãi https://www.danluan.org/tin-tuc/20110406/ngo-bao-chau-ve-su-so-hai

    c). Nhận định của GS.Bông cũng hoàn toàn đúng cho nhân vật chú Tư trong tạp văn có nhan đề: “Trời hỡi làm sao cho khỏi… Lọa?”.

    Người Công Dân Chú Tư trong tạp văn này bừng bừng nỗi giận, Chú liền họp mặt gia đình thông báo từ nay cấm không xài đồ của nước Lọa nữa, không lý nó gìở trò bức hiếp chà đạp mình vậy mà mình cứ nhơn nhơn xài đồ Lọa, làm giàu cho nó. Chú Tư nói với sự quyết tâm ngút ngất: – Phải chống lại sự xâm lăng của Lọa ngay từ trong nhà mình!

    Người Công Dân Chú Tư không làm chính trị, không là một CHÍNH TRỊ GIA. Người Công Dân Chú Tư đã có, đã biểu lộ một ‘thái độ chính trị’.
    - Xem: Nguyễn Ngọc Tư - Trời hỡi làm sao cho khỏi... lọa? http://www.viet-studies.info/NNTu/NNTu_LamSaoKhoiLoa.htm

    Vẫn ...theo GS.Nguyễn Văn Bông: Thái độ chính trị có thể được hành xử bởi bất cứ cá nhân nào có một trình độ hiểu biết tối thiểu về các vấn đề bản thân, gia đình, cộng đồng, đất nước.

    Những người cầm bút, các vị có danh tiếng, các sinh viên –và chủ lực- đại đa số những người công nhân, nông dân, người lao động VN… có ý thức biểu lộ thái độ chính trị là tài sản quý của dân tộc, của đất nước.

    Thái độ chính trị, tự bản thân nó, mang tính LIÊN KẾT rất cao! Nhà đương quyền sẽ lúng túng, bất lực, đốt thẻ đảng …khi con số những cá nhân có ‘thái độ chính trị bất mãn’ đã quá đông, đã lên đến mức không còn kiểm soát nổi!
    - Xem youtube.com: Hàng ngàn công nhân Công ty Pouyen đình công phản đối chính sách bảo hiểm mới
    - Xem: Chiều 22-6-2015, Quốc hội (QH) đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội (BHXH) một lần đối với người lao động, với tỉ lệ đại biểu (ĐB) tán thành đạt 81,78% http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/tiep-tuc-duoc-chon-huong-bhxh-mot-lan-20150622225551534.htm

    [2]. Như thế nào là một CHÍNH TRỊ GIA, nhà hoạt động dân chủ chân chính & thực tế?

    Vũ Quang Hùng: "Không hiểu sao lúc này tôi lại tự nhiên hết hồi hộp mà lại thanh thản một cách kỳ lạ!"
    Tên khủng bố theo Việt cộng này đã giết bao nhiêu người của chính quyền VNCH với lòng thanh thản?