Tài liệu đặc biệt: Cụ Trần Trọng Kim nhận định về Việt Minh

  • Bởi Admin
    20/08/2015
    15 phản hồi

    Thủ bút Trần Trọng Kim: Thư gửi Hoàng Xuân Hãn năm 1947

    Nguyễn Đức Toàn
    Viện Nghiên cứu Hán Nôm


    Trần Trọng Kim

    Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần - Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.

    Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.

    Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.

    Nội dung như sau:

    Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 1947 [1]

    Ông Hãn [2]

    Hôm ông Phan văn Giáo [3] đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài [4] xem.

    Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài: Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có.

    Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy [5], hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau [6] do ông D’argenlieu [7] sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được [8].

    Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây [9], không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền [10] và Khiêm [11], họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa.

    Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng: Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói: Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài [12].

    Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu.

    Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo [13], Hoè [14] và Sâm [15]. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia [16], mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng: Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến [17], họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói: Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao.

    Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:

    身 在 南 蕃 無 所 預

    心 懐 百 憂 復 千 慮

    (Thân tại Nam phiên vô sở dự,

    Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

    = Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

    Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

    Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm.

    Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết.

    Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh [18] bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:

    Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ

    Đất khách mơ - màng những thở - than,

    Mảng tin bác bị lũ hung tàn.

    Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,

    Căm giận quân thù đã tím gan.

    Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước.

    Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân [19] gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

    Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu [20], xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt [21] đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.) [22]

    Ông có biết tin ông Bùi Kỷ [23] bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả.

    Nhà tôi và Chương [24 ]đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì?

    Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.

    Nay kính thư

    Trần Trọng Kim [tr4]

    Chú thích:

    1. 8/5/1947: ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc: “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.

    2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.

    3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.

    4. Ngài: Chỉ vua Bảo Đại - Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)

    5. Bên ấy: Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.

    6. Cousseau: Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)

    7. D’argenlieu: Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)

    8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167...

    9. hôm 6 tháng 2 tây: ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi: “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”

    10. ông Hiền: Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ,... sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)

    11. Khiêm: Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.

    12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.

    13. Thảo: Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.

    14. Hoè: Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)

    15. Sâm: Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)

    16. Mặt trận quốc gia: Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự "khó tính" của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần "Nam kỳ quốc" và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.

    17. Mặt trận kháng chiến: Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)

    18. ông Oánh: Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ: Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.

    19. Vũ trụ đại quan: Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)

    20. Nhà Rượu: Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)

    21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.

    22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.

    23. Bùi Kỷ: Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm: Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

    24. Chương: Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).

    24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà "Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên." (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà.

    _____________

    Thư mục tham khảo

    1.Lệ thần - Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969

    2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986

    3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982

    4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987

    5. La Sơn Yên Hồ - Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)

    Phụ lục ảnh nguyên bản:

    Nguồn: Blog Yêu Hán Nôm

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    15 phản hồi

    Sau đấy lại quay ra chửi lũ mặt choắt tại sao tao đang yên ổn, sống no đủ mày lại phá đám.Mang tiếng tri thức nhưng yếu hèn, lảng tránh thực tại.Chỉ biết bo bo cho sự ấm no của bản thân không giúp gì được số đông bần cùng đói kém. Trách gì lũ chết đói đi phá kho gạo.

    Mấy ông biên còm tiếng Việt không bỏ dấu làm ơn học cách gõ theoVNI/Telex/VIQR vv., chứ không đọc chữ giống như ăn chè thiếu đường vậy đó :D

    CON GA viết:
    Trong the chien 2, khi nuoc Anh ( England ) vat va danh nhau voi Duc ( Germany ) thi Phap dau hang Duc ngay. O Dong Nam A, anh dang chat vat voi Nhat ( Japan ) thi Phap dau hang Nhat ngay.

    Thông cổm ông ơi ! Chính quấc đã đầu hàng phát xít mất mẹ nó dzồi thì hơi sức, long dạ đâu mà bắt thuộc địa phải tiếp tục 'kháng chiến' chống quân phiệt !

    CON GA viết:
    Cho toi ngay nay, trong khi My vien tro cho Viet Nam nhieu tram trieu Dollars de chua tri AID - HIP va cai thien cuoc song XH nhung it nguoi biet. Con Phap to mom, vien tro thi nho giot, chi lien quan toi loi ich cua Phap nhu tu sua trang hoang cac cong trinh xay dung trong qua khu, ke ca cay cau 'sat vun' Long Bien ...

    Chuyện này thì cũng cần xem xét kỹ. Pháp không giàu lắm nên chỉ cho ít tiền, nhưng Pháp đã giúp đáng kể trong việc 'khai hóa' cả một xứ sở, đổi mới cả một nền văn hóa, tuy chưa đủ mới. Mỹ quá giàu nên có thể mạnh tay cho nhiều tiền hơn Pháp, nhưng chưa thể so được với Pháp trong thành quả 'khai hóa' dân Việt :) Nên nhớ rằng Pháp cho tiền trùng tu các công trình xây dựng của Pháp ở Việt Nam hiện nay cũng là góp phần vào việc bảo tồn, tôn tạo không gian kiến trúc có giá trị lịch sử, nghệ thuật, nâng cao trình độ thẩm mỹ, thưởng thức nghệ thuật kiến trúc cao cấp của dân Việt, là tiếp tục công cuộc 'khai hóa' dân Việt bắt đầu cách đây hơn thế kỷ :)

    RFA - 21.8.2015 Ba nguoi My chan mot mot vu khung bo o Paris
    Trich :
    " Mot vu no sung khung bo da bi chan dung tren chuyen xe lua cao toc Brussels - Paris.
    Vao chieu Thu Sau 21.8.2015, mot nguoi dan ong dung sung AK ban vao cac hanh khach tren xe lam bi thuong 2 nguoi. Ngay lap tuc, ong ta bi 3 hanh khach danh nga va bat troi.
    3 hanh khach nay la nguoi My: Alex Skarlatos, Ve binh bang Oregon - Spener, Linh Khong quan - Anthony Sadler, sinh vien nghi he.
    Cung voi 3 nguoi My, co them 1 nha Ngoai giao nguoi Anh 62 tuoi cung tiep suc bat troi ke khung bo.
    Ong Thi Truong Paris ngo loi cam on va vinh danh nhung nguoi anh haung va noi rang neu khong co ho thi that la mot tham hoa!
    Vay, nguoi Phap dau!
    Con nho vu khung bo 2 toa thap doi WTC o NewYork, Phap cho xuat ban nguyen mot cuon sach cho rang day la kich ban cua ...CIA.
    Roi moi day, chiec phi co MH - 70 cua Malaysia mat tich, Phap cung reu rao la do CIA ( ?! ).
    Bo khi!

    Qua loi cu Tran Trong Kim, cang hieu them ve long da cung nhu su hen kem cua nuoc Phap ( France ). Xua da vay, ma nay cung van the.
    Trong the chien 2, khi nuoc Anh ( England ) vat va danh nhau voi Duc ( Germany ) thi Phap dau hang Duc ngay. O Dong Nam A, anh dang chat vat voi Nhat ( Japan ) thi Phap dau hang Nhat ngay.
    Cho toi ngay nay, trong khi My vien tro cho Viet Nam nhieu tram trieu Dollars de chua tri AID - HIP va cai thien cuoc song XH nhung it nguoi biet. Con Phap to mom, vien tro thi nho giot, chi lien quan toi loi ich cua Phap nhu tu sua trang hoang cac cong trinh xay dung trong qua khu, ke ca cay cau 'sat vun' Long Bien ...

    Neu thuc dan Phap ma duoc nhu thuc fan Anh thi VN du sao cung se kha hon nhieu !

    Gs su hoc Tran Quoc Vuong khi viet ve vung dat phuong Nam cua Vietnam ngay nay, nhat la vung mien Trung thuoc nuoc Champa, ong rat khach quan cong bang.
    Mot lan, ong Pham Van Dong sau khi doc xong thi hoi ong Vuong rang :' Co dung the khong? ' - Ong Vuong dap :' Dung !' - Ong Dong lien bao :' Dung thi im di !'.

    Ban ve su chia re trien mien cua nguoi Viet, lai nho toi dieu sau :Tuong truyen nguoi Cham sau khi mat nuoc va gan nhu tuyet chung thi co loi nguyen rang 'Vi nhung toi loi qua lon voi nguoi Cham, nen nguoi Viet se phai chiu canh chia re va ham hai nhau khong ngung. Chung nao biet sam hoi thi loi nguyen se duoc hoa giai !'.
    Chang biet thuc hu the nao.

    Phải biết suy tư tìm ra chính tà, phải thấy được chính thật và gian dối thì mới đáng gọi là học sử. Đọc sách sử do CS viết mà tin như thật thì thà đừng đọc. Dân Việt thời nay mà tri thức LS như thế này thì mãi mãi sống trong chế độ độc tài, đảng trị.

    Trích dẫn:
    Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại.

    'nằm im lìm' lâu thế ?

    Trích dẫn:
    Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện.

    Sợ gì mà phải 'dấu kín' ?

    Qua đấy, và rất nhiều chuyện khác tương tự, chúng ta thấy gì ở hầu hết các 'gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại' ? Xin lỗi, phải gọi là 'trí thức cục phân', sợ hãi, xu phụ cường quyền, biết, thấy việc xấu xa độc ác mà ngậm miệng vì sợ thiệt thân, né tránh thực tại đế an thân, không dám tranh đấu và hy sinh đến cùng cho chính nghĩa. Điểm lại lịch sử cận đại của dân Việt thì hình như chỉ hạng lưu manh, ngu nghèo, trên răng dưới dế, cùi không sợ lỡ, thì mới dám liều mạng bắn giết để 'đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn' ! Mà ác một nỗi là loại này ở đời nào cũng 'đông như quân Nguyên' :)

    Các 'gương mặt lớn' sáng ngời mà thực ra chỉ nhỏ nhoi, nhút nhát, yếu đuối như thế thì thử hỏi hàng triệu triệu các gương mặt choắt, lấm lem đủ thứ bụi trần khác có thể tạo nên thứ gì tốt đẹp, huy hoàng được. Đó là chính là nguyên nhân sâu xa, cốt lõi tạo nên thân phận đầy bi kịch, đau thương, khốn khổ khốn nạn kéo dài hàng ngàn năm nay cho con dân nước Việt.

    Cách đây trên nửa thế kỷ mà cụ Trần Trọng Kim viết như thế này thì thấy cụ thật là người nhìn xa trông rộng, thật đáng kính phục, những lời củ cụ nay vẫn còn tính thời sự: "Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau
    Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm."
    Đúng là NHÂN DÂN TA THÌ YÊU NƯỚC, CÒN ĐẢNG THÌ YÊU MÁC LÊNIN, MỒ CHA KHÔNG KHÓC MÀ KHÓC MẢ MỐI.
    Khốn nỗi dân ta ngay đến bây giờ cũng vẫn chưa nhận ra Đảng đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để đạt cái cứu cánh của Đảng là xây dựng CNXH để một nhóm người trong Đảng hưởng hết thành quả mà nhân dân ta đã phải trả bằng xương máu. Đảng nợ máu với nhân dân. Theo Đảng thì "nợ máu phải trả máu". Nhân dân thì vẫn không muốn lấy máu trả máu mà muốn lấy nhân nghĩa để thay oán cừu., vì cũng biết Đảng cũng là người Việt Nam. Thế nhưng cái Đảng lưu manh này mất hết tính người rồi, mất đạo lý rồi, chỉ biét dùng đùi cui và còng số 8 giải quyết mọi vấn đề.
    Đảng đánh tráo tất cả khái niệm, trước kia Đảng còn phê phán thanh niên ta là chỉ "giác ngộ lòng yêu nước" mà không "giác ngộ XHCN". Giác ngộ lòng yêu nước chính là giác ngộ chính trị, còn giác ngộ XHCN là gây chia rẽ hận thù trong nội bộ dân tộc, tức là phản động, phản dân hại nước. Hiện nay cái chủ trương gây chia rẽ, hận thù trong nội bộ dân tộc vẫn là chiến lược của Đảng CS, tức là bản chất của Đảng CS cũng là quan điểm của Đảng CS. Cần làm rõ điều này đẻ mọi người dân đều biết.

    Trích dẫn:
    身 在 南 蕃 無 所 預

    心 懐 百 憂 復 千 慮

    (Thân tại Nam phiên vô sở dự,

    Tâm hoài bách ưu phục thiên lự.

    = Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị,

    Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự)

    Ta ở trong hang xứ Bắc,toan tính trăm phương ngàn kế, dụ cho đám dân ngu cu đen vào tròng trong trò chơi 'cách mạng' khi đã chích một vài liều thay á phiện bởi thuyết CS, cái mà (thậm chí) bọn 'trí thức cánh tả' trời Tây vẫn đang say như lên đồng.

    Đừng ca thán (một cách) cảm khái, ngươi (Trần Trọng Kim) sưởi nắng ấm phương Nam và là người nước Nam, ta chú Hồ với chòm râu dê trong hang đá với cái lạnh xứ Bắc vẫn ưu tư như (một) con sói về cội nguồn và gốc gác của sói.

    Thôi, chuyện đã qua rồi ...

    Khai dân trí cho DL: Chính phủ TTK vs. Chính phủ HCM thời kì 1945? Nếu biết đọc tiếng Anh, tìm đọc

    Communist Indochina (2009) by *Ralph Bernard Smith [edited by **Beryl Williams]

    Ghi chú:

    *Ralph B. Smith, Professor of History at the School of Oriental and Asian Studies, University of Washington
    **Beryl Williams, Emeritus Reader (History), University of Sussex

    chuckn viết:
    Trong CTTG II, không một nước nào chấp nhận một CP thân trục phát-xít Đức-Ý-Nhật cả. Người đứng đầu một CP thân Nhật như ông Trần Trọng Kim không có tư cách phán xét một CP liên minh với Đồng minh chống phát-xít.

    Đây là loại ngụy biện "mày cũng như tao thôi". Thằng chột cũng có quyền ("tư cách") chê thằng mù không thấy đường chớ, có sao đâu? Vả lại, TTK nói đúng quá:

    " Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm."

    Sấm Trạng trình và Nostradamus là chuyện phịa, còn ông này tiên đoán y chang những gì cộng sản sẽ làm một khi chúng đuổi được Tây.

    Hằng năm, cứ vào mùa thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây ban bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của cuộc tranh cãi chính phủ Trần Trọng Kim có phải là bù nhìn của phát-xít Nhật hay không vì không có quân đội riêng?

    Trong CTTG II, không một nước nào chấp nhận một CP thân trục phát-xít Đức-Ý-Nhật cả. Người đứng đầu một CP thân Nhật như ông Trần Trọng Kim không có tư cách phán xét một CP liên minh với Đồng minh chống phát-xít.
    Tôi kính trọng một Trần Trọng Kim-học giả nhưng tôi không kính trọng một Trần Trọng Kim-nhà chính trị.

    Trich:
    " Ho ( VM ) thien ve CNCS, ho chi co mot muc dich la thi hanh chu nghia cua ho ... lua doi nguoi ta vao cai chong cua ho ... cung nhu bon Cong san ben Tau va cac nuoc khac, giong nhau nhu het. Ho khong can quoc gia, khong can dao duc ... Ho chi loi dung cai nghia uoc gia de dat cai chu nghia cua ho, lua doi xao quyet du duong ..."
    Loi binh :
    Nhu vay, do tinh chat lua doi de nguoi dan theo minh, VM ( CSVN ) chinh la mot loai cuop. Cuoc chien giua VM voi Phap thuc chat la cuoc chien giua hai ten cuop. Va khi ten cuop Cong san thang ten cuop Thuc dan thi no da lap cong dau voi CNCSQT cua no, chu khong phai voi dat nuoc VN. Vi le do, cau ' Cong dung dau ma toi cung dung dau ' cu Tran Trong Kim danh cho VM chi thuc su dung o ve thu hai ' Toi dung dau !'