"Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm" - Tự bạch của Người biên tập

  • Bởi Admin
    19/08/2015
    7 phản hồi

    Lâm Vũ Nguyễn Trung Kiên


    Trích đoạn bài "Suy tưởng" (Lâm Vũ). Nguồn: "Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm" (Sắp xuất bản)

    Kính gửi các chú bác, anh chị và các bạn đã "đi cùng" tôi một chặng đường ngắn hay suốt cả quãng đường dài trong suốt quá trình hình thành và hoàn thiện cuốn sách "Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm".

    Hôm nay, kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám, cũng là ngày tôi hoàn thành các công việc cuối cùng để chuyển bản thảo cuối của cuốn sách này cho Nhà xuất bản. Tôi xin phép chia sẻ mấy lời "Tự bạch của người biên tập" ở đầu sách để thay lời cảm ơn và tấm lòng trân trọng tất cả sự động viên, giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần để cuốn sách được hoàn thiện, và thêm một lần nữa mong được mọi người thứ lỗi vì sự chậm trễ trong việc phát hành cuốn sách này.

    Xin hẹn gặp lại vào các buổi giới thiệu sách tại Hà Nội, Huế và Sài Gòn vào cuối năm 2015 này.

    Trân trọng.

    * * *

    ”Các công trình cuối đời và còn dở dang của Trần Đức Thảo thật sự có tiềm năng mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới mẻ. Tôi muốn nghĩ đến ông như một người ‘thật sự hiểu những gì mình viết’ và như một nhà triết học nhân bản đầy thao thức trong truyền thống của Aristotle và Hegel”. Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn

    “Chắc chắn Trần Đức Thảo có tầm vóc ít nhất ngang bằng với các triết gia bản lề giữa chủ nghĩa Marx và hiện tượng luận như György Lukács, Maurice Merleau–Ponty, Lucien Goldmann, EnzoPaci, Ludwig Landgrebe, Eugen Fink…, và chia sẻ với họ một quan điểm, một phong cách sống với triết lý”. Nhà nghiên cứu Phạm Trọng Luật

    “Hi vọng chân thật rằng Trần Đức Thảo, nhà mác-xít và nhà hiện tượng luận đặc sắc, cuối cùng sẽ tìm được chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử tổng quát của ý nghĩa”. Giáo sư Daniel J. Herman

    “Trần Đức Thảo trở thành khuôn mẫu trong tiến trình chuyển giao tư tưởng giữa các không gian văn hóa xa nhau. Năng lực ấy có khả năng lật đổ hay làm lung lay những diễn giải triết học truyền thống… Ông đã mở đường dẫn lối cho một bộ phận trí thức Pháp vào nghiên cứu một kiểu triết học mác-xít, đem lại cho họ một khám phá mới về hiện tượng luận, đã di chuyển điểm nhìn về hướng nhân chủng học... Ở góc độ này, ông đã dự cảm và thúc đẩy tiến trình của nền triết học Pháp”. Giáo sư Michel Espagne

    “Trần Đức Thảo là một người Việt Nam được chọn, đã nhận được lời mách bảo thì thầm đầy minh triết của tổ tiên, đã nhận được một nguồn năng lượng bí ẩn của vũ trụ để tổ chức lại tư duy của mình theo một phương cách tư duy mới được gọi tên là tư duy phức hợp. Ông đã bước đầu cố gắng hòa giải triết học và khoa học. Ông đã khiêm nhường nghiêng mình trước bí mật vô song, huy hoàng trên con đường vừa tự phá hủy vừa tự tổ chức của đời sống tâm linh và sự sống tổng thể vũ trụ”. Nhà văn Nguyễn Đình Chính

    “Trần Đức Thảo... làm nổi bật hành trình đi từ bóng tối ra ánh sáng của nhân loại, chỉ ra quá trình đi từ cái con đến cái người, để tái hiện con đường đầy máu và nước mắt mà nhân loại đã trải qua, để qua đó trân trọng con người hơn, trân trọng hơn quá trình con người vượt lên bản ngã của nó để tự hoàn thiện mình, để xứng đáng mang tầm vóc chủ nhân của thế giới”. PGS. TS. Lê Nguyên Cẩn

    “Trần Đức Thảo đến với chủ nghĩa Marx bằng tài liệu tiếng Pháp và tiếng Đức, tức là đến với một hệ thống triết học trong trạng thái tinh khôi, nguyên chất của nó. Tôi đồ rằng, nếu như ông đọc những tài liệu về chủ nghĩa Marx được xuất bản bằng tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tức là tiếp xúc với những dạng chủ nghĩa Marx dân tộc, đã được Hán hóa, Nga hóa, dân tộc hóa, khu vực hóa, chắc chắn con đường đi tới sẽ rất gian nan, thậm chí ông sẽ chối từ”. PGS. TS. Phạm Thành Hưng

    “Giáo sư Trần Đức Thảo đi xa đã tròn 20 năm nhưng những gì ông để lại cho chúng ta vẫn sẽ còn mãi mãi. Tinh thần yêu nước, lòng say mê khoa học, tính trung thực, sự trân trọng đối với con người và bao trùm lên tất cả, một nhân cách, chắc chắn là tấm gương sáng cho các thế hệ làm khoa học hiện nay và trong tương lai noi theo”. GS. TS. Nguyễn Trọng Chuẩn

    “Trong điều kiện phát triển của đất nước và của dân tộc hiện nay, để có một tầm nhìn vừasâu sắc, vừa vượt trước thời đại, tôi tin các thế hệ độc giả Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, sẽ đón nhận tác phẩm của Trần Đức Thảo như một báu vật. Trần Đức Thảo sống mãi trong trí tuệ Việt Nam”. TS. Cù Huy Chử

    “Về con người của Trần Đức Thảo, ông Phạm Văn Đồng luôn luôn nói với tôi: “Đó là một tài năng và là một người bị oan khuất”. Và tôi nhận ra thêm một điều cực kỳ đáng trân trọng ở con người ấy: Mọi nỗi oan khuất mà ông phải gánh chịu suốt cuộc đời không hề để lại trong ông dù chỉ là một dấu vết nhỏ nhất của sự cừu hận. Con người ông trong sáng đến mức ngây thơ… Tôi mong tất cả những tác phẩm của ông được xuất bản và để mọi người hình dung được tư tưởng, con người của ông, và tự hào về một đại trí thức của Việt Nam”. Nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Phương

    “Do nhìn thấu được nhữngnguyên nhân sâu xa và hậu quả khôn lường của sự tha hóa nhân cách con người trong diễn trình lịch sử ngay từ nguồn gốc tiến hóa Loài, nên Trần Đức Thảo đã chỉ ra được những sai lầm triết học “chết người” và sự sa đọa nhân cách ngay từ trên chín tầng cao của thượng tầng kiến trúc xã hội. Ông thấu triệt và cảnh báo nhân loại trước nguy cơ và hiểm họa của một mô hình xã hội không tưởng mà ở đó vắng bóng con người, đang rình rập lúc ẩn lúc hiện ngay trong thế kỷ XX mà ông và dân tộc mình đã từng sống trải và đối mặt“. Nhà báo Trần Ngọc Quang

    “Tôi khao khát mãi rồi cuốicùng cũng được nâng trên tay tập bản thảo Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo - Khảo luận -Kỷ niệm. Khao khát vì kính trọng một người thuộc loại rất hiếm ở nước ta thựcsự “làm triết học” thời hiện đại, nhưng trên tất cả là khao khát vì xót thươngmột thân phận còn hơn cả “bạc mệnh” và vì khâm phục một tấm gương làm người. Trần Đức Thảo để lại cho đời tấm gương lớn về ý chí đi tìm tự do, lòng yêu nước sắtson, tính bất khuất của con người. Tôi tin rằng, cho đến ngày trở lại Pháp (1991), Trần Đức Thảo, trong thân tàn vò võ một mình giữa nơi đất khách quê người,ngày đêm cuồn cuộn lên lớp sóng mới tìm cách thoát khỏi những giới hạn của thời đại mình. Ông khao khát thực hiện sự đền đáp của mình đối với dân tộc đã sinh thành ra mình. Xin coi những cảm nghĩ này là nén nhang được thắp lên để tưởng nhớ đến con người tôi mến phục và xót thương Trần Đức Thảo, trong nỗi niềm xótxa và hi vọng về dân tộc mình”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Trung

    “Chính tính khoa học và triết học biện chứng hấp dẫn, mới mẻ từ những công trình khoa học của Trần Đức Thảo đã khích lệ nhiều người tìm hiểu và nghiên cứu về ông và về sự nghiệp của ông từ trước cho đến bây giờ. Và hôm nay, tác phẩm Triết gia Trần Đức Thảo: Di cảo, Khảo luận, Kỷ niệm là một động thái đáng trân quý của những người làm sách, đặc biệt là của ông Nguyễn Trung Kiên - người sưu tầm, biên soạn và liên tục quan tâm đến kết quả của cuốn sách, để hôm nay mới cótrên tay chúng ta một tác phẩm có sức nặng công lao và sức nặng khoa học liên ngành như thế”. PGS. TS. Hồ Thế Hà

    “Giờ đây, từ trong ngôi đền thiêng của những nhân vật kiệt xuất nhất của lịch sử ViệtNam, Giáo sư Trần Đức Thảo cùng với những người khác đồng hương khác của ông, những Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Trương Vĩnh Ký, v.v.. hẳn đang trìu mến nhìn ra bên ngoài, nơi có một ngôi miếu nhỏ cho ông mới được dựng lên thêm. Trong đó, có cả những ngọn nến lung linh ấm áp là trái tim của những người trẻ tuổi ngưỡng mộ và trân kính ông, là những giọt nước mắt mặn nóng vẫn nhỏ xuống khi nghĩ về ông, về thân phận của người trí thức đồng hành cùng lịch sử vất vả của dân tộc”. TS. Nguyễn Đức Thành

    “Nguyễn Trung Kiên đã có cơ duyên tiếp xúc gần như toàn bộ hàng vạn trang bản thảo mà Giáo sư Trần Đức Thảo để lại cho hậu thế, trong thời gian anh được làm việc chung với Tiến sĩ Triết học Cù Huy Chử - người gần gũi với Giáo sư trong nhiều thập niên và đang lưu giữ kho tư liệu quý giá của Giáo sư. Từ đó, anh đã dần hình thành nên cuốn sách này, cùng sự giúp sức to lớn của các tác giả trong và ngoài nước. Xin được ghi nhận tấm lòng nhiệt thành của người biên soạn”. Nhà báo Nguyễn Đình Trung

    * * *

    "TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO: DI CẢO, KHẢO LUẬN, KỶ NIỆM"

    Nguyễn Trung Kiên (Sưu tầm & Biên soạn)
    (NXB Đại học Huế, 2015, sắp xuất bản)

    TỰ BẠCH CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP

    “Những tư tưởng… của các triết gia chính trị, dù đúng hay sai, đều mạnh hơnnhững gì ta tưởng. Quả thật, thế giới này chủ yếu chịu sự chi phối của những tưtưởng đó”. ([1])

    John Maynard Keynes (1883–1946)

    I

    1. GIÁO SƯTRẦN ĐỨC THẢO LÀ NHÀ TRIẾT học lớn của thế kỷ XX. Sự nghiệp nghiên cứu triết học và cuộc đời dấn thân chính trị của ông đã tương tác, cọ xát:

    - Với nhiều truyền thống và trường phái triết học khác nhau: triết học Hy Lạp cổ đại, triếthọc Hegel, chủ nghĩa Marx, hiện tượng luận Husserl, tư duy siêu hình, chủ nghĩaduy tâm, chủ nghĩa hiện sinh, thuyết phân tâm, chủ nghĩa cấu trúc, phái “lý luậnkhông có con người”...;

    - Với nhiều ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau: triết học phương Tây từ cổ đại đến đương đại,nhận thức luận, mĩ học, logic học, sinh học, khoa học thần kinh, sửhọc, khảo cổ học, nhân chủng học, dân tộc học, tâm lý động vật học, tâm lý họctrẻ em, luận phân tâm, ngôn ngữ học, kinh tế chính trị học, xã hội học, văn hóahọc...;

    - Với nhiều khuynh hướng và xu thế chính trị khác nhau: thuộc địa, giải phóng thuộc địa, hậuthuộc địa, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phát–xít, chủ nghĩa cộngsản, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa toàn trị của Stalin và Mao Trạch Đông…;

    - Với nhiều nhà triết học, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà hoạt động chính trị tại ViệtNam, Pháp, Đức, Mỹ, Liên Xô, Tiệp Khắc...

    2. Có thể nói, hành trình triết học của Giáosư Trần Đức Thảo đã phần nào phản ánh những bước thăng trầm của triết học Phápvà phương Tây suốt thế kỷ XX, khởi nguồn từ hiện tượng luận, qua chủ nghĩa hiệnsinh, đến chủ nghĩa cấu trúc và sau đó là sự bùng nổ của chủ nghĩa hậu cấu trúcvà chủ nghĩa hậu hiện đại, với sự đan cài, tương tác đa diện, đa chiều với nhiềutruyền thống, trường phái, khuynh hướng và xu thế trong triết học và khoa họcxã hội - nhân văn, như chủ nghĩa Marx, luận phân tâm, phái “lý luận không cócon người”... Hành trình triết học này của Giáo sư đã diễn ra trong sự vận độngrất phức tạp của nền chính trị, xã hội và văn hóa đương đại của nước Pháp nóiriêng và của thế giới nói chung: trong sự điên loạn của chủ nghĩa phát–xít,trong khói lửa của cuộc Đại chiến thế giới lần thứ Hai, trong những tội ác chốngloài người không thể tưởng tượng nổi của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốcvà chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, trong sự đối đầu ý thức hệ của Chiến tranh Lạnh,trong những vấn đề toàn cầu tưởng chừng không thể giải quyết nổi bởi sự pháttriển của “chủ nghĩa tư bản toàn cầu” và “chủ nghĩa tân tự do” vào những thậpniên sau Chiến tranh Lạnh, và trong sự trỗi dậy của chủ nghĩa khủng bố quốc tếnhư là dấu hiệu sống động của một cuộc khủng hoảng lớn về bản sắc, giá trị vàtâm linh.

    3. Hàng nghìn trang bản thảo mà Giáo sư Trần ĐứcThảo để lại cho hậu thế chắc chắn sẽ là nguồn cảm hứng lớn lao cho các thế hệsau tiếp tục suy nghĩ, tìm tòi và phát triển, trong đó nổi bật lên một số vấn đềsau:

    - Trần ĐứcThảo là nhà hiện tượng luận thuộc “thế hệ thứ hai” sau Edmund Husserl, vừa tiếpnhận, vừa phản biện, vừa phê phán hiện tượng luận của Husserl, đưa hiện tượngluận phát triển lên tầm cao mới thông qua việc hướng hiện tượng luận tới cácgiá trị nhân văn, nhân bản của chủ nghĩa duy lý. Ông đã góp phần quan trọng đểhình thành và phát triển trường phái hiện tượng luận duy lý(phénoménologie rationaliste) nhằm tìm cái của các hiện tượng tinh thầntrong lịch sử như chính ông chủ trương, đồng thời tích hợp phương pháp hiện tượngluận với các thành tựu nghiên cứu mới của các ngành khoa học thực chứng khácnhau.

    - Trần ĐứcThảo, trên tinh thần phê phán chủ nghĩa hiện sinh, đã góp phần giúp giới triếthọc và trí thức phương Tây hiểu đúng hơn và bớt thành kiến với chủ nghĩa Marx.Đồng thời, ông đã kế thừa chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu trị về sựsống có ý thức, về nguồn gốc của tiếng nói và ý thức, về nguồn gốc loài ngườivà nguồn gốc dân tộc trên tinh thần nhân văn, nhân bản.

    - Trần ĐứcThảo, trưởng thành trong truyền thống triết học và khoa học xã hội Pháp, là mộttrong số rất ít các triết gia “phương Tây” nhấn mạnh đến vai trò của cảm xúc vàđời sống cảm xúc trong quá trình hình thành tiếng nói và ý thức, đặc biệt làquá trình chuyển hóa từ năng lượng thần kinh sang năng lượng tâm thần người,làm nền tảng để hình thành các giá trị nhân văn, nhân bản của xã hội loài người.

    - Trần ĐứcThảo là người đầu tiên thống nhất logic hình thức và logic biệnchứng thành logic hình thức–biện chứng, và sử dụng logic hình thức–biệnchứng như một công cụ mang tính đột phá để nghiên cứu về nguồn gốc và quá trìnhtiến hóa của sự sống, về nguồn gốc tiếng nói và ý thức con người.

    - Trần ĐứcThảo, thông qua tác phẩm cuối đời, Sự logic của thời Hiện tại sống động,đã góp phần chấm dứt sự tranh cãi triền miên giữa hai trường phái duy vật vàduy tâm trong triết học. Theo ông, duy vật và duy tâm chỉ là hai mặt của một vấnđề. Trên cơ sở đó, ông đã hình thành và hoàn thiện chủ nghĩa duy vật biện chứngnhân bản, xây dựng lý thuyết về cái trung giới, đồng thời đấu tranhkhông khoan nhượng với các trường phái, trào lưu triết học và khoa học xã hộiphủ nhận các giá trị nhân văn, nhân bản của con người như luận phân tâm, chủnghĩa cấu trúc, phái “Lý luận không có con người”...

    - Trần ĐứcThảo, với tư cách là nhà trí thức dân tộc và trí thức dấn thân, cùng với lòngyêu nước và tinh thần phụng sự Tổ quốc, với bản lĩnh của một nhà khoa học chânchính, luôn trung thực với chính mình và với cuộc đời, luôn nuôi dưỡng tinh thầnphản biện xã hội và phản biện với chính bản thân để vươn lên những đỉnh cao mớicủa khoa học.

    - Trần ĐứcThảo với tư cách là một trí thức dân tộc và trí thức dân thân, cùng với nhữngkhó khăn, thử thách lớn của thời đại mà ông phải vượt qua đã để lại cho hậu thếnhiều bài học lớn: về vai trò của giới trí thức và trí thức tinh hoa trong sựnghiệp Khai sáng và tiến trình hiện đại hóa tư duy của dân tộc, về vaitrò của tư duy tự do và tinh thần phản biện đối với sự phát triển của khoa họcvà giáo dục...

    - Trần ĐứcThảo, với kiến thức bách khoa và tình yêu sâu đậm đối với lịch sử dân tộc, vớiTổ quốc và con người Việt Nam, đã để lại hàng nghìn trang bản thảo tiếng Việt,bàn về nhiều vấn đề lớn của triết học, khoa học và lịch sử dân tộc. Những trangbản thảo này, tự chúng, là một đóng góp lớn trong việc hiện đại hóa tiếng Việtvà chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ tiếng Việt.

    4. Học tập, nghiên cứu và sáng tạo triết họctrong bối cảnh đầy phức tạp như vậy, nên với tri thức uyên bác, tư duy phê phánmạnh mẽ, trực giác đầy nhạy cảm và sự trung thực trong khoa học của mình, Giáosư Trần Đức Thảo đã sớm nhận thấy rằng: “toàn bộ tổ chức tư duy của nền triết họcphương Tây, dựa trên chuẩn thức của Descartes đang đi vào ngõ cụt, dẫn đếnsự rạn vỡ đầy bế tắc của tri thức luận nhân loại. Cái chuẩn thức đó chia táchchủ thể (ego cogitans) với khách thể (res extenca), chia tách triếthọc và khoa học, chia tách người quan sát và đối tượng quan sát... Cái chuẩn thứcđó dẫn dắt nền triết học chỉ biết lạnh lùng tập trung toàn bộ năng lượng củamình hướng ra phía bên ngoài (hướng ngoại) mà mất hẳn sự xúc động, khôngcòn khả năng hướng vào đời sống tâm linh (hướng nội). Cho đến những nămtháng này, quy luật tiến hóa tổng thể của sự sống đã bắt nền triết học đó phảiđương đầu giải quyết những vấn đề vượt quá sức của mình. Một nền triết học đãcó công lao to lớn lay động, thức tỉnh loài người, trớ trêu thay lại rơi vàocái bẫy do chính nó đặt ra. Một cái bẫy được giăng mắc bởi tư duy đơn giản kiêungạo, chỉ có thể hòa giải, đối thoại, nhận biết được những mảnh vụn rời rạc củamột thế giới Hiện tại sống động, kỳ ảo, ào ạt đan dệt sự trật tự, minh bạch,sáng rõ lẫn sự hỗn độn, bất định, rối ren mơ hồ… Trần Đức Thảo là một người ViệtNam được chọn, đã nhận được lời mách bảo thì thầm đầy minh triết của tổtiên, đã nhận được một nguồn năng lượng bí ẩn của vũ trụ để tổ chức lại tưduy của mình theo một phương cách tư duymới được gọi tên là tư duy phức hợp (pensée complexe). Ông đã bướcđầu cố gắng hòa giải triết học và khoa học. Ông đã khiêm nhường nghiêng mìnhtrước bí mật vô song, huy hoàng trên con đường vừa tự phá hủy vừa tự tổ chức củađời sống tâm linh và sự sống tổng thể vũ trụ” [CHÍNH, Nguyễn Đình (2007)].

    II

    5. Trong bối cảnh ấy, cuốn sách này ra đời nhưlà một trong những công việc cụ thể hướng tới việc tổ chức bộ máy và nguồn lựcđể tiến hành dịch thuật, hiệu đính lại bản dịch các tác phẩm của Giáo sư Trần ĐứcThảo, làm cơ sở xuất bản Tổng tập Trần Đức Thảo vào năm 2017, kỷ niệm100 năm ngày sinh của Giáo sư (26/9/1917 – 26/9/2017).

    6. Cuốn sách này được chia làm ba phần chính,tương ứng với ba nội dung liên quan đến Giáo sư: 1) Di cảo, 2) Khảoluận, 3) Kỷ niệm. Trong đó:

    - Phần 1)Di cảo: Giới thiệu bản Hồi ký Triết học và một số bài nghiên cứu,báo cáo khoa học tiêu biểu của Giáo sư Trần Đức Thảo, trong đó phần lớnlà các tài liệu được công bố lần đầu tiên, hoặc các tài liệu được tác giả sửachữa, bổ sung sau khi đã công bố. Các di cảo này gồm ba nội dung lớn: một là,tiểu sử, lý lịch và báo cáo công tác của Giáo sư Trần Đức Thảo; hai là,các bài nghiên cứu, bài giảng và báo cáo khoa học của Giáo sư về các vấn đề lớncủa hiện tượng luận, triết học mác-xít và các nghiên cứu liên ngành của Giáo sưvề nguồn gốc của tiếng nói và ý thức; ba là, các bài viết của Giáo sư vềlịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc.

    - Phần 2)Khảo luận: Tập hợp các bài viết, hoặc toàn diện, hoặc liên quan đến mộthoặc một số nội dung về các luận điểm triết học của Trần Đức Thảo. Phần này baogồm bốn nội dung chính: một là, các bài giới thiệu tổng quan về triết họcTrần Đức Thảo; hai là, các bài giới thiệu về những đóng góp lớn của Giáosư trong các nghiên cứu về hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng; balà, các bài giới thiệu những nghiên cứu của Giáo sư về nguồn gốc của tiếngnói và ý thức; bốn là, các bài giới thiệu hai nghiên cứu đặc biệt quantrọng trong những năm cuối đời của Giáo sư tại Paris: Những nghiên cứu vềcác mối liên hệ biện chứng, và Sự logic của thời Hiện tại sống động.

    - Phần 3)Kỷ niệm: Tập hợp các bài viết liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp và kỷ niệmvề Giáo sư Trần Đức Thảo từ khi ông qua đời đến nay, và các bài tường thuật mộtcuộc tọa đàm (tại Hà Nội năm 2010), và hai cuộc hội thảo (tại Paris năm 2012, tạiHà Nội năm 2013) về Giáo sư Trần Đức Thảo, để khẳng định: Triết học Trần Đức Thảolà Triết học của tương lai.

    - Cuốnsách còn có phần Vĩ thanh, gồm bài trường ca “Công án Giọt nước” của nhàthơ Anh Vũ, như một nốt lặng để tạm khép lại tập sách này và tạo cảm hứng chocác nghiên cứu mới về Trần Đức Thảo trong tương lai.

    7. Do thời gian có hạn, tôi chưa có điều kiệnxin phép các Tác giả và Dịch giả để sử dụng các bài viết, bài dịch trong cuốnsách này. Tôi xin trân trọng gửi lời tri ân tới các Tác giả và Dịch giả – nhữngngười đã thực sự góp phần làm nên cuốn sách này, đồng thời mong nhận được sự cảmthông của họ. Kính mời các tác giả, dịch giả hoặc người đại diện liên hệ vớiNhà xuất bản để chúng tôi có cơ hội thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm liênquan đến quyền tác giả.

    8. Ngoài ra, tôi xin mạn phép một số tác giả và dịch giả được chỉnh sửa mộtsố thuật ngữ và biên tập một số từ trong các bài nghiên cứu và bản dịch của họ được sử dụngtrong cuốn sách này, trên tinh thần:

    - Hoặctham khảo các tác phẩm bằng tiếng Việt của Giáo sư, đặc biệt là bản Hồi kýTriết học (1989) và các báo cáo khoa học của Giáo sư (ví dụ: hiện tượngluận thay vì hiện tượng học; hiện tại sống động thay vì hiệnthực sống động; luận phân tâm thay vì phân tâm học; phức cảmŒdipe thay vì mặc cảm Œdipe,...), để phù hợp với nội dung của toàn bộcuốn sách.

    - Hoặc đốichiếu với các thuật ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong hơn tám thập kỷ của nềndịch thuật Việt Nam hiện đại (ví dụ: Hệ tư tưởng Đức, thay vì Ý thứchệ Đức), để phù hợp với tri thức chung của bạn đọc;

    - Hoặcbiên tập lại lối nói cũ của miền Nam từ trước năm 1975 (ví dụ: xuất phátthay vì phát xuất), để phù hợp với ngôn ngữ chung.

    - Phù hợpvới giai đoạn lịch sử hiện nay của nước ta.

    Vềtrích nguồn tài liệu trong các bài, nếu các nguồn tài liệu đó trùng với nguồntrong sách này, thì các trích nguồn đó sẽ được tham chiếu với “Tài liệu tham khảo”ở cuối sách (tr. 1573-1599).

    9. Tôi nhận thức sâu sắc và kỳ vọng rằng, nhữngbiên tập này sẽ tạo ra các tranh luận khách quan, trong sáng, học hỏi lẫn nhau,để chúng ta sớm có được hệ thống thuật ngữ tiếng Việt chuẩn trong triết học vàcác ngành khoa học xã hội - nhân văn. Tôi cũng thiết tha mong các bậccao minh chỉ giáo thêm, để chúng ta sớm có được một hệ thống thuật ngữ củaTrần Đức Thảo chuẩn mực, nhằm phục vụ công việc dịch thuật, nghiên cứu vàtruyền bá các tác phẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo trong tương lai.

    10. Trong quá trình sưu tầm và hệ thống hóa cáctác phẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo, chúng ta còn thiếu hai văn bản quan trọng: mộtlà, luận án thạc sĩ của Giáo sư tại Trường Đại học Sư phạm phố d’Ulm vàonăm 1943; hai là, bản tốc ký cuộc trao đổi triết học nổi tiếng giữa Giáosư với nhà triết học hiện sinh Jean–Paul Sartre. Hi vọng một ngày nào đó, với sựđóng góp của đông đảo bạn đọc gần xa, hai văn bản này (và có thể là những bảnthảo, thư từ, bút tích, ảnh tư liệu... khác của Giáo sư) sẽ được bổ sung vào Thưkhố Trần Đức Thảo (Archives de Trân Duc Thao), làm cơ sở để xuất bản Tổng tập Trần Đức Thảo trong tương lai

    III

    11. Cuốn sách này được hình thành và hoàn thiện trong một thời gian hơn 12năm (hơn một Kỷ), được khởi đầu từ một lời đề tặng sách. Đây là một chặng đườngdài, giống như một chuyến “hành hương”, với rất nhiều cơ duyên, hạnh ngộ và nhữngngẫu nhiên kỳ lạ của số phận:

    - Năm2000, anh trai tôi là Nguyễn An Nguyên sang Mỹ làm tiến sĩ kinh tế. Trước khiđi, anh giới thiệu tôi với một người bạn của anh là anh Nguyễn Đức Thành (lúcđó đang là học viên của Chương trình Cao học Kinh tế phát triển Việt Nam – HàLan), nhờ anh Thành “dìu dắt” tôi trên con đường tự học và tự nghiên cứu. Từđó, anh Nguyễn Đức Thành vừa là một người thầy, người anh và người bạn vongniên của tôi. Lúc ấy, anh đang tiến hành dịch thuật tác phẩm kinh điển Nhữngnguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa của David Ricardo, nhàkinh tế học cổ điển vĩ đại người Anh. Chúng tôi đã có những tháng ngày tuổi trẻthật đẹp, say sưa và sôi nổi “cùng nhau đi dạo dưới rặng ô-liu để ban tặng chonhau lòng yêu mến sự thông thái” trong khuôn viên rợp mát của Thư viện Quốc giaViệt Nam, đàm luận về triết học, lịch sử và văn chương...

    - Năm2001, tôi được anh Nguyễn Đức Thành tặng cuốn sách Vấn đề con người và chủnghĩa Lý luận không có con người” của Giáo sư Trần Đức Thảo, nhân dịpsinh nhật lần thứ 21 của tôi, với lời đề tặng chân tình mà cảm động: “...hãy noi gương tác giả cuốn sách này, vì đó là vị Thầy của chúng ta”. Sauđó, tiếp theo những năm tháng của “tuổi hai mươi yêu dấu”, khi được tiếp xúc vớicác tác phẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo và các bậc tiên hiền của hai truyền thốngtriết học Đông – Tây, tôi đã nhận ra rằng bên cạnh thế giới vật chất mà chúngta đang sống, còn có một thế giới trải qua hàng triệu năm tiến hóa, mà nói theongôn ngữ của Aristotle, là một thế giới đáng để chinh phục hơn cả. Đó chính là“thế giới bên trong” ẩn sâu trong linh hồn của mỗi chúng ta. “Thế giới bêntrong” này rộng lớn mênh mông và sâu thăm thẳm, tràn đầy khát vọng tự do, khátkhao hướng thượng, thao thức nội tâm, ước mơ trai trẻ, mộng đẹp không thành,băn khoăn rạo rực, xa lìa thương nhớ, tràn đầy những hạnh phúc và khổ đau, yêuthương và thù hận, hi vọng và tuyệt vọng, sáng tạo và hủy diệt..., và hơn hết,đó là cửa ngõ để đưa chúng ta trở về với Thượng đế. Đó cũng là một thế giới màGiáo sư Trần Đức Thảo đã dành cả cuộc đời đầy giông bão của mình để tự chinh phục,và qua đó để lại cho hậu thế hàng vạn trang bản thảo và tấm gương sáng của mộtbậc đại trí thức của dân tộc Việt.

    - Cuốinăm 2004, tôi về công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái Nhân văn Vùng cao(CHESH), thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, do Kỹ sư sinh họcTrần Thị Lành làm Chủ tịch sáng lập. Một thời gian ngắn sau đó, qua sự tình cờngẫu nhiên, tôi được biết bà Trần Thị Lành là con gái của thầy giáo nổi tiếngTrần Quốc Nghệ của đất Hà Tĩnh. Cụ Trần Quốc Nghệ lúc sinh thời là bạn thân củaGiáo sư Trần Đức Thảo. Sau khi Giáo sư Trần Đức Thảo rời Hà Nội vào TP. Hồ ChíMinh để làm việc và sinh sống (năm 1986), nghe lời khuyên của cha, bà Trần ThịLành đã mua lại căn nhà của Giáo sư Trần Đức Thảo tại B6, Khu tập thể Kim Liên(Hà Nội) để giữ làm kỷ niệm. Tôi đã có niềm hạnh phúc được sống và làm việctrong căn nhà cũ của Giáo sư Trần Đức Thảo một thời gian ngắn vào cuối năm2005. Cũng trong thời gian này, qua các mối liên hệ công tác, tôi đã có nhiều dịpgặp gỡ và đàm luận với ông Nguyễn Đình Anh (khi đó là chuyên viên cao cấp của BộTài chính) – người có thời gian gần gũi với Giáo sư Trần Đức Thảo tại Hà Nội,và được ông hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tiếp cận một cách hệ thống và bài bảnhơn về triết học Trần Đức Thảo.

    - Tháng3/2006, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thành Hưng (khi đó là Tổng Biên tập Nhà xuấtbản Đại học Quốc gia Hà Nội) ra mắt cuốn sách Triết gia lữ hành Trần Đức Thảodo ông chủ biên. Với tấm lòng trân trọng Giáo sư Trần Đức Thảo và tri ânngười chủ biên, tôi đã cùng ông Phạm Thành Hưng, nhà nghiên cứu Nguyễn Vi Khảivà nhà báo Trần Ngọc Quang tổ chức buổi giới thiệu cuốn sách trên tại Thư việnQuốc gia Việt Nam vào ngày 31/5/2006, với sự bảo trợ của ông Phạm Thế Khang(Giám đốc Thư viện). Trước đó, tôi đã cùng nhà báo Trần Ngọc Quang đến thắphương cho Giáo sư Trần Đức Thảo tại mộ của Giáo sư ở Nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội),và xin phép Giáo sư được góp phần nhỏ bé để phục hưng di sản triết học của Giáosư. Trong buổi giới thiệu sách tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, qua lời kể của nhàvăn Đỗ Chu, tôi được biết Giáo sư Trần Đức Thảo có người cháu ruột là Bác sĩ TrầnĐức Tùng đang sinh sống và làm việc tại Biên Hòa (Đồng Nai).

    - Cuốinăm 2006, qua danh bạ điện thoại của tỉnh Đồng Nai trên mạng Internet, tôi đãtìm được số điện thoại nhà riêng của bác sĩ Trần Đức Tùng. Một thời gian ngắnsau đó, tôi đã đến thăm bác sĩ Trần Đức Tùng và được ông giới thiệu với Tiến sĩtriết học Cù Huy Chử (em trai nhà thơ Cù Huy Cận), người đang lưu giữ, hệ thốnghóa gần như toàn bộ Di cảo của Giáo sư Trần Đức Thảo và dành nhiều thập niên đểnghiên cứu, phục hưng và chuyển giao di sản triết học của Giáo sư Trần Đức Thảocho hậu thế. Vào đầu những năm 1960, ông Cù Huy Chử là thành viên Tổ thư ký củaThủ tướng Phạm Văn Đồng. Cứ cuối mỗi tuần, ông Chử lại đạp xe lọc cọc từ Phủ Thủtướng về Khu tập thể B6 Kim Liên (Hà Nội) để lấy những trang bản thảo viết taycủa Giáo sư Trần Đức Thảo được viết tay trên những trang giấy năm hào hai,từ các cuốn sổ tay cũ sờn, bàn về những vấn đề lớn và hệ trọng của triết học vàkhoa học, mang về Phủ Thủ tướng nhờ Tổ đánh máy để nhờ anh em đánh máy giúp vàtrả công họ bằng những bao thuốc Điện Biên bao bạc (trích từ “chế độ” tem phiếu của ông Chử)... Và những trang bản thảo đánh máy ấy được đíchthân ông Phạm Văn Đồng lặng lẽ gửi sang Paris theo đường ngoại giao rồi íttháng sau công bố trên các tạp chí triết học hàng đầu của Pháp...

    - Đầu năm2007, tôi đã ghé thăm Tiến sĩ Cù Huy Chử tại nhà riêng của ông tại Quận Thủ Đức(TP. Hồ Chí Minh), đồng thời phỏng vấn ông về triết học Trần Đức Thảo và quátrình lưu giữ, khai thác bản thảo Trần Đức Thảo của ông. Bài trả lời phỏng vấnnày đã được nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn (khi đó là Phó Tổng Biên tập tuần báo Vănnghệ) cho đăng trên báo Văn nghệ Trẻ, và được đăng lại trên Mạng talawas.

    - Giữanăm 2007, tôi được cùng Tiến sĩ Cù Huy Chử phân loại, hệ thống hóa nhiều nghìntrang bản thảo mà Giáo sư Trần Đức Thảo để lại cho hậu thế. Cũng trong thờigian này, tôi có dịp tiếp cận một cách toàn diện và hệ thống về triết học TrầnĐức Thảo thông qua việc tiếp xúc trực tiếp các văn bản trong Di cảo của Giáo sưTrần Đức Thảo, cũng như qua những buổi đàm luận với Tiến sĩ Cù Huy Chử và contrai ông là Luật sư Cù Huy Song Hà. Đây cũng là quãng thời gian giúp tôi hìnhdung những nét phác thảo đầu tiên về cuốn sách này.

    - Cuốinăm 2008, tôi được tiếp xúc và đàm luận với nhà văn Nguyễn Đình Chính (con traicủa nhà văn Nguyễn Đình Thi), người có nhiều kỷ niệm với Giáo sư Trần Đức Thảo.Tôi đã học hỏi được nhiều từ những kiến giải mới mẻ của ông về triết học Trần ĐứcThảo, và đến nay vẫn được ông động viên, hỗ trợ để hoàn thành cuốn sách này.

    - Đầu năm2012, tại trụ sở của Công ty Cổ phần Truyền thông Đông Kinh, với sự bảo trợ củacác ông bà Nguyễn Đình Trung, Nguyễn Thị Sỹ, Chu Bỉnh Ngọc, Chu Minh Tuấn, tôiđã tổ chức một cuộc gặp gỡ với những người tâm huyết với Di sản triết học TrầnĐức Thảo, với sự tham dự của nhà thơ Việt Phương, nhà văn Nguyễn Đình Chính, Tiếnsĩ Chu Hảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thành Hưng, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, ôngNguyễn Đình Anh... để xây dựng phương án tổ chức dịch thuật và xuất bản các tácphẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo.

    - Giữanăm 2012, tôi được cùng Tiến sĩ Cù Huy Chử tham gia biên tập công trình cuối đờicủa ông: Triết gia Trần Đức Thảo – Biển quê hương dạt dào và trầm tư triết học(NXB Lao động, 2012). Nhiều bài nghiên cứu trong công trình rất công phu vàtâm huyết trên của ông đã được sử dụng lại trong cuốn sách này.

    - Sau khicông trình của Tiến sĩ Cù Huy Chử được xuất bản, ông Lê Huy Hòa (lúc đó là Giámđốc – Tổng Biên tập NXB Lao động) đã đề xuất tôi đứng ra chủ biên cuốn sách này.Tôi đã dành gần trọn vẹn gần ba năm 2013 - 2015 để hệ thống hóa tư liệu, dịchsang tiếng Việt một số bài nghiên cứu về Giáo sư Trần Đức Thảo của các tác giảnước ngoài, tiếp xúc và học hỏi các bậc cao minh... để cuốn sách có thể sớm đếntay bạn đọc. Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn và Luật sư Cù Huy Song Hà đã giúp đỡtôi rất nhiều để chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ triết học; đồng thời, Thạc sĩ TrịnhThúc Huỳnh và Ban Bên tập Nhà xuất bản Đại học Huế đã giúp tôi chuẩn hóa cuốnsách theo đúng quy chuẩn của nghiệp vụ xuất bản. Cũng trong thời gian này, tôiđược Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành hỗ trợ, động viên rất nhiều cả vật chất lẫn tinhthần để bản thảo tiếp tục hoàn thiện sau từng phiên bản khác nhau.

    - Năm2014, tôi vào Sài Gòn thắp hương cho ông Cù Huy Chử (ông đã mất năm 2012) vàxin phép gia đình ông để hoàn thiện tập bản thảo Triết gia Trần Đức Thảo: Dicảo, Khảo luận, Kỷ niệm này. Tôi đãđược gia đình ông Chử tin cậy gửi gắm toàn bộ số sách tham khảo của Giáo sư TrầnĐức Thảo để lưu giữ làm kỷ niệm cho hậu thế. Tôi đã chuyển giao toàn bộ số sáchtham khảo này của Giáo sư cho Thư viện của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chínhsách (VEPR) do Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành làm Viện trưởng để bảo quản và khaithác, hướng đến việc xây dựng một Bảo tàng về trí thức Việt Nam hiện đại.

    - Trongsuốt năm 2014-215, tôi tiếp tục chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ, bổ sung các bàiviết mới để cuốn sách thêm hoàn thiện. Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành vẫn tiếp tục hỗtrợ tôi cả vật chất lẫn tinh thần để cuốn sách được hoàn thiện. Tôi cũng đượcnhà giáo Trương Đức Thành (Huế), nhà báo Trần Ngọc Quang (Bắc Giang) vàông Hà Huy Chiến (Hà Nội) hỗ trợ trong quá trình quảng bá cuốn sáchnày. Đồng thời, lãnh đạo và biên tập viên Nhà xuất bản Đại học Huế đã hỗ trợtôi rất nhiều để cuốn sách được hoàn thiện. Đầu năm 2015, tôi đã cùng nhà báoTrần Ngọc Quang mang bản thảo cuốn sách đến thắp hương và báo cáo với Giáo sưTrần Đức Thảo tại phần mộ của Giáo sư ở Nghĩa trang Văn Điển (Hà Nội).

    - Vào giữanăm 2014, qua mạng xã hội Facebook, tôi đã làm quen với một cô gái có cái tên rấtdễ thương là Trần Thị Thắm, lúc đó tuy đang theo chương trình Cao học Quản trịkinh doanh tại Đại học Ngoại thương Hà Nội, nhưng lại có một tâm hồn đầy lãng mạn,yêu văn chương nghệ thuật. Tôi đã nhờ cô gái ấy đọc bông lần cuối cho cuốnsách này. Và đến tháng 6/2015 vừa rồi, cô gái ấy đã trở thành mẹ của người congái đầu lòng Nguyễn Nguyệt Minh bé bỏng của chúng tôi.


    IV.

    12. Đây là cuốn sách góp phần xây dựng “Tủ sáchTriết Việt”. Tủ sách này, bên cạnh việc xuất bản và tái bản các tác phẩm, dịchphẩm của Giáo sư Trần Đức Thảo, cũng sẽ dần giới thiệu với bạn đọc các tác phẩmkinh điển và công trình nghiên cứu về triết học Đức, Pháp hiện đại nói riêng vàtriết học phương Tây hiện đại nói chung, cũng như những tên tuổi lớn của nềntriết học này (những tên tuổi có liên hệ với Trần Đức Thảo), như: Kant, Hegel,Edmund Husserl, Jean Hyppolite, Alexandre Kojève, Maurice Merleau–Ponty, Jean–Paul Sartre,Roger Garaudy, Raymond Aron, Edgar Morin, Louis Althusser, Jacques Derrida,Jean–François Lyotard… Như một nhà nghiên cứu từng nói, có thể trình bày lịch sửtriết học hiện đại trong thế kỷ XX như là lịch sử của các khuynh hướng, trườngphái ủng hộ và chống đối hiện tượng luận. Trên tinh thần ấy, tôi nghĩ rằng, vớitư cách là “nhà triết học liên văn hóa” (theo lời của Paul Majkut, nhà triết họcTiệp Khắc), Trần Đức Thảo và tư tưởng triết học của ông còn nhiều điều cần giảimã, và một trong những “mã số” ấy là mối quan hệ về tư tưởng và học thuật, trêntinh thần vừa tiếp nhận, vừa phát triển, vừa phê phán, vừa ảnh hưởng trở lại củatriết học Trần Đức Thảo với những đại biểu ưu tú nhất của triết học và khoa họcxã hội Pháp và phương Tây hiện đại nói chung, cũng như vị trí “đặc biệt” của TrầnĐức Thảo trong tiến trình tiếp biến và phát triển của hiện tượng luận tại Phápnói riêng.

    13. Tôi hi vọng cuốn sách sẽ giúp bạn đọc hìnhdung một cách khái quát về triết học Trần Đức Thảo, đặc biệt là hành trình tưtưởng của Giáo sư, khởi nguồn từ hiện tượng luận Husserl, qua triết học Hegel,đến chủ nghĩa Marx, rồi kết tinh thành chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản,trên cơ sở tự vấn khoa học nghiêm túc và thường xuyên của Giáo sư, trên tinh thầnđấu tranh không khoan nhượng với những mặt hạn chế của tư duy siêu hình, chủnghĩa duy tâm, triết học hiện sinh, thuyết phân tâm, chủ nghĩa cấu trúc, phái“lý luận không có con người”..., cũng như từ quá trình cập nhật, bổ sung nhữngthành tựu nghiên cứu mới từ nhiều ngành khoa học khác nhau của ông. Đồng thời,cuốn sách sẽ phần nào cung cấp tư liệu cho các nghiên cứu mới về triết học TrầnĐức Thảo trong tương lai.


    V.

    14. Cuốn sách này là kết quả của công sức, trítuệ và tâm huyết của gần 60 tác giả và dịch giả, cũng như sự đóng góp về vật chấtvà tinh thần của nhiều người, trong đó có cả những người đã khuất. Trước hết,tôi xin được bày tỏ tấm lòng tri ân đặc biệt với Tiến sĩ Triết học–Mĩ học CùHuy Chử (1936–2012) – em trai Thi sĩ Cù Huy Cận, nguyên Thành viên Tổ thư ký củaThủ tướng Phạm Văn Đồng, và là Thư ký khoa học tự nguyện của Giáo sư Trần ĐứcThảo trong suốt gần 40 năm, cùng vợ ông là Kỹ sư Bùi Ngọc Noãn và con trai củaông là Luật sư Cù Huy Song Hà. Tiến sĩ Cù Huy Chử cùng những người thân tronggia đình ông đã truyền cảm hứng và hướng dẫn tận tình để tìm hiểu một cách hệthống về di sản triết học Trần Đức Thảo. Tôi cũng xin cảm ơn Bác sĩ Trần ĐứcTùng – cháu ruột của Giáo sư Trần Đức Thảo, người luôn cổ vũ, động viên tôitrong quá trình nghiên cứu và sưu tầm tư liệu cho cuốn sách này. Đồng thời, tôicũng xin được gửi sự tri ân sâu sắc tới cha tôi là nhà báo Nguyễn Đình Trung(nguyên Phó Tổng Biên tập báo Sinh viên Việt Nam – Hoa học trò), mẹ tôilà nhà báo Nguyễn Thị Sỹ (nguyên Trưởng phòng Phát hành báo Sinh viên ViệtNam – Hoa học trò), anh trai tôi là Tiến sĩ Nguyễn An Nguyên và vợ tôi làThạc sĩ Trần Thị Thắm vì đã hỗ trợ tôi trong suốt thời gian sưu tầm tư liệu vàtự nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng triết học của Giáo sư Trần ĐứcThảo.

    Trongsuốt thời gian hoàn thiện cuốn sách này, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, giúpđỡ và động viên của: Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (Viện trưởng Viện nghiên cứu Kinhtế và Chính sách (VEPR), Đại học Quốc gia Hà Nội), bà Trần Thị Lành (Chủ tịchsáng lập Viện Nghiên cứu Sinh thái Chính sách Xã hội (SPERI), người hiện đanglưu giữ Kỷ vật Ngôi nhà của Giáo sư Trần Đức Thảo tại B6, Khu tập thể Kim Liên,Hà Nội), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Thành Hưng (nguyên Tổng Biên tập NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội), nhà báo Trần Ngọc Quang (Bắc Giang), ông Nguyễn Vi Khải(nguyên Thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ), ông Phạm Thế Khang(nguyên Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam), nhà thơ Việt Phương (nguyên Thưký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng), Giáo sư Đặng Xuân Kỳ (con trai của Tổng Bí thưTrường Chinh, nguyên Viện trưởng Viện Mác–Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh), Giáosư Đinh Xuân Lâm (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội),nhà văn Đỗ Chu (Hà Nội), Giáo sư Nguyễn Đình Chú (Khoa Văn, Đại học Sư phạm HàNội), họa sĩ Nguyễn Quang Vinh (nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng), ông BùiQuang Đoài (nhà văn Thái Vũ), ông Lê Văn Bài, ông Đoàn Minh Tân (các học trò cũcủa Giáo sư Trần Đức Thảo tại TP. Hồ Chí Minh), ông Nguyễn Vũ Trung (Công tyVNDirect), nhà báo Phạm Công Luận (Báo Sinh viên Việt Nam), nhiếp ảnhgia Vũ Hải Sơn (TP. Hồ Chí Minh), ông Trần Trọng Tân (nguyên Trưởng Ban Tư tưởng–Vănhóa Trung ương), nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn (nguyên Phó Tổng Biên tập báo Vănnghệ), nhà văn Phạm Thị Hoài (chủ trì Diễn đàn talawas), nhà sử họcDương Trung Quốc (Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam,Tổng Biên tập Tạp chí Xưa & Nay), nhà văn Nguyễn Đình Chính (Hà Nội),ông Nguyễn Đình Anh (chuyên viên cao cấp, Bộ Tài chính), doanh nhân Tạ Thị NgọcThảo (Huế), nhà thơ Bàng Ái Thơ (Hà Nội), nhà thơ Anh Vũ (Bắc Giang), ông Chu BỉnhNgọc, ông Chu Minh Tuấn, bà Nguyễn Thị Bích Ngà (Hà Nội), ông Nguyễn Quang Hòa(báo Sinh viên Việt Nam), Th.S. Phùng Bá Lượng (Huế), chuyên gia địa chấtNguyễn Đức Tâm (TP. Hồ Chí Minh), bà Nguyễn Thị Ổn (Giảng viên của Tổ chức Phápngữ – AUF), dịch giả Bùi Văn Nam Sơn (TP. Hồ Chí Minh), Giáo sư Ngô Bảo Châu (cựusinh viên Đại học Sư phạm phố d’Ulm, giáo sư Toán tại Đại học Chicago, Hoa Kỳ),dịch giả Phạm Văn Thiều (tạp chí Vật lý & Tuổi trẻ), ông Nguyễn CảnhBình (Giám đốc Công ty Sách Alpha), Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Chuẩn (nguyênViện trưởng Viện Triết học), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hữu Tiến (Học viện Chínhtrị Quốc gia Hồ Chí Minh), Tiến sĩ Nguyễn Đức Truyến (Viện Xã hội học), ông Trịnh Ngọc Thái (nguyên Trưởng Ban Đối ngoại Trungương, nguyên Đại sứ của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tại Pháp), bà Nguyễn ThịBình (nguyên Phó Chủ tịch Nước, Chủ tịch Danh dự Hội Hữu nghị Việt–Pháp), nhàbáo Cao Xuân Nhật (Hà Nội), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hào Quang (nguyên Phó Việntrưởng Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương), ông NguyễnAn Tiêm (Vụ Phó Vụ Báo chí – Xuất bản, Ban Tuyên giáo Trung ương), ông Hà HuyChiến (Hà Nội), nhà giáo Trương Đức Thành (Huế), nhà văn Nguyên Ngọc (QuảngNam), ông Nguyễn Văn Ngọc (Hà Nội), ông Nguyễn Văn Trinh (Hà Nội), nhà nhiếp ảnhMỹ Dũng (Đà Nẵng), ông Nguyễn Thế Trung (Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốcđiều hành Công ty Cổ phần Công nghệ DTT), bà Vũ Lệ Thư (họa sĩ, Công ty Cổ phầnSách Alpha) và nhiều người khác, đặc biệt là sự hỗ trợ về chuyên môn và nghiệpvụ xuất bản của Thạc sĩ Trịnh Thúc Huỳnh (nguyên Giám đốc – Tổng Biên tập NXBChính trị quốc gia – Sự thật), ông Lê Huy Hòa (nguyên Giám đốc – Tổng Biên tậpNhà xuất bản Lao động), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Toàn (Giám đốc Đại họcHuế), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Quang Linh (Phó Giám đốc Đại học Huế), PhóGiáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng (Chủ nhiệm Khoa Triết học, Đại học Khoa học,Đại học Huế), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Thế Hà (Khoa Ngữ văn, Đại học Huế), Thạcsĩ Nguyễn Thanh Hà (Giám đốc Nhà xuất bản Đại học Huế), Tiến sĩ Hoàng Đức Khoa(Tổng Biên tập Nhà xuất bản Đại học Huế), ông Trần Bình Tuyên và bà Tôn Nữ QuỳnhChi (biên tập viên Nhà xuất bản Đại học Huế). Tôi xin trân trọng cảm ơn.

    15. Cuốn sách này được biên soạn trong hoàn cảnhtư liệu nghiên cứu còn hạn chế, hệ thống thuật ngữ chưa thống nhất, và do nănglực có hạn của người biên soạn, nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy,tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, trao đổi của bạn đọc, sự chỉ giáo củacác bậc cao minh để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản sau.Thư từ xin gửi về địa chỉ của Nhà xuất bản Đại học Huế, hoặc gửi vào email: [email protected].


    VI.

    16. Tôi nghĩ rằng, như người ta thường nói, cáctư tưởng lớn thường gặp nhau, và sự gặp gỡ này hẳn có nhiều tâm đắc. Trong tưtưởng của triết gia lớn bao giờ cũng lấp lánh một tâm hồn thi sĩ, và trong tâmhồn thi sĩ lớn bao giờ cũng thẳm sâu một tư tưởng triết học. Trong quá trìnhbiên soạn cuốn sách này, những vần thơ cuối đời của thi sĩ Tô Thùy Yên thỉnhthoảng lại trở về trong tôi, như một lời tâm tình, chia sẻ, động viên và an ủi:“Ta về qua những truông cùng phá, Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may, Ta ngẩnngơ trông trời đất cũ, Nghe tàn cát bụi tháng năm bay. Ta về như bóng chim quátrễ, Cho vội vàng thêm gió cuối mùa, Ai đứng trông vời mây nước cũ, Ngàn nămrâu tóc bạc phơ phơ. Ta về cúi mái đầu sương điểm, Nghe nặng từ tâm lượng đấttrời, Cảm ơn hoa đã vì ta nở, Thế giới vui từ mỗi lẻ loi. Ta về như lá rơi về cội,Bếp lửa nhân quần ấm tối nay, Chút rượu hồng đây xin rưới xuống, Giải oan chocuộc biển dâu này”...

    17. Những trăn trở, suy tư của triết gia Trần ĐứcThảo về sự logic của thời Hiện tại sống động, về quá trình chuyển dịch từlogic hình thức qua logic tiên nghiệm đến logic biện chứng,về biện chứng của quá trình tiến hóa của sự sống, về sự hình thành và bản chấtcủa con người, về biện chứng của sự chuyển hóa từ năng lượng thần kinh sangnăng lượng tâm thần người, về nguồn gốc của tiếng nói và ý thức, về động tác chỉdẫn như là một ký hiệu tiền ngôn ngữ, về sở hữu thời khởi nguyên, về hành trìnhtừ thú tính đến nhân tính sang sử tính, về biện chứng củasự chuyển hóa từ Tự nhiên lên Văn hóa thông qua lao động và sáng tạo của hàng vạnthế hệ cần lao, về nguồn gốc dân tộc Việt và thời kỳ Hùng Vương dựng nước, vềtruyền thống yêu nước và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam,… vẫn còn đó như một bảngiao hưởng bỏ dở, giúp chúng ta luôn tự truy vấn bản thân mình về những câu hỏivĩnh hằng để xác lập và tái xác lập giá trị, ý nghĩa và sứ mệnh của sự hiệnhữu làm người: “Anh là ai? Anh từ đâu đến? Và sẽ đi đến đâu? Cuộc sống này có ý nghĩa gì? Con người là gìđối với nhau? Đâu là cội nguồn của hạnh phúc và khổ đau? Đâu là tận cùng củacái Thiện và cái Ác? Liệu cái Đẹp có cứu chuộc được thế giới? Vì sao đóa quỳnhvẫn đang ngát hương trong sương đêm ướt đẫm? Vì sao con chim họa mi vẫn đanghót trong mưa rừng đại ngàn? Vì sao con suối vẫn đang rì rầm thủ thỉ tâm sự vớiđá núi ngàn năm? Vì sao dòng sông vẫn đang không ngừng thao thiết trôi ra biển?Vì sao con sóng biển vẫn miệt mài và mê mải vỗ vào bờ cát? Vì sao mây trắng vẫnđang thảnh thơi và thanh thản trôi trên bầu trời?”… Những câu hỏi ấy, giống nhưnhững tiếng hú của các bầy người nguyên thủy trong những cánh rừng già nhiệt đớicách đây nhiều triệu năm, thỉnh thoảng lại trở về trong ký ức sống động, trongnhững giấc mơ có thực của chúng ta, thật sự là một ngọn đuốc lửa dẫndắt chúng ta đi qua màn đêm dày đặc của Dục vọng, Bản ngã, Bạo động và Vô minh, giúp chúng ta thoát khỏi bi kịch khốn cùng của “những kẻ đã chết và sẽ chết màchưa từng được sống”.

    Hà Nội – Huế – Sài Gòn, 2001 – 2015
    Kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám.

    Lâm Vũ Nguyễn Trung Kiên

    ______________________

    [1] “The ideas of… political philosophers, both when they are right and when theyare wrong, are more powerful than is commonly understood. Indeed the world isruled by little else” (KEYNES, J. M. (1936). The General Theory ofEmployment, Interest and Money. Cambridge, UK: Cambridge University Press, p. 204).

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    He he, bớ ngài "quen-xít", ở dl tàn là các còm sĩ tình nguyện viên, lạng ra, lạng dô, ngứa mắt, ngứa tay, gõ lóch chóch lách chách, góp phần làm rối rắm thêm cái sự đời vốn dĩ đã nhiêu khê. Đa số bọn nì đêk có dzư thì giờ (là vàng ngọc) đi mọt cái triết lý của ngài Thảo, như uncle Hồ đã mọt cái triết lý Mác-Lê-xít rùi quăng lên trời hô ầm ĩ: Đã tìm ra chân lý, giải phóng Lừa.

    Tớ đề nghị ngài "quen-xít" tự tầm sư học đạo, dô hội đồng lý lận trung ương của đảng lừa, ra lệnh "như đinh đóng cột" cho chúng phải ngâm kíu triết lý của ngài Thảo. Hổng chừng qua thế kỷ sau, phát tán cũng còn sớm. "Đời ta đếk hiểu thì đời con cháu ta (sẽ) hiểu", hic. Con cháu ta sẽ muôn đời muôn kiếp "ơn bác và ơn đảng".
    Bi rờ, thế kỷ nì, tớ ước ao, ngài "quen- xít" nên mở rộng lòng từ bi hỉ mũi, bỏ qua cho bọn còm sĩ trên dl dà dl, đêk thèm chê trách chúng hết còm nì tới còm khác (dưới quá xá nhiều Nick Name) chi, cho đời mỏi mệt, cho tốn thì giờ (là vàng ngọc) của ngài nhá. Ngài "quen xít" nên "đầu tư" thì giờ của ngài như tớ đã đề nghị. Một vốn mười lời như "bọn lợi ích nhóm". Rứa mới nà "có còn hơn không".
    "Vạn lần" tri ơn :) :)

    Tôi đọc bài này cũng tháy khó hiểu quá, không biết nhà triết học TĐT tài giỏi, vĩ đại ở điểm nào? Chẳng biết triết học của TĐT đưa ra những luận điểm nào? Tôi đọc nhưng không hiểu nổi. Câu hỏi này đã có người đưa ra thế nhưng chẳng thấy ai trả lời. Hóa ra các bậc trí giả của ta chỉ nói những gì mình biết chứ không đủ trình độ giải thích cho dân thường những điều người ta cần biết. Thế mà cứ phê phán "quan trí " thấp. Nhìn chung người mình chỉ biết chê người khác chứ chẳng mấy ai biết phê và sửa những yếu kém của mình

    Tom lai,
    Y cua bai viet la : 'Ong Marx' that bai o VN la vi ong noi tieng Nga. Neu ong noi tieng Phap, tieng Duc thi se khac ... Bai viet nhu la de ton vinh Gs Thao, nhung ky thuc la nham benh vuc ong Marx, chay thuoc cho CNCS ( hay la dinh xay 'bao tang Marx'? !! ).
    Trong khi do, cau noi cuoi doi cua Gs Thao la : " Marx da sai! ". Va cau dau tien ma cha cua Gs Thao noi voi con trai khi biet ong Thao tro ve VN de theo CS lam CM la :" Thao oi, may giet tao roi! ".

    Tôi tháy rất nhièu người ca ngợi nhà triết học Trần Đức Thảo. Tôi đọc được gàn 1/4 bài này thì mắt hoa đầu váng, nước mắt nước mũi chảy ra vì sức khoẻ và trình độ, tôi chẳng hiểu gì cả. Thế là tôi không đủ sức đọc tiếp nữa.
    Bác nào có thể tóm tắt một vài luận điểm chính của triết học Trần Đức Thảo và tác dụng của triết học Trần Đức Thảo để cho tôi và nhiều khác hiểu thì tốt quá, cám ơn.
    Mác là nhà triết học thì có đề ra triết học mác xít Còn Triết học của Trần Đức thảo thì có chủ nghiã Trần Đức thảo hay không?

    Su ton vinh Gs Tran Duc Thao chi tron ven, khi ke cam dau vui dap ong cung nhung dua a dua bi phe phan, len an.

    Su that phai duoc tra lai tron ven, moi la su that.

    Su that chi mot nua, dong nghia voi doi tra.

    Vnthuquan.net
    ( Chon cuon TRAN DUC THAO - NHUNG LOI TRANG TROI )

    Hoac:
    Vnthuquan.net/truyen/
    . Chon muc : Sap xep theo the loai
    . Chon the loai : Hoi ky, Tuy but
    . Chon cuon : TRAN DUC THAO - NHUNG LOI TRAN TROI

    Voi mot con nguoi, nhat la mot nha triet hoc thi quan diem sau se tien bo hon quan diem truoc, it ra la voi chinh nguoi do. Va quan diem sau cung, luc cuoi doi, la quan diem thuyet phuc nhat.
    Voi Triet gia Tran Duc Thao, nhung gu ong tho lo trong cac cuon bang ghi am qua ' TRAN DUC THAO - NHUNG LOI TRANG TROI ', la quan diem chinh thuc cua ong, khong can ai noi thay nua!