Hà Huy Toàn - Chủ nghĩa Marx

  • Bởi Admin
    15/08/2015
    29 phản hồi

    Hà Huy Toàn, cộng tác viên Dân Luận

    Chủ nghĩa Marx biểu hiện thành nhiều tác phẩm khác nhau được xây dựng rất công phu bởi cả Karl Marx (1818 – 1883) lẫn Friedrich Engels (1820 – 1895) nhưng K. Marx đóng góp nhiều hơn khiến ông phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. Tuy có quy mô đồ sộ lên tới hàng chục tập sách dày cộp nhưng Chủ nghĩa Marx có nội dung cơ bản có thể được trình bày khái quát như sau:

    Muốn sống được, nhân loại cần phải ăn, mặc, , v. v., tức là cần phải sử dụng các tư liệu tiêu dùng. Nhưng muốn có các tư liệu đó để tiêu dùng, nhân loại phải tạo ra các tư liệu đó bằng lao động, tức là phải hoạt động sản xuất. Vậy lao động hoặc hoạt động sản xuất đóng vai trò quyết định đối với toàn bộ đời sống của nhân loại.

    Căn cứ vào đó, K. Marx cùng các đồng sự đã quy mọi thứ về sản xuất khiến cả việc tiêu dùng lẫn việc sinh đẻ cũng đều được quy về sản xuất, rồi K. Marx xác quyết rằng lịch sử của nhân loại, xét đến cùng, chỉ là quá trình thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác mà thôi, trong đó mỗi phương thức sản xuất luôn luôn có hai mặt đối lập nhau: lực lượng sản xuất đối lập với quan hệ sản xuất; lực lượng sản xuất bao gồm người lao động cùng với tư liệu sản xuất, còn quan hệ sản xuất lại bao gồm các quan hệ giữa người với người trong sản xuất. Sự đối lập giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất lúc đầu chỉ có sự thống nhất giữa hai mặt đó nhưng dần dần về sau do việc tích luỹ của cải nên sự đối lập giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất chuyển biến thành sự đối kháng giữa người với người biểu hiện cụ thể thành sự đối kháng giai cấp giữa giai cấp bóc lột với giai cấp bị bóc lột. Sự đối kháng này gia tăng đến một mức độ nhất định sẽ bùng nổ thành cách mạng xã hội nhằm thay thế phương thức sản xuất cũ bằng phương thức sản xuất mới; cứ như thế theo chiều hướng tiến bộ: phương thức sản xuất sau bao giờ cũng tiến bộ hơn hơn phương thức sản xuất trước về công nghệ, năng suất, phúc lợi, v. v.. K. Marx xác quyết chắc chắn như đinh đóng cột rằng quá trình đó diễn biến theo cái tất yếu khách quan được xác định bao gồm các quy luật tồn tại độc lập với hoạt động nhận thức hoặc không phụ thuộc vào hoạt động đó, tức là dù hay không muốn, nhân loại không thể thay đổi được hoặc không thể đảo ngược được xu thế đó.

    hahuytoan.jpg
    Tác giả Hà Huy Toàn.

    Lao động phát triển sinh ra tư hữu, tư hữu phát triển lại phân hoá nhân loại thành người bóc lột với người bị bóc lột; sự phân hoá này lại dẫn đến đấu tranh giai cấp giữa giai cấp bóc lột với giai cấp bị bóc lột. Cuộc đấu tranh này lại phát sinh nhà nước làm phương tiện chính trị cho giai cấp bóc lột thống trị toàn diện giai cấp bị bóc lột. Cuộc đấu tranh giai cấp chỉ được giải quyết bằng cách mạng xã hội, theo đó các giai cấp cách mạng dùng bạo lực cách mạng vào tiêu diệt giai cấp phản cách mạng cùng với nhà nước cũ để xây dựng một nhà nước mới cho xã hội mới tiến bộ hơn xã hội cũ rồi lại tiếp tục cuộc đấu tranh giai cấptrình độ cao hơn trước. Cứ như thế đấu tranh giai cấp làm động lực trực tiếp cho toàn bộ lịch sử của nhân loại. Đến thời đại tư bản, K. Marx cho rằng chính tư hữu đã làm cho lao động bị tha hoá biểu hiện thành tình trạng bóc lột làm cho cả người bóc lột lẫn kẻ bị bóc lột đều bị mất hết nhân tính, tức là kết quả (tư hữu) chống lại nguyên nhân (lao động). Tin tưởng chắc chắn như vậy, K. Marx tiếp tục xác quyết rằng muốn giải phóng lao động khỏi sự tha hoá, cần phải xoá bỏ tư hữu hoặc tiêu diệt tư hữu để xác lập công hữu, tức là cần phải thay thế tư hữu bằng công hữu, đồng thời phải tiêu diệt mọi nhà nước vốn được giả định chỉ làm phương tiện chính trị cho giai cấp bóc lột thống trị toàn diện giai cấp bị bóc lột mà thôi. Nhưng muốn làm được việc đó lại cần phải xây dựng ý thức cộng sản cho lao động biểu hiện thành giai cấp công nhân trong nền sản xuất hàng hóa theo phương thức tư bản làm cho giai cấp này tự nhận biết được mình có vai trò cải tạo đối với thế giới hiện thực bao gồm cả chính nó để nó làm cách mạng cộng sản: tiêu diệt cả tư hữu lẫn nhà nước để xây dựng một xã hội công hữu không có cả giai cấp lẫn nhà nước!

    Ý thức cộng sản – theo K. Marx – biểu hiện thành chính Chủ nghĩa Marx cùng với các dự án cách mạng dựa vào đó, tức là “chủ nghĩa xã hội khoa học”, theo đó giai cấp công nhân cần phải được giác ngộ lý tưởng cộng sản rồi dùng bạo lực cách mạng vào tiêu diệt xã hội tư sản, bao gồm cả chế độ tư hữu lẫn kinh tế thị trường vốn bị quy kết thành nguyên nhân làm cho lao động bị tha hoá, để xây dựng chế độ công hữu hoặc chế độ cộng sản được giả định sẽ bảo đảm cho lao động không bị tha hoá nữa. Muốn xây dựng được chế độ cộng sản, K. Marx cho rằng giai cấp công nhân cần phải thiết lập được chuyên chính vô sản bằng bạo lực cách mạng rồi dùng cái chuyên chính này vào tiêu diệt mọi nguồn gốc sinh ra tư hữu. Đấy, Chủ nghĩa Marx đã phơi bày ruột gan như thế đó! 1).

    Để xây dựng được một hệ thống triết học lấy “lao động” làm khái niệm trung tâm như vậy, K. Marx đã dùng một phương pháp luận được gọi là “phép biện chứng duy vật” vốn đối lập hẳn với phép biện chứng duy tâm đã được xác lập bởi George Wilhelm Friedrich Hegel (1770 – 1831). K. Marx chỉ lật ngược lại G. W. F. Hegel mà thôi.

    Trước hết K. Marx phân chia triết học thành hai loại đối lập nhau: chủ nghĩa duy vật đối lập với chủ nghĩa duy tâm; đồng thời cũng phân chia phương pháp luận triết học thành hai loại đối lập nhau: phép biện chứng đối lập với phép siêu hình. Sự phân chia này hoàn toàn có dụng ý sâu xa nhằm phân chia nhân loại thành các giai cấp đối địch nhau rồi qua đó áp đặt tính chất giai cấp cho cả lĩnh vực tư tưởng làm cho đám đệ tử vĩ cuồng của K. Marx không những không thể lường được hậu quả tai ác phát sinh từ đó mà còn không thể hình dung được rằng mọi khoa học đều theo đuổi chân lý! Dựa vào những thành tựu khoa học chưa được kiểm chứng rõ ràng mà vẫn còn hết sức bấp bênhthế kỷ XIX, K. Marx đã lựa chọn “chủ nghĩa duy vật” làm thế giới quan cho mình đồng thời lấy “phép biện chứng” làm phương pháp luận để xác lập “chủ nghĩa duy vật biện chứng” với “phép biện chứng duy vật” rồi vận dụng nó vào phân tích rạch ròi các chủ đề xã hội.

    Phép biện chứng duy vật giả định chắc chắn như đinh đóng cột rằng mọi sự vật đều luôn luôn biến đổi làm cho người ta không thấy được một số hiện tượng chỉ tồn tại cố địnhkhông bao giờ biến đổi như cái Tương đối hoặc sự Tương đồng trong sự Khác biệt giữa các vật thể chuyển động cũng như bản tính vị kỷ ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc, v. v.. Cái giả định này đã làm cho phép biện chứng duy vật thể hiện nguyên hình thành phép siêu hình duy vật vốn chỉ cho thấy vật chất luôn luôn biến đổi mà không hề cho thấy bất cứ cái gì tồn tại cố định làm cho cái triết học này thua kém xa so với các triết học khác ở Hy lạp vào thời đại cổ xưa. Với tính chất đó, phép biện chứng duy vật về thực chất chỉ biểu hiện một hình thức cực đoan theo kiểu duy vật cho phép siêu hình mà thôi, làm cho Chủ nghĩa Marx vi phạm tất cả các quy tắc logic để trở thành một hệ thống triết học đầy tư biện từ đầu đến chân 2). Quả thật, chính Bertrand Russell (1872 – 1970) – một trong các nhà toán học vĩ đại nhất trong thế kỷ XX – đã nhận định chính xác rằng K. Marx có “tư duy rất lộn xộn, đầy mâu thuẫn, lại được khuyến khích bởi lòng thù hận3).

    Thật ra, mọi sự vật đều có hai mặt đối lập nhau, hai mặt đó có thể thống nhất với nhau hoặc cũng có thể đối kháng với nhau. Vấn đề quan trọng chỉ là làm thế nào để bảo đảm sự cân bằng cần thiết giữa hai mặt đó làm cho hai mặt đó thống nhất với nhau. Nhưng sự phân chia triết học thành hai loại đối lập nhau về cả thế giới quan lẫn phương pháp luận như đã nói ở trên đã dẫn đến việc phá vỡ sự cân bằng cần thiết giữa hai mặt đối lập nhau trong đời sống xã hội biểu hiện cụ thể qua việc truy bức các ý kiến khác biệtcác nước lấy Chủ nghĩa Marx làm hệ tư tưởng chính thống.

    Khi phân chia triết học như vậy, K. Marx chỉ muốn làm sâu sắc thêm G. W. F. Hegel mà thôi, ông ta đã không ngờ lại có thể dẫn đến những hệ quả tiêu cực như thế. Những hệ quả này đã chứng tỏ rằng K. Marx không hiểu được hết G. W. F. Hegel khiến ông ta chỉ loại bỏ một phần G. W. F. Hegel về thế giới quan nhưng lại tiếp nhận toàn bộ G. W. F. Hegel về phương pháp luận, tức là phép biện chứng tư biện, để rồi tạo ra một hệ thống triết học có nhiều cạm bẫy nguy hiểm với quá nhiều mâu thuẫn chết người!

    Toàn bộ khoa học từ đầu thế kỷ XX đến nay đã cho thấy rõ ràng rằng cả “vật chất” lẫn “tinh thần” đều chỉ có ý nghĩa tương đối mà thôi. Vật chất mà không có tinh thần sẽ không thể hình dung được cũng như tinh thần mà không có vật chất sẽ không thể hình dung được. Vậy nếu quy thế giới về “vật chất” thì thế giới sẽ biểu hiện thànhvật chất” hoặc nếu quy thế giới về “tinh thần” thì thế giới sẽ biểu hiện thànhtinh thần” tuỳ theo cái phương pháp luận được dùng để nhận thức thế giới, hoặc có thể nói như Immanuel Kant (1724 – 1804) đã từng nói: vẻ đẹp không ngự trên đôi má hồng của người thiếu nữ mà nằm trong đôi mắt của kẻ si tình 4), khiến triết học sẽ chỉ còn lại thế giới quan khoa học cùng với phương pháp luận khoa học để trở thành triết học khoa học!

    Nhìn nhận Chủ nghĩa Marx bằng triết học khoa học sẽ cho phép người ta thấy được Chủ nghĩa Marx có quá nhiều khuyết tật nghiêm trọng.

    Thứ nhất, lập thuyết bằng phép biện chứng duy vật đã làm cho K. Marx không hề biết bản tính vị kỷ vừa tồn tại xuyên không gian vừa tồn tại vượt thời gian làm động lực tuyệt đối cho toàn bộ lịch sử đòi hỏi xã hội phải được tổ chức theo chính thể dân chủ mới có thể giải phóng được mọi cá nhân khỏi sự áp bức bóc lột để nhân loại phải biết sống theo đạo đức vốn cũng phải tồn tại cố định theo bản tính vị kỷ làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính tốt đẹp. Phép biện chứng duy vật đã làm cho K. Marx không bao giờ biết được sự thể đó. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến nhiều tai họa lớn cho bất cứ cộng đồng nào áp dụng Chủ nghĩa Marx 5).

    Thứ hai, không giải thích được tại sao nhân loại phải sử dụng các tư liệu tiêu dùng, như ăn, mặc, , v. v., tức là không giải thích được cái gì làm nguyên nhân sâu xa nhất cho hoạt động kinh tế. Do xem nhẹ môn chính trị học nên mặc dù rất coi trọng môn kinh tế học, K. Marx vẫn không sao giải thích được chính xác nhiều hiện tượng lịch sử, trong đó có “Phương thức Sản xuất Á châu”; trái lại ông ta chỉ lập luận vừa rất tư biện vừa rất võ đoán về các hiện tượng đó, tức là Chủ nghĩa Marx thiếu tính chất phổ quát rồi chỉ trở thành một lý thuyết triết học rất phiến diện 6).

    Thứ ba, xác quyết kinh tế quyết định tất cả đã dẫn đến một hệ tư tưởng tôn thờ các giá trị kinh tế mà hạ thấp hoặc thậm chí chà đạp tất cả các giá trị khác, như tự do, đạo đức, tâm linh, v. v., hệ tư tưởng này chắc chắn sẽ cung cấp phương tiện tinh thần hết sức độc hại cho các chế độ độc tài để các nhà độc tài nô dịch dân chúng về mặt tinh thần, đồng thời cũng gây nên mâu thuẫn thù địch nhau giữa các nhà cầm quyền thuộc mọi cấp bậc trong chế độ độc tài. Khi tranh giành nhau quyền lợi kinh tế, người ta sẵn sàng cắn xé nhau y như thú vật 7).

    Thứ tư, xác quyết tư hữu làm cho lao động bị tha hoá đã dẫn đến các chính sách phản động nhất, bao gồm cả bạo lực cách mạng lẫn chuyên chính vô sản, nhằm tiêu diệt tư hữu, cũng tức là tiêu diệt luôn cả động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy kinh tế phát triển. Việc tiêu diệt tư hữu biểu hiện thành việc cướp bóc trắng trợn nhấtcác nước lấy Chủ nghĩa Marx làm hệ tư tưởng chính thống. Việc cướp bóc trắng trợn như vậy cho thấy xác quyết này nguy hiểm nhất trong Chủ nghĩa Marx 8).

    Thứ năm, xác quyết đấu tranh giai cấp làm động lực trực tiếp cho toàn bộ lịch sử của nhân loại đã đẩy các nước lấy Chủ nghĩa Marx làm hệ tư tưởng chính thống vào các cuộc nội chiến tương tàn mạo nhận cách mạng xã hội chủ nghĩa với nhiều di hoạ vẫn còn nhức nhối đến nay về cả kinh tế, chính trị, văn hoátư tưởng, trong đó sự tổn thất về đạo đức đã tỏ ra nghiêm trọng nhất làm cho cả cộng đồng bị sa đoạkhông tự biết. Đặc biệt sự thù hận giữa người với người tỏ ra nguy hiểm nhất. Cách mạng xã hội chủ nghĩa không những không tiêu diệt được nhà nước mà còn tạo ra một nhà nước chuyên chế bạo ngược nhất từ xưa đến nay 9).

    Thứ sáu, giải thích sai lạc các nguyên nhân sinh ra ý thức mê hoặc, cụ thể là xác quyết chính tư hữu làm cho lao động bị tha hoá đã sinh ra ý thức đó, để rồi chính Chủ nghĩa Marx cũng lại trở thành một hệ tư tưởng chỉ thuộc về ý thức đó mà thôi, do chống lại ý thức mê hoặc bằng phương pháp luận tư biện nên K. Marx chỉ tạo ra được một hệ tư tưởng mê hoặc mà thôi làm cho nhiều người không biết mình đang sống như thế nào ở đâu. Đặc biệt người có học hoặc “trí thức xã hội chủ nghĩa” hễ suy tư triết học lại xác quyết “duy vật” với “duy tâm” chỉ để củng cố “khoa học mang tính chất giai cp” thể hiện một phong cách tư duy vừa rất lẩm cẩm vừa hết sức vĩ cuồng mà người Việt nam thường mô tả bằng một cụm từ rất độc đáo: hâm hâm đơ đơ! Họ không thể hình dung được rằng mọi khoa học đều theo đuổi chân lýchân lý phải có giá trị như nhau đối với mọi người; từ đó suy ra rằng mọi khoa học đều không có tính chất giai cấp! 10).

    Thứ bảy, với các giải pháp chính trị phản động nhất, Chủ nghĩa Marx đã xác lập một mâu thuẫn không thể giải quyết được giữa mục đích với phương tiện: giải phóng nhân loại bằng biện pháp chống lại nhân loại, đó là bạo lực cách mạng. Từ đó không sao tránh khỏi việc áp bức nhân loại nhân danh giải phóng nhân loại. Suy nghĩ bằng cái hệ tư tưởng này, người ta sẵn sàng làm nhiều việc xấu xa nhất nhân danh một mục đích tốt đẹp nhất, tức là lấy mục đích biện minh cho phương tiện, y như chủ trương chính trị phi đạo đức đã từng được xác lập bởi Niccolò Machiavelli (1469 – 1527). Tuy nhiên, N. Machiavelli còn biết hướng tới chính thể cộng hoà, nhưng K. Marx lại chủ trương tiêu diệt cả chính thể đó 11).

    Thứ tám, việc phân chia lịch sử của nhân loại thành năm giai đoạn khác nhau: cộng sản nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến, tư bản, cộng sản văn minh, được thực hiện bởi trường phái marxist đã làm cho Chủ nghĩa Marx trở thành một loại sử quan ấu trĩ nhất: vừa chủ quan vừa hời hợt. Khoa học xã hội (triết học, luật học, chính trị học, v. v.) đã chứng minh được rằng chế độ phong kiến chẳng qua vẫn chỉ thuộc về chế độ nô lệ mà thôi, rằng chế độ nô lệ phát triển đến một mức độ nhất định sẽ làm cho mỗi cá nhân nhất định hoặc mỗi nhóm người nhất định bị đặt để vào một khuôn khổ biệt lập phải sống bằng kinh tế tự túc dựa vào nông nghiệp nhỏkhông thể hoặc rất khó có thể sống bằng kinh tế đổi chác hoặc kinh tế thị trường, v. v. 12).

    Thứ chín, mặc dù cũng nhấn mạnh rằng tinh thần có đời sống tương đối độc lập nhưng Chủ nghĩa Marx lại xác quyết rằng ý thức xã hội chỉ phản ánh tồn tại xã hội mà thôi, rằng ý thức hoặc tinh thần có nguồn gốc từ lao động, tức là dành cho tinh thần một vị trí phụ thuộc vào kinh tế, từ đó lại phủ nhận tinh thần có khả năng sáng tạo thế giới 13).

    Thứ mười, Chủ nghĩa Marx đã quan niệm sai lạc về cái tất yếu khách quan, theo đó cái tất yếu khách quan bị quy thành các quy luật tồn tại bên ngoài hoạt động nhận thức, độc lập với hoạt động nhận thức hoặc không phụ thuộc vào hoạt động đó, dù hoạt động đó có diễn biến như thế nào theo xu hướng nào rồi được thúc đẩy bởi động cơ nào cũng không làm thay đổi được các quy luật kia, tức là cái tất yếu khách quan đã bị tách khỏi hoạt động nhận thức. Đây là quan niệm độc hại nhất trong Chủ nghĩa Marx. Một quan niệm như vậy tất yếu phải dẫn đến một hậu quả hai mặt: một mặt nó phủ nhận hoạt động nhận thức có khả năng sáng tạo thế giới, cũng tức là khả năng cải biến xã hội; mặt khác nó tạo ra cơ sở lý thuyết cho phép các nhà nước phi pháp có thể biện minh cho mình, rằng mình tồn tại theo cái tất yếu độc lập với mọi nhận thức, dù người ta có hay không muốn cũng không thể thay đổi được sự thể đó. Dựa vào lý lẽ tư biện đó, chúng tiêu diệt mọi ý chí đấu tranh chống chế độ độc tài đồng thời duy trì lâu dài nỗi bất hạnh chung cho tất cả mọi người. Tai ác hơn nữa, quan niệm này còn cho phép người ta có thể biện minh cho mọi tội ác được gây nên bởi chính mình, rằng mọi sự kiện (cũng như mọi tội ác) đều tuân theo cái tất yếu độc lập với hoạt động nhận thức hoặc không phụ thuộc vào hoạt động nhận thức dù hoạt động đó có như thế nào cũng không thể tránh khỏi gây nên tội ác hoặc không thể thay đổi được cái tất yếu kia. Vậy Chủ nghĩa Marx cũng chỉ thuộc về hệ tư tưởng vong thân, tức là cái hệ tư tưởng làm cho người ta bị nô lệ vào cái tất yếu mù quáng. Không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy những người cộng sản đích thực đã tỏ ra hết sức thản nhiên khi biện bạch cùn quịt cho những tội ác tày trời được gây nên bởi chính họ nhân danh cái tất yếu lịch sử vốn hết sức mù mờ thường được viện dẫn từ các tác phẩm lý luận được xây dựng công phu bởi cả K. Marx lẫn F. Engels! Đó cũng chính là lý do logic đã giải thích được tại sao Chủ nghĩa Marx lại trở thành nền tảng tư tưởng cho các nền độc tài cộng sản vốn có tác dụng tai ác vượt xa mọi nền độc tài khác. Nhìn lại những sự kiện đẫm máu, như Cách mạng Văn hoá, v. v., ở nước Tàu hoặc Cải cách Điền địa, Nhân văn Giai phẩm, Xét lại Chống Đảng, Nội chiến 1959 – 1975, Cải tạo Tư sản, v. v., ở Việt nam, bất cứ người nào có lương tri cũng hiểu được rằng các sự kiện đó cũng có nguyên nhân sâu xa trong đời sống tinh thần hoặc có vô số khả năng rất hiện thực để né tránh được các sự kiện đó nhưng những người cộng sản đích thực lại thản nhiên cho rằng đấytất yếu lịch sử, rằng vì tất yếu lịch sử nên không thể tránh được, rằng những người đưa ra mệnh lệnh cũng như những kẻ thi hành mệnh lệnh đều chỉ thực hiện cái tất yếu đó mà thôi (!) 14).

    Tuy nhiên, toàn bộ khoa học từ đầu thế kỷ XX đến nay đã quan niệm khác hẳn về cái tất yếu khách quan, rằng các quy luật được xác lập bởi khoa học luôn luôn bị quy định một phần bởi chính hành vi quan sát, hoặc cái tất yếu khách quan chỉ tồn tại thông qua hoạt động nhận thức đồng thời chỉ được xác nhận phổ quát bởi chính hoạt động đó. Chẳng hạn, muốn nhìn thấy một electron, nhà quan sát phải soi sáng electron bằng một tia sáng; nhưng khi được dùng để soi sáng electron, tia sáng lại truyền một phần năng lượng từ nó sang electron làm cho electron phải thay đổi quỹ đạo chuyển động từ quỹ đạo vốn có sang một quỹ đạo khác được gọi là quỹ đạo thấy được, tức là quỹ đạo thấy được hoàn toàn khác hẳn quỹ đạo vốn có; sự thay đổi này làm cho nhà quan sát chỉ có thể nhìn thấy được quỹ đạo khác mà không thể nhìn thấy được quỹ đạo vốn có; quỹ đạo vốn có như thế nào, nhà quan sát không thể biết đượcchỉ có thể đặt để niềm tin vào đó thôi; trái lại, nhà quan sát chỉ có thể biết được quỹ đạo khác, quỹ đạo này chỉ được xác lập bởi hành vi quan sát mà không phải tồn tại tự thân, tức là quỹ đạo này không tồn tại tự thân hoàn toàn mà được quy định một phần bởi chính hành vi quan sát vốn thuộc về hoạt động nhận thức 15). Từ đó người ta rút ra được một kết luận triết học cho rằng cái tất yếu khách quan luôn luôn bị quy định một phần bởi hoạt động nhận thức đồng thời phải có giá trị phổ quát hoặc phải có giá trị như nhau đối với mọi người, theo đó cái gì đúng với một người cũng phải đúng với mọi người hoặc cái gì sai với một người cũng phải sai với mọi người, tức là nếu cái gì đúng với người này mà lại sai với người khác thì cái đó tuyệt đối không thể khách quan. Từ kết luận đó, người ta lại rút ra được một nguyên tắc xử sự rất quan trọng đối với mọi người, theo đó mỗi người phải chịu trách nhiệm với mọi hệ quả được gây nên bởi chính mình. Nguyên tắc này làm cho nhân loại phải có sự hiểu biết về chính mình mới có thể né tránh được sai lầm; sự hiểu biết về chính mình lại làm cho nhân loại được tự do, đối lập hẳn với Chủ nghĩa Marx vốn làm cho nhân loại bị nô lệ vào cái tất yếu mù quáng như đã nói ở trên kia!

    Nhiều người đã biết được Chủ nghĩa Marx cực kỳ phản động về mặt chính trị thể hiện lộ liễu qua cả bạo lực cách mạng lẫn chuyên chính vô sản, nhưng rất ít người hoặc thậm chí chẳng mấy ai biết được Chủ nghĩa Marx cũng cực kỳ sai lầm về mặt khoa học thể hiện ẩn ngầm qua cái quan niệm độc hại cùng cực về cái tất yếu khách quan.

    Vân vân.

    Tất cả các khuyết tật đó cũng như các khuyết tật khác có thể có trong Chủ nghĩa Marx đều bắt nguồn từ “phép biện chứng duy vật” được xác lập bởi chính K. Marx, cái phương pháp luận này tư biện từ đầu đến chânkhông hề có một chút khoa học nào cả. Phương pháp luận tư biện đương nhiên phải tuỳ tiện, phải lộn xộn, phải mâu thuẫn!

    Phép biện chứng là phương pháp luận triết học làm cho chủ thể nhận thức có thể thấy được thế giới về cả hai mặt đối lập nhau: vừa vật chất vừa tinh thần, vừa biến đổi vừa cố định, vừa xác định vừa bất định, vân vân. Nhưng việc gán ghép khiên cưỡng tính chất duy vật cho phép biện chứng để tạo ra “phép biện chứng duy vật” đã làm cho phép biện chứng bị biến chất trái ngược thành phép siêu hình, tức là cái phương pháp luận triết học chỉ cho phép chủ thể nhận thức thấy được thế giới về một mặt nhất định mà thôi, cụ thể là chỉ cho thấy một thế giới biến đổikhông cho thấy một thế giới cố định cũng như chỉ cho thấy một thế giới cố địnhkhông cho thấy một thế giới biến đổi. Do quy thế giới về “vật chất” đồng thời giả định sai lạc rằng vật chất chỉ biến đổikhông cố định nên “phép biện chứng duy vật” đã thể hiện nguyên hình thành phép siêu hình vốn chỉ cho phép chủ thể nhận thức thấy được đối tượng nhận thức về một mặt nào đó, chẳng hạn chỉ thấy được sự biến đổikhông thấy được sự cố định hoặc chỉ thấy được sự cố địnhkhông thấy được sự biến đổi, v. v..

    Trước K. Marx hơn hai ngàn năm, Heraclitus đã từng nói rằng không ai tắm được hai lần trên một dòng sông. K. Marx đã đi xa hơn theo chiều hướng cực đoan bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng với điểm tận cùng biểu hiện thành một ý kiến triết học cho rằng: vận độngthuộc tính cố hữu biểu hiện sinh mệnh của vật chất. Đạt đến điểm đó, K. Marx đột ngột dừng lại mà không bao giờ tiến lên nữa. Nếu tiến lên thì ông ta sẽ đi đến lý thuyết tương đối vốn phát biểu rằng mọi biến đổi đều tương đối, rằng mọi cái đều biến đổi nhưng có một cái duy nhất không biến đổi biểu hiện thành chính sự biến đổi, rằng trong một thế giới biến đổi (hệ quy chiếu, v. v.) với mọi cái luôn luôn biến đổi lại có một cái duy nhất không bao giờ biến đổi biểu hiện thành cái Tương đối. Cái Tương đối chỉ được xác lập hiện thực bởi hoạt động nhận thức đồng thời cũng chỉ tồn tại hiện thực với chính hoạt động nhận thức làm cho nó chỉ biểu hiện thuần tuý thành một sự kiện tư duy mà thôi. K. Marx không thể hình dung được cái Tương đối theo ý nghĩa như vậy. Vì tự giới hạn mình vào chủ nghĩa duy vật biện chứng nên một mặt, ông ta chỉ thấy được mọi cái đều biến đổi vô tận mà không thể thấy được một cái duy nhất không bao giờ biến đổi biểu hiện thành chính sự biến đổi, tức là ông ta thiếu hẳn năng lực khái quát cho việc trừu tượng hoá mọi biến đổi thành một cái cố định biểu hiện thành cái Tương đối hoặc ông ta không tạo tác được cái Tương đối vốn không bao giờ biến đổi; mặt khác ông ta không bao giờ thấy được hoạt động nhận thức có khả năng sáng tạo. Nếu K. Marx có tin rằng hoạt động nhận thức có thể sáng tạo thế giới thì ông ta không thể chứng minh được khả năng đó bằng khoa họcchỉ có thể xác quyết được khả năng đó bằng tư biện thôi.

    Được áp dụng vào đời sống xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứng vốn giả định chắc chắn rằng mọi cái đều biến đổi khôn cùng sẽ chỉ gây nên biến động tang thương mà thôi, đổ vỡ nối tiếp đổ vỡ, thù hận nối tiếp thù hận, sợ hãi nối tiếp sợ hãi, v. v.. Cái hiện thực đó không nói lên cái gì ngoài tâm thức triết học ở chính K. Marx. Nếu Chúa tạo ra thế giới theo hình ảnh của mình thì K. Marx cũng tạo ra thế giới theo hình ảnh của mình nhưng chỉ tiếc rằng K. Marx đã chống lại Chúa để thế giới nô lệ chống lại thế giới tự do, tức là chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ sai lầm mà còn nguy hiểm nữa!

    Xin nhắc lại Bertrand Russell đã từng nhận xét rất đúng rằng K. Marx có “tư duy rất lộn xộn, đầy mâu thuẫn, lại được khuyến khích bởi lòng thù hận”.

    Nhiều tài liệu lịch sử đáng tin cậy cho biết rằng K. Marx đã sống một cuộc sống rất bấp bênh, cuộc sống này chắc chắn phải có ảnh hưởng rất lớn đến cách thức suy nghĩ để K. Marx lập luận 16). Ngay từ nhỏ, K. Marx đã tiếp nhận sâu rộng nhiều hệ tư tưởng chỉ có giá trị về nghệ thuật hoặc tôn giáokhông hoặc rất ít giá trị về khoa học, như chủ nghĩa lãng mạn chẳng hạn, v. v., khiến K. Marx nuôi dưỡng nhiều định kiến thiển cận nhất về giai cấp tư sản đồng thời dành hết tình cảm lãng mạn cho giai cấp vô sản. K. Marx đã dành nhiều ngôn từ hoa mỹ nhất cho giai cấp vô sản khiến độc giả uyên bác cảm thấy rất phản cảm khi đọc ông ta! Hơn hai ngàn năm trước, Aristote đã từng nhận định về nô lệ, nông nô, công nhân, v. v., tức là các giai cấp bị bóc lột, bị áp bức, bị nô dịch trong chính thể chuyên chế, rằng nếu một nông nô nào đó mà lãnh đạo đám đông lật đổ được một chính quyền thối nát nào đó thì họ cũng sẽ chỉ tái lập một thể chế như cũ, rằng đám đông nông nô hoặc làm nông nghiệp nhỏ không có khả năng về kinh tế để trở thành một giai cấp tự nó hoặc một giai cấp cho nó, tức là nó không thể có ý thức về vai trò của nó hoặc không có cơ sở kinh tế để thực hiện một vai trò nào đó dù có ý thức về vai trò đó, rằng cá nhân nào trong đám nông nô mà ngoi lên được cũng sẽ trở thành chủ nô hoặc quan văn cho chế độ chuyên chế 17). Vậy mà K. Marx lại xác quyết rằng các giai cấp đó có khả năng cách mạng để cải tạo thế giới hoặc thậm chí sáng tạo thế giới! Bệnh hoang tưởng này đã làm cho Chủ nghĩa Marx có tính chất không tưởng rất trầm trọng.

    Chủ nghĩa Marx chỉ thuộc về một loại triết học tầm thường ở Tây phương nếu không muốn nói thật chính xác rằng nó chỉ thuộc vào hàng cặn bã trong nền Văn minh Tây phương. Sau Công xã Paris thất bại vào năm 1871, giai cấp công nhân ở cả Tây Âu châu lẫn Bắc Mỹ châu đã nhận thấy Chủ nghĩa Marx vừa sai lầm vừa nguy hiểm khiến Chủ nghĩa Marx bắt đầu bị đào thải ở đó. Tuy nhiên Chủ nghĩa Marx lại trở nên “vĩ đại” ở Đông phương chính nhờ Vladimir Ilich Lenin (1870 – 1924) cùng với Đảng BolsheviksNga.

    Ngay ở Nga cũng chỉ có rất ít người tin tưởng vào Chủ nghĩa Marx, số người này không đủ để làm cách mạng cộng sản. V. I. Lenin cướp được chính quyền ở đó không phải nhờ Chủ nghĩa Marx mà chỉ nhờ Mật vụ Đức. Trong Chiến tranh Thế giới Lần thứ Nhất từ năm 1914 đến năm 1918, Đức muốn gây nên chính biến ở Nga để Nga phải rút khỏi cuộc chiến tranh với Đức, Mật vụ Đức bèn liên lạc với V. I. Lenin rồi cung cấp phương tiện chiến tranh cho Đảng Bolsheviks về làm chính biến ở Nga vào cuối năm 1917 18). Do bị tuyên truyền bịp bợm trong nhiều năm nên nhiều người vẫn quen gọi vụ chính biến đó là “Cách mạng Tháng Mười Nga Vĩ đại”, nhưng thực tế lịch sử đã cho thấy đó chỉ là một vụ đảo chính đẫm máu mà thôi, không hơn mà cũng không kém! Vừa cướp được chính quyền bằng vụ đảo chính đó, V. I. Lenin ngay lập tức đã dùng Chủ nghĩa Marx làm phương tiện tinh thần để thiết lập nền chuyên chế cộng sản ở Nga rồi nô dịch dân chúng ở đó bằng chính Chủ nghĩa Marx đồng thời xúc tiến việc xuất khẩu cách mạng ra khắp thế giới làm cho nhiều người ngộ nhận rằng Chủ nghĩa Marx vừa khoa học vừa cách mạng!

    Để giữ được chính quyền cộng sản ở Nga đồng thời áp đặt được Chủ nghĩa Marx cho dân chúng ở đó, Đảng Bolsheviks đã phải sử dụng các biện pháp đẫm máu với một hệ thống nhà tù dày đặc khắp nước Nga tạo nên Quần đảo GULAG 19). Khoa học gì mà lại phải được áp dụng bằng các biện pháp đẫm máu như thế? Chưa kể các nước khác cũng có nền chuyên chế cộng sản lấy Chủ nghĩa Marx làm hệ tư tưởng chính thống, hệ quả thậm chí còn thảm khốc hơn nhiều lần. Vậy Chủ nghĩa Marx chỉ vĩ đại theo ý nghĩa tiêu cực mà thôi: nếu dùng nó để thiết lập một chế độ độc tài thì sẽ thành công mỹ mãn nhưng nếu dùng nó để thiết lập một chế độ dân chủ thì chắc chắn sẽ thất bại thê thảm!

    Do được xác lập bằng phương pháp luận tư biện vốn chỉ có mâu thuẫn đối kháng ngay từ nội tại nên Chủ nghĩa Marx có rất nhiều mâu thuẫn đối kháng khiến bất cứ một nhà marxist nào dù trung thành đến đâu với Chủ nghĩa Marx cũng không thể nào bảo vệ được Chủ nghĩa Marx về mọi mặt mà chỉ có thể bảo vệ được Chủ nghĩa Marx về một mặt nào đó hoặc một bộ phận nào đó thôi, từ đó sẽ không sao tránh khỏi xung đột khốc liệt với các nhà marxist khác; tức là Chủ nghĩa Marx làm cho “nhà marxist” bị phân hoá thành nhiều loại khác nhau, trong đó mỗi loại nhất định cứ ôm khư khư một mặt nào đó hoặc một bộ phận nào đó trong Chủ nghĩa Marx để chống lại loại khác vốn cũng ở vào tình trạng tương tự, khiến các nhà marxist càng trung thành với Chủ nghĩa Marx càng xung khắc với nhau. Không có gì khó hiểu khi thấy các nhà marxist thường không ưa nhau hoặc thậm chí còn thù ghét nhau.

    Làm nền tảng tư tưởng cho chế độ độc tài (các nền độc tài cộng sản), Chủ nghĩa Marx sẽ dẫn đến các hệ quả tai ác nhất: những người cộng sản truy bức nhau tàn tệ, như Mao Trạch Đông truy bức Lưu Thiếu Kỳ cũng như Joseph Stalin truy bức Lev Davidovich Trotsky, v. v., hoặc các Đảng Cộng sản cũng hiếp đáp nhau tương tự, như Đảng Cộng sản ở Liên bang Soviet khuynh loát các Đảng Cộng sản ở tất cả các nước khác làm chư hầu cho Liên bang Soviet, Đảng Cộng sản ở nước Tàu kích động Đảng Cộng sản ở Cambodia gây hấn với Đảng Cộng sản ở Việt nam khiến Đảng Cộng sản ở Việt nam phải đem quân sang Cambodia để lật đổ tên đồ tể khát máu có tên gọi là Pol Pot, rồi Đảng Cộng sản ở nước Tàu lại đem quân xuống phía Nam để “dạy cho Việt nam một bài họcvào năm 1979, v. v. 20). Tóm lại Chủ nghĩa Marx đã gây nên các tai hoạ khủng khiếp nhất cho thế giới vào thế kỷ XX.

    Tôi xác tín rằng K. Marx không hề mong muốn một kết cục như thế mà chắc chắn cũng không thể biết được một kết cục như thế nhưng chỉ những kẻ nào ngu sy đần độn đến mức độ mà không thể cứu chữa được mới tin tưởng rằng Chủ nghĩa Marx vừa khoa học vừa cách mạng!

    Nhiều học giả ở khắp nơi (trong đó có Simon Sebag Montefiore) tố cáo K. Marx đã xây dựng một lý thuyết triết học chủ trương sát nhân, rằng “chưa có lý thuyết triết học nào đã từng biện hộ cho nhiều vụ sát nhân đến như thế!” 21). Nhưng tôi lại nghĩ khác. Tôi nghĩ rằng K. Marx làm triết học với động cơ trong sáng nhằm giải thoát nhân loại khỏi tình trạng dã man. Đó là một trong những lý tưởng xã hội đáng được trân trọng nhất. Tuy nhiên, vì K. Marx đặt ra vấn đề quá phiến diện (xuất phát từ lao động để giải phóng lao động bằng chính lao động hoặc giả định lao động tự ý thức rồi tự giải phóng mình bằng bạo lực cách mạng!) rồi lại giải quyết vấn đề đó bằng một phương pháp luận tư biện (mà ông ta ngộ nhận nó có tính chất khoa học rồi quy nó thành “phép biện chứng duy vật khoa học” với thực chất lại chẳng hề có một chút khoa học nào cả!), nên K. Marx chỉ tạo ra được một thứ triết học tư biện từ đầu đến chân. Chính vì có tính chất tư biện như vậy nên Chủ nghĩa Marx đã trở thành một thứ triết học dễ bị lạm dụng hơn bất cứ một thứ triết học nào khác, cho phép những kẻ có đầu óc tối tăm lạm dụng dễ dàng vào việc tạo ra vô số lý thuyết nguỵ khoa học nhằm nô dịch đồng loại về cả thể xác lẫn tinh thần.

    Chủ nghĩa Marx chủ trương giải phóng nhân loại bằng bạo lực chuyên chế (bao gồm cả bạo lực cách mạng lẫn chuyên chính vô sản), tức là lấy giải phóng nhân loại làm mục đích đồng thời lấy bạo lực chuyên chế làm phương tiện để thực hiện hoặc theo đuổi mục đích. Nhưng vì không lường được bản tính vị kỷ vốn có ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc khiến bạo lực chuyên chế chỉ có thể áp bức nhân loại, tức là phương tiện mâu thuẫn với mục đích, nên Chủ nghĩa Marx không những không đạt được hoặc không thực hiện được mục đích mà còn tạo ra hệ quả trái ngược với mục đích để bị vong thân, tức là mâu thuẫn giữa mục đích với phương tiện làm cho Chủ nghĩa Marx trở thành một hệ tư tưởng vong thân.

    Rất nhiều người thiển cận thảm thương đã hồ đồ đồng nhất Chủ nghĩa Marx với Chúa giáo (Christianity), bao gồm Công giáo (Catholicism), Chính giáo (Orthodoxism), Tin lành (Protestantism), v. v. 22), rằng Chủ nghĩa Marx cũng gây nên “núi xương sông máu” như Chúa giáo. Họ không hiểu rằng đối với tội ác nhân danh ý thức hệ như thế, Chúa giáo phải làm nạn nhân đối lập hẳn với Chủ nghĩa Marx lại chỉ làm tác nhân. Chúa giáo phải làm nạn nhân cho những tội ác tày trời được gây nên bởi nền chuyên chế thần quyền mạo nhận Chúa giáo nhưng Chủ nghĩa Marx lại chỉ làm tác nhân cho những tội ác tày trời được gây nên bởi nền chuyên chính vô sản lấy Chủ nghĩa Marx làm hệ tư tưởng chính thức. Nền chuyên chế thần quyền đã thực hiện sai lạc Chúa giáo dẫn đến những tội ác tày trời nhưng nền chuyên chính vô sản đã thực hiện đúng đắn Chủ nghĩa Marx dẫn đến những tội ác tày trời. Chúa giáo luôn luôn được bảo vệ thành công bởi những trí tuệ siêu phàm, như Nicolaus Copernicus (1473 – 1543), Galileo Galilei (1564 – 1642), Isaac Newton (1642 – 1727), Albert Einstein (1879 – 1955), v. v., chưa kể các học giả uyên bác về xã hội học, như Alexis De Tocqueville (1805 – 1859) cũng như Friedrich August von Hayek (1899 – 1992), v. v. 23), những trí tuệ đó đã giải thoát thành công Chúa giáo khỏi những giáo điều chuyên chế được tạo nên bởi các nền chuyên chế thần quyền. Nhưng Chủ nghĩa Marx lại luôn luôn bị bác bỏ thành công bởi những trí tuệ siêu phàm từ giữa thế kỷ XIX đến nay, trong đó có Albert Einstein 24). Nhân loại phải quay trở về Chúa giáo mới có thể tiến lên được nhưng nhất định phải từ bỏ Chủ nghĩa Marx mới có thể tiến lên được 25). Người ta có thể bào chữa đúng đắn cho Chúa giáo bằng nhiều lý do khác nhau nhưng không thể biện bạch đúng đắn cho Chủ nghĩa Marx bằng bất cứ lý do nào.

    Thật ra, Chủ nghĩa Marx chỉ tỏ ra chân thực với chính thể chuyên chế, vì chính thể chuyên chế luôn luôn có mâu thuẫn đối kháng nên Chủ nghĩa Marx cũng luôn luôn có mâu thuẫn đó, nếu chính thể chuyên chế có mâu thuẫn đối kháng ở điểm nào thì Chủ nghĩa Marx sẽ có ngay mâu thuẫn đối kháng ở chính điểm đó. Đó chính là cái bí mật to lớn nhất nằm sâu thẳm trong Chủ nghĩa Marx.

    HÀ HUY TOÀN

    GHI CHÚ:

    Tiểu luận này được công bố nhằm kỷ niệm: 70 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới Lần thứ Hai; 70 năm Cách mạng Tháng Tám 1945; 40 năm kết thúc Chiến tranh Việt nam.

    _____________________

    1) Xin hãy xem: Marxists Internet Archives. Phần Việt ngữ (https://www.marxists.org/vietnamese/). Tính đến ngày 11 Tháng Tám 2015, phần này vẫn chưa có Tư bản luận được viết công phu bởi Karl Marx. Vì học thuyết kinh tế của K. Marx cấu thành nội dung chủ yếu cho Chủ nghĩa Marx nên nhất thiết phải nghiên cứu Tư bản luận mới có thể hiểu đúng về Chủ nghĩa Marx. Vậy độc giả có thể xem Karl Marx: Tư bản. Việt ngữ. Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội. Quyển thứ nhất: tập I, 1959; tập II, 1960; tập III, 1960. Quyển thứ hai: tập I, 1961; tập II, 1961. Quyển thứ ba: tập I, 1962; tập II, 1962; tập III, 1963. Khi viết về sự xung đột giai cấp, K. Marx đã dựa vào nhiều tài liệu tham khảo đã bị quên lãng được viết từ những năm 1820 đến những năm 1830 (Ludwig von Mises: Liberalismus. Bản dịch Việt ngữ: Chủ nghĩa Tự do Truyền thống. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013. Trang 328).

    2) Khi nghiên cứu Tư bản luận vào thập niên 1990, tôi nhận thấy K. Marx đã vi phạm tất cả các quy tắc logic: quy tắc đồng nhất, quy tắc nhất quán, quy tắc khách quan, quy tắc loại trừ, quy tắc bao hàm, v. v.. Sự thể đó biểu hiện rõ ràng nhất qua lý thuyết về giá trị, tiền cônglợi tức. Xin hãy xem thêm Nguyễn Đình Cống: Chống ngụy biện và nhầm lẫn về Chủ nghĩa MarxLenin. Bauxite Việt nam (http://www.boxitvn.net/bai/36463).

    3) Tôi trích dẫn lại B. Russell từ Simon Sebag Montefiore: Quái vật mang tên Karl Marx. Talawas (http://vcomtech.net/xahoi/nhanvat/nguyentruong/quaivatmangtenmarx.html).

    4) Có thể xem “Những câu nói hay bằng Anh văn” tại Diễm mục như họa (https://yunakyo.wordpress.com/nhung-cau-noi-hay-bang-tieng-anh/). Quý độc giả có thể tìm kiếm câu trích dẫn trong các tác phẩm triết học được tạo tác bởi I. Kant.

    5) Bản tính vị kỷ (ích kỷ, tư lợitham lam) vốn có ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc. Bản tính đó vừa tốt đẹp vừa xấu xa, nó chỉ xấu xa khi thúc đẩy người ta làm điều xấu xa hoặc nó chỉ tốt đẹp khi thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp, điều tốt đẹp làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu xa vốn chỉ gây hại cho nhân loại. Căn cứ vào đó, tôi có thể xác định chính xác bản chất cho nhân loại bằng bản tính vị kỷ khiến các cá nhân phải phục vụ lẫn nhau để thỏa mãn mình mới tồn tại được. Nhưng Chủ nghĩa Marx không nhận thấy sự thật hiển nhiên như vậy về bản tính vị kỷ khiến Chủ nghĩa Marx xác định sai lạc bản chất cho nhân loại bằng tổng hòa các quan hệ xã hội mà không nhận thấy mọi quan hệ xã hội đều bắt nguồn từ bản tính vị kỷ đồng thời chỉ biểu hiện chính bản tính đó. Chính vì không nhận thấy bản tính vị kỷ nên Chủ nghĩa Marx không thể giải thích được nguồn gốc sinh ra tư hữu, lại càng không thể giải thích được nguồn gốc sinh ra cả nhà nước lẫn pháp luật.

    6) Chủ nghĩa Marx có tham vọng giải thích tất cả để trở thành một triết lý phổ quát nhưng vì không nhận thấy bản tính vị kỷ vốn có ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc mà chỉ lấy lao động hoặc kinh tế vốn chỉ chiếm một bộ phận nhất định trong đời sống xã hội làm phạm trù trung tâm cho mình nên khi được áp dụng vào đời sống xã hội, Chủ nghĩa Marx tỏ ra bất lực trước nhiều vấn đề thực tế khiến nó không thể trở thành một triết lý phổ quát mà chỉ có thể trở thành một triết lý phiến diện.

    7) Do lập luận bằng quyết định luận kinh tế nên Chủ nghĩa Marx đã biến nhân loại thành các giá trị kinh tế hoàn toàn phi nhân tính. Có thể xem thêm George Orwen: Animal FarmA Fairy Story, 1945. Ấn bản Việt ngữ: Chuyện ở Nông trại. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà nội 2013. Có thể tìm thấy ấn bản Việt ngữ trên Internet (http://www.truyenngan.com.vn/tieu-thuyet/tieu-thuyet-phuong-tay/634-chuyen-o-nong-trai.html).

    8) Xin hãy xem Anatoly Tille: Liên bang SovietNhà nước Phong kiến Trá hình. Talawas (http://www.talawas.org/).

    9) Anatoly Tille: Liên bang SovietNhà nước Phong kiến Trá hình. Talawas (http://www.talawas.org/); Nguyễn Minh Cần: Đảng Cộng sản Việt nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế. Nhà xuất bản Tuổi Xanh, 2001; Lữ Phương: Chủ nghĩa Marx và cách mạng vô sản Việt nam. Hội thảo Việt (http://www.viet-studies.info/LuPhuong.htm). Vân vân.

    10) Có thể xem thêm Lữ Phương: Chủ nghĩa Marx và cách mạng vô sản Việt nam. Hội thảo Việt (http://www.viet-studies.info/LuPhuong.htm).

    11) Niccolò Machiavelli: The Prince. Harmondsworth: Penguin, 1975; The Discourses. Harmondsworth: Penguin, 1983. David Held lược thuật hai tác phẩm đó trong “Models of Democracy” (Các Mô hình Dân chủ). Ấn bản Việt ngữ: Các Mô hình Quản lý Nhà nước Hiện đại. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013, từ trang 85 đến trang 87. D. Held cũng lược thuật Chủ nghĩa Marx về mặt chính trị trong tác phẩm này. Ấn bản Việt ngữ như trên, từ trang 175 đến trang 217. Trong đó D. Held đã kết luận chính xác rằng: “Lịch sử của Chủ nghĩa Marx – được thể hiện bằng những xung đột sâu sắc giữa việc xác định các mục tiêu chính trị phù hợp với việc triển khai chiến lược chính trị trong những điều kiện lịch sử, thường khác xa với dự đoán của K. Marx – cho thấy đây là một trò mạo hiểm lành ít dữ nhiều” (trang 217). Trong một danh sách đặc biệt liệt kê các tác gia vĩ đại nhất đã góp phần quan trọng vào làm thay đổi thế giới, N. Machiavelli đã được đặt để vào vị trí đầu tiên, việc này không hề ngẫu nhiên (Robert B. Downs: Books That Changed The World. Bản dịch Việt ngữ: Những tác phẩm làm biến đổi thế giới. Nhà xuất bản Văn đàn, Sài gòn 1970. Ấn phẩm đó đã được xào nấu cẩu thả thành “Những luận thuyết nổi tiếng thế giới” bởi Vũ Đình PhòngLê Huy Hòa. Việt ngữ. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà nội 1999. Tác gia đầu tiên được trình bày trong tác phẩm này chính là N. Machiavelli). Độc giả nào biết Việt ngữ có thể xem thêm Niccolò Machiavelli: Quân vương. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2007; Karl Marx và Friedrich Engels: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Marxists Internet Archives (https://www.marxists.org/vietnamese/marx-engels/1840s/tuyen/index.htm); Anatoly Tille: Liên bang SovietNhà nước Phong kiến Trá hình. Talawas (http://www.talawas.org/); Nguyễn Minh Cần: Đảng Cộng sản Việt nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tế. Nhà xuất bản Tuổi Xanh, 2001; Lữ Phương: Chủ nghĩa Marx và cách mạng vô sản Việt nam. Hội thảo Việt (http://www.viet-studies.info/LuPhuong.htm).

    12) Có thể xem thêm Lữ Phương: Chủ nghĩa Marx và cách mạng vô sản Việt nam. Hội thảo Việt (http://www.viet-studies.info/LuPhuong.htm).

    13) Xem chú thích 11.

    14) Xin hãy xem tất cả các giáo trình triết học về Chủ nghĩa MarxLenin đang được phổ biến rộng khắp tại Việt nam hiện nay. Ngoài ra, rất nên xem các video clips: Câu chuyện Soviet (https://www.youtube.com/watch?v=9_IeHiE1SMc), Cửu bình (https://www.youtube.com/watch?v=TcdkbFNn5m4), và v. v..

    15) Caroline F. Wate, K. M. Panikkar và J. M. Romein: Lịch sử Văn minh Nhân loại Thế kỷ XX. Ấn bản Việt ngữ. Nhà xuất bản Văn hoá – Thông tin, Hà nội 1999. Xin hãy xem tất cả các chương nói về những thành tựu khoa học (đặc biệt những phát minh vật lý) trong thế kỷ XX.

    16) Dương Nhất Phàm: Truyền thông Trung quốc tiết lộ những bí mật đầy thống khổ của Marx những năm cuối đời. Việt Đại Kỷ nguyên, ngày 19 Tháng Sáu 2015 (http://vietdaikynguyen.com/v3/61392-truyen-thong-trung-quoc-dai-luc-tiet-lo-ve-nhung-bi-mat-day-thong-kho-cua-marx-trong-nhung-nam-cuoi-doi/).

    17) Tôi trích dẫn Aristote từ Vũ Quang Việt: Thử tìm hiểu quan niệm về dân chủ, quyền lực chính trị và cơ sở kinh tế của chúng. Tạp chí Thời đại Mới (http://www.tapchithoidai.org/200401_VQViet.htm).

    18) Xin hãy xem video clip: Ai đã trả tiền cho Lenin? (http://www.dailymotion.com/video/xeyust_ai-da-trả-tiền-cho-lenin_shortfilms). Ngoài ra, có thể xem thêm: “Ai đã trả tiền cho Lenin?” tại Blog Nguyễn Thành An (https://nguyenthanhan.wordpress.com/2010/10/05/ai-da-trả-tiền-cho-lenin/).

    19) Simon Sebag Montefiore: Quái vật mang tên Karl Marx. Talawas (http://vcomtech.net/xahoi/nhanvat/nguyentruong/quaivatmangtenmarx.html). Xin hãy xem thêm thông tin về Quần đảo Gulag tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/ Quần_đảo_Gulag).

    20) Grant Evans – Kelvin Rowley: Cuộc chiến tranh giữa những người anh em đỏChân lý thuộc về ai?. Bản dịch Việt ngữ. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà nội 1986. Có thể tìm thấy bản dịch này trên Internet (http://reds.vn/index.php/thu-vien/tu-lieu/1446-red-brotherhood-at-war). Dù lập luận thế nào tác phẩm này cũng phát lộ một sự thật hiển nhiên: chân lý không thuộc về phong trào cộng sảnchỉ thuộc về các lực lượng dân chủ.

    21) Xem chú thích 3.

    22) Về tên gọi cho tôn giáo này, tôi xin giải thích rõ ràng hơn như sau: vì Kinh thánh nói Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc nên Christianity trong Anh văn hoặc nguyên gốc latin cần phải được chuyển dịch sang Việt ngữ thành Chúa giáo mới thật sát nghĩa, nếu chuyển dịch Christianity thành Thiên Chúa giáo thì “Thiên Chúa giáo” không thể hiện được hết ý nghĩa đích thực cho Christianity; vì Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Chúa Trời nên danh xưng này dễ làm cho người ta hiểu sai rằng Chúa chỉ có ở trên Trời, hiểu như vậy rất sai lạc so với Kinh thánh. Tức là trong quan hệ ý nghĩa với Christianity, Chúa giáo sát nghĩa hơn nhiều so với Thiên Chúa giáo: nếu Thiên Chúa giáo chỉ cho thấy Chúa ở trên Trời thì Chúa giáo lại phải cho thấy Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc (cả trên Trời lẫn dưới Đất, cả trong Ta lẫn ngoài Ta, cả Không gian lẫn Thời gian, v. v.). Đó chính là lý do thực tế để tôi chỉ nói Chúa giáo mà không nói Thiên Chúa giáo như nhiều người vẫn nói sai như vậy, nói như vậy vừa sai lạc vừa dài dòng, thừa chữ nhưng thiếu nghĩa.

    23) A. De Tocqueville đã giải thích được tại sao cách mạng dân chủ xảy ra trước hết ở các nước nào theo Chúa giáo (Alexis De Tocqueville: De la Démocratie en Amérique. G. F. Flammarion, 1981. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Phạm Toàn: Nền Dân trị ở Mỹ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013. Phần III, từ trang 469 đến trang 557). F. A. von Hayek đã chứng minh được rằng chủ nghĩa cá nhân, vốn phải làm nền tảng tinh thần cho chính thể dân chủ, chỉ có thể xuất sinh từ chính Chúa giáo (Friedrich August von Hayek: The Road To Serfdom (Con đường Dẫn đến Nô lệ). Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Phạm Nguyên Trường: Đường Về Nô lệ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2008. Trang 71).

    24) Albert Einstein: Thế giới như tôi thấy. Việt ngữ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2011. Từ trang 20 đến trang 23. A. Einstein viết tiểu luận này tại Berlin vào năm 1930 khi đã nhận thấy được rõ ràng hệ quả tai hại từ chế độ độc tài ở ÝNga, trước cả Friedrich August von Hayek phải mãi đến thập niên 1940 mới nhận thấy được sự tương đồng tự nhiên giữa chế độ soviet với chế độ fascist (xin hãy xem: “The Road To Serfdom” được viết bởi F. A. Hayek. Việt ngữ: Đường về Nô lệ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2008).

    25) Jean – Jacques Rousseau đã từng đả kích kịch liệt Chúa giáo bằng những lời lẽ cay nghiệt như sau: “Chúng ta sẽ tự đánh lừa khi nói về nền Cộng hòa Chúa giáo. Hai từnền Cộng hòaChúa giáoloại trừ lẫn nhau. Chúa giáo chỉ chuyên truyền dạy tính nô lệ và phụ thuộc. Tư tưởng Chúa giáo rất thuận với chế độ độc tài. Các tín đồ Chúa giáo (Christians) sinh ra để bị nô dịch; họ biết vậy mà không hề mủi lòng, vì cuộc sống ngắn ngủi trên đời này đối với họ không giá trị gì cho lắm” (Jean – Jacques Rousseau: Du Contrat Social. Genève 1762. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Thanh Đạm: Bàn về Khế ước Xã hội. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, Sài gòn 1992. Trang 193. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia tại Hà nội cũng đã tái xuất bản bản dịch này vào năm 2006. Từ trang 239 đến trang 240 (nên xem lại cả Chương VIII trong Quyển Bốn từ trang 229 đến trang 243). Việc đả kích kịch liệt Chúa giáo bằng những lời lẽ cay nghiệt như vậy đã gây nên những hậu quả tai ác cho nước Pháp từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX thể hiện qua những biến động dữ dội, như Cách mạng 1789 – 1794, Chiến tranh Âu châu được gây ra bởi Napoléon Bonapartes (1769 – 1821) sau khi khôi phục nền chuyên chế phong kiến cho nước Pháp vào năm 1799, Cách mạng Tháng Bảy 1830, Cách mạng Tháng Hai 1848, Công xã Paris 1871, v. v., khiến nước Pháp đổ máu quá nhiều. Sau những biến động đó, nước Pháp vội vã khôi phục vai trò chính đáng cho Chúa giáo, đa số trí thức bắt đầu từ bỏ J. J. Rousseau để quay trở về với Chúa bằng một sự thức tỉnh cần thiết.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    29 phản hồi

    Người Cộng Sản là những tổ sư chuyên về phá hoại. Họ có thể biến một cái hồ cá thành tô súp cá - dễ như chơi. Cái mà chúng tôi phải đối đầu hôm nay là biến tô súp cá đó thành cái hồ cá trở lại...
    — Ông Lech Wałęsa, cựu Tổng thống Ba lan nhận Nobel Hòa bình năm 1983.

    Chúng ta [Việt Nam] đang có một nền giáo dục xuất phát từ triết lý sai. Một triết lý trái ngược với yêu cầu tối đa giải phóng năng lực cá nhân, khuyến khích sự mạo hiểm, kêu gọi tính sáng tạo. Đó là nền giáo dục buồn tẻ của việc học thuộc lòng, lấy tiêu chí lớn nhất là sự vâng lời, đồng phục và làm theo. Một nền giáo dục kiêng kỵ sự khác biệt, sợ hoài nghi và ngăn trở óc phê phán.
    — Lê Quang Huy

    @ Nam Cali,

    Đổi Nick name thành Nam Cali, để làm gì, ai mà không biết cũng chỉ có một người lấy nhiều tên khác nhau: VIET, LE NAM, Co Xiu, NHÂN, THAN, Huy An, MINH NHẬT vv. viết còm ca tụng người viết bài, à-la-Tố Hữu (Ôi, HHT giúp tôi được SÁNG MẮT SÁNG LÒNG, VIỆT NAM MÌNH RẤT HIẾM CÓ TÀI NĂNG TRIẾT HỌC NHƯ TÁC GIẢ NÀY) và làm gấu mẹ nhe răng ngọam níu da gáy của HHT, bảo vệ anh ta và giận dữ chống trả các còm phản biện y hệt như bị ai ném hũ mắm vào nhà của mình.

    gấu mẹ viết:
    Độc giả nào tên là Tran Thi Ngự ...

    Đặc biệt, độc giả nào tên là Tran Thi Ngự ...

    Cứ theo ý của độc giả nào tên là Tran Thi Ngự thì phải ...

    Lẽ ra tôi chẳng viêt gì cả, nhưng thấy cái tên đầy nữ tính này viết lách lỗ mãng ...

    Phản biện như Tran Thi Ngự chẳng qua chỉ là PHẢN BIỆN ĐỂU, hay là PHẢN BÁC ĐỂU

    ...

    Trả lời xong các câu hỏi đó rồi hãy HẠ NHỤC tác giả HHT vẫn chưa muộn đâu.

    ...

    Nước[Việt Nam] bốn ngàn năm vẫn TRẺ CON... chẳng qua chỉ vì cái kiểu mạt sát hạ đẳng của độc giả nào tên là Tran Thi Ngự đang rât phổ biến ở cái đất nước bất hạnh này.

    Seriously, ai không có quan hệ với HHT mà lại mắc chứng "mỏng da" đến thế, tất cả chỉ vì vài lời còm không mấy thuận lợi cho tác giả bài viết? D:

    Tôi nhận thấy tác giả Hà Huy Toàn có một số điểm rất đáng được chú ý nghiêm túc:
    A. Nắm được nội dung cơ bản của các hệ tư tưởng mà anh ta mổ xẻ, lột trần cốt lõi và có thể cả phê phán thẳng thừng không thương tiếc (nội dung đó không phụ thuộc vào ngôn từ diễn đạt cấu thành hình thức thể hiện của các hệ tư tưởng đó).
    B. Có vẻ như anh ta cũng nắm được nhiều ý kiến nhận định khác nhau (cả thuận lẫn nghịch) về các hệ tư tưởng đó (NHO, MÁC) được thể hiện một phần nào qua các tài liệu tham khảo khiến anh ta viết rất bạt mạng mà không cần đắn đo rào trước chắn sau.
    C. Anh ta đọc nhiều nhưng không câu nệ vào CÂU CHỮ mà chỉ KHÁI QUÁT thành CÁC Ý TƯỞNG CHÍNH về các hệ tư tưởng mà anh ta muốn lột trần cốt lõi (Ví dụ: anh ta không trình bày theo kiểu TẦM CHƯƠNG - TRÍCH CÚ các câu chữ của chủ nghĩa Mác mà chỉ chú trọng bóc trần cốt lõi của chủ nghĩa đó) làm cho việc phê phán anh ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nếu không muốn nói sẽ gặp nguy hiểm, về học thuật.
    D. Tuy anh ta viết rất bạt mạng nhưng tôi nhận thấy anh ta cũng rất tinh vi khi cài cắm các ý tưởng đúng vào những chỗ mà bạn đọc dễ lầm tưởng anh ta sai lầm để nếu bạn đọc nào liều lĩnh đánh đấm anh ta ở những chỗ đó thì sẽ bị rơi vào trận địa của anh ta: càng đánh đấm anh ta thì càng chứng minh cho anh ta NÓI ĐÚNG. Xin lấy một ví dụ: anh ta lấy "Ý THỨC MÊ HOẶC" để mô tả cái NHẬN THỨC CHUNG ở hầu hết bạn đọc Việt Nam (và có thể cả bạn đọc Trung Quốc) khiến bạn đọc nào chưa/không hiểu anh ta mà đã vội vã phản pháo anh ta thì sẽ bị NGÃ NGỰA, vân vân, còn nhiều ví dụ khác cũng tương tự như thế.
    E. Khi phát biểu ý kiến cá nhân, anh ta luôn luôn dựa vào một số tiền đề rất chắc chắn. Xin trích dẫn ngay: "Bản tính vị kỷ (ích kỷ, tư lợi và tham lam) vốn có ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc. Bản tính đó vừa tốt đẹp vừa xấu xa, nó chỉ xấu xa khi thúc đẩy người ta làm điều xấu xa hoặc nó chỉ tốt đẹp khi thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp, điều tốt đẹp làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu xa vốn chỉ gây hại cho nhân loại" (Xem chú thích 5). Căn cứ vào đó, anh ta có thể đã xác định chính xác BẢN CHẤT cho CON NGƯỜI bằng bản tính vị kỷ khiến các cá nhân phải phục vụ lẫn nhau để thỏa mãn mình mới tồn tại được. Điều này rõ ràng rất khác với Mác. Theo anh ta, Mác đã xác định sai lầm bản chất cho con người bằng tổng hòa các quan hệ xã hội mà không nhận thấy mọi quan hệ xã hội đều bắt nguồn từ bản tính vị kỷ đồng thời chỉ biểu hiện chính bản tính đó. Anh ta còn nhận định rằng: "chính vì không nhận thấy bản tính vị kỷ nên Chủ nghĩa Marx không thể giải thích được nguồn gốc sinh ra tư hữu, lại càng không thể giải thích được nguồn gốc sinh ra cả nhà nước lẫn pháp luật". Muốn đánh đổ được anh ta thì phải bác bỏ được điều này nhưng tôi nghĩ không ai có thể bác bỏ được. Vậy thì chỉ có thể bới móc vào những chỗ được gọi là RÂU RIA XỒM XOÀM thôi.
    F. Anh ta ĐƯỢC CÒM RẤT NHIỀU, dù còm chê nhiều hơn còm khen, chứng tỏ anh ta đã thành công. Còm chê theo kiểu móc vào RÂU RIA XỒM XOÀM thì chỉ càng chứng minh cho anh ta nói đúng thôi. Và tôi nhận thấy tất cả các còm khen đều có cơ sở khách quan không thể bác bỏ được. Vậy thì các DƯ LUẬN VIÊN lắm súng, nhiều đạn, nhiều thời gian, lại được trả tiền, bắn phá làm gì cho PHÍ ĐẠN, PHÍ TIỀN, PHÍ SỨC, PHÍ THÌ GIỜ. Thà nghỉ cho khỏe còn hơn tiêu tốn tiền ăn hại Đảng!
    Vài ba ý kiến ngắn gọn sau khi đọc như vậy gửi tới tất cả các còm sĩ.
    Kính.

    Minh Nhật viết: "3. Bác chấm điểm khắt khe quá, có lẽ vì Bác chưa thấy tác dụng tích cực của bài viết này, lẽ ra Bác nên cho 9,5 điểm."
    "tác dụng tích cực của bài viết này" nên đem ra mổ xẻ, phê phán, hay "tác dụng tích cực" hơn là vứt mẹ nó vào sọt rác như thế giới đã làm?
    Đã chấm 2 điểm rồi mà còn lắm người bàn thế? Cái chủ nghĩa đã "loan xi pa chao" (ba lăng nhăng, tiếng Bắc kinh), bài viết lại còn 30 lăng nhăng. Nên cho âm 5 điểm vì chiếm diện tích màn hình và gây ra cuộc bàn cãi vô bổ.
    Khi CNCS vào Tàu thì nó nói "thử xem ta lợi dụng gì được cái chủ nghiã này" thấy không lợi dụng được thì nó bỏ, nay nó lợi dụng mình theo "đồng chính kiến" để nó cột mình vào nước nó, vứt mẹ chủ nghiã Mác đi thì mới thoát cộng được.

    ba Lúa viết:
    "Motion" thì khác với "change" trong tiếng Anh, hay "chuyển động" thì khác với "thay đổi" "biến đổi" trong tiếng Việt.
    Trong bài viết này của Hà Huy Toàn, nếu luận theo triết học, xã hội thay đổi bởi tư duy con người thay đổi, vì vậy đây sẽ là vấn đề khoa học nhân văn (social science), không phải vấn để của khoa học vật lý ( physic science), mà anh tác giả này nói chuyện tương đối, thật tối nghĩa, như đi trong sương mù.

    Đúng quá, Ba Lúa ạ!
    Lập lờ đánh lận con đen, đi từ "chuyển động" sang "biến đổi" nhằm phục vụ ý đồ củng cố luận điểm cá nhân trên một lãnh vực khác biệt. Đó là một trong những xảo thuật phun khói bỏ bùa để thuyết phục độc giả. Cụ thể ra là trích dẫn vặn vẹo các ý niệm từ toán (thí dụ, định lý bất toàn), hay vật lý (ánh sáng vừa là hạt vừa là sóng, cái gì cũng tương đối cả) để loè các độc giả vốn chỉ quen thuộc với lãnh vực nhân văn mà thôi. Thông thường, lối nói chuyện "thật tối nghĩa, như đi trong sương mù" là biểu hiện chắc chắn nhất của người muốn che đậy các khiếm khuyết về trí tuệ của mình.
    Bởi vậy, các bài viết kiểu ấy chỉ cốt nhắm làm loè mắt giữa người Việt với nhau mà thôi, nếu mà gởi cho các tập san quốc tế (sau khi đã dịch) thì họ trả về nước lại và bắt bồi hoàn tiền tem D:
    Và đừng hỏi tại sao Việt Nam ta không có bao nhiêu triết gia.

    Xe Ôm=Ma Văn Mãnh=Tú Khoai viết:
    Đọc các còm thì thấy nhiều vị kiến thức uyên bác quá, toàn bàn những chuyện cao siêu, nhưng có những vấn đề nhỏ hơn, sát sườn hơn lại chẳng thấy vị nào bán đến.
    [...]
    BBT nên để mục lục còm như trước thì tốt, nếu không thì chí ít cũng phải cho hiển thị 10 còm. Cũng cần hiển thị bài cũ lâu hơn. Có bài chưa kịp đọc thì đã biến mất.

    Hề hề hề, bổn cũ soạn lại:
    1/Chê các còm sĩ "trí thức" chỉ toàn nói chuyện "cao siêu" (*)
    2/Trách móc ban viên tập của Dân Luận

    (*) Tức là những chuyện vượt ngoài mức độ hiểu biết của mình :)

    Còn ai trồng khoai xứ này? D:

    Chủ nghãi Mác là thứ láo toét nhất trong các thứ láo toét. Cũng có thể là người rao giảng cái chủ nghãi nà và thực hiện làm cho nó láo toét.
    Theo cái chủ nghãi này thì giai cấp công nhân lên nắm quyền lãnh đạo, vậy ta thử xem trong bộ máy lãnh đạo của nhà nước ta (là nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á) thì có ai là công nhân không? Hiện nay ta có nhiều loại hình công nhân như công nhân quốc doanh, công nhân trong các công ty TNHH, công nhân trong các công ty 100% vốn nước ngoài, công nhân tự do và công nhân thất nghiệp, vậy thì loại hình công nhân nào lãnh đạo CM? Mẹ kiếp, mấy ông lãnh đạo chỉ lợi dụng công nhân xung kích vào những nới khó khăn gian khổ để các ông ấy hưởng thành quả.
    "Người ta ăn ở thế nào thì người ta suy nghĩ thế vậy" Mác bảo thế, vậy những ông ở những biệt thự sang trọng như Trần Văn Truyền, Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu và các quan chức khác suy nghĩ có giống những công nhân khổ sở trong các nhà tập thể các khu chế suất hay không? "Khổ nhiều thù sâu" nay ai khổ nhiều? Ai thù sâu? Thù ai? Ai bị bóc lột, nhà nước công nông mà toàn công nông bị bóc lột và lại còn bị cướp đất.
    Các nước đéo theo chủ nghiã Mác thì giai cấp công nhân sống thế nào? Sướng hay khổ hơn công nhân ở nhà nước XHCN này? Tội cho ông Mác, cái thời cuối đời, ông nói hay thì CS Việt Nam không theo mà theo cái thời ông sai lầm nên ông bị trách oan. Nhưng tốt nhất là ông đừng đưa ra cái học thuyết vớ vẩn này.
    Chắc Xe ÔM biết rõ là con đường gây ra nhiều tai nạn chính là con đường XHCN do ông Mác vạch ra và Đảng ta đã nhập vào mà không phải chịu thuế nhập khẩu.
    "LƯỢNG ĐỔI CHẤT ĐỔI"
    Một ông giáo sư trước giảng dạy triết học Mác Lê nin ở một trường đại học, sau này ông ra làm giám đốc một công ty trách nhiệm hữu hạn. Một hôm có mấy sinh viên cũ đến thăm thầy cũ và nói:
    - Hồi trước thầy còn ở trường, em thấy thầy sống rất giản dị, người thầy gày gò và thầy toàn giảng về lý tưởng Mác Lênin cho chúng em. Nay em thấy thầy sống sung túc quá, thầy cũng béo ra, nhưng điều làm chúng em ngạc nhiên là bây giờ thầy nói khác xưa, nhiều cái đối lập với ngày trước.
    Ông thầy cũ, nay là giám đốc tỉnh bơ nói:
    - Thì vẫn theo theo quy luật của triết học Mác Lê nin, "lượng đổi thì chất đổi".

    TTN viết:
    Marx chỉ viết thôi, như Locke hay Rousseau viết về khế ước xã hội, Montesquieu viết về pháp quyền, hay Voltaire viết về tụ do ngôn luận và tụ do tôn giáo. Những người này được biết đến như những triết gia, những nhà tư tưỏng (chỉ nghĩ chứ không làm), và những điều họ viết ra đuọc xem như quan điểm, học thuyết hay hệ thống tư tưỏng. Chỉ có Lenin đã muợn ý tưởng phê phán hệ thống kinh tế tư bản của Marx để xây dựng chủ nghĩa chính trị mang tên là chủ nghĩa Marxist Leninist dùng làm khuôn mẫu cho việc xây dựng chính quyền ở Liên xô sau Cách Mạng Tháng 10, và được đảng CSVN bê về để làm kim chỉ nam cho việc cai trị. Tóm lại, không có “chủ nghĩa Marx” trên thực tế. Chỉ có học thuyết Marxist và chủ nghĩa Marxist Leninist thôi.

    Những điều Marx viết ra là dựa trên các quan sát của ông về sự thay đổi hệ thống sản xuất và các mốì quan hệ sản xuất trong lịch sử và những gì xảy ra tại nưóc Anh lúc đó, rồi đưa ra các giả định (assumption, hypothesis). Đã gọi là giả định thì làm sao mà xác quyết được, nhất là “xác quyết như đinh đóng cột.”

    Tôi đồng ý với bà Ngự đoạn trên.

    Và như bác EFG đã viết, tôi cũng đồng ý: " CN Mac-Lê trở thành nguồn gốc của “thãm họa diệt chủng”, của “ tội ác chống lại loài người” là vì thế, vì chính ở bản chất “ phi nhân tính” chứa đựng trong nó".

    Cái Chủ nghĩa Marxist Leninist đã được ông Hồ và đảng CS của ông bê về nguyên xi, không hề sàng lọc, bắt chước còn "tốt hơn" nguyên bản.
    Cũng cần phải nói thêm: Chủ nghĩa là một con đường đã được lựa chọn và bị định hướng bởi quyền lực (* ) của nhà cầm quyền nước đó, như Liên bang Xô Viết thời Lenin và các triều đại kế tiếp hay các Qg khác với CN TB ...
    Nhưng Tư tưởng, Học thuyết thì không, " nó" chỉ ra con đường (có thể) đi để giải quyết những bế tắc xã hội.
    Một tư tưởng, học thuyết nào đó có thể được người dân, chính quyền của một Qg lựa chọn - hay bị áp đặt bởi bạo lực, bởi "cướp chính quyền" . Tư tưởng, học thuyết này có thể được người dân và nhà cầm quyền sàng lọc - hoặc không- và dùng "nó" làm "kim chỉ nam" cho thể chế QG, chủ nghĩa Qg đó.

    Cá nhân tôi cho rằng tư tưởng Mác không tệ, nếu đươc sàng lọc và kết hợp với những tư tưởng khác, cũng cần được sàng lọc khi kết hợp. . Bắc Âu là một điển hình.

    (*) Có 2 loại quyền lực của một QG: Một do dân bầu lên và bị dân truất phế, bãi bõ bằng lá phiếu. Hai là do cướp chính quyền bằng bạo lực, rồi áp đặt lên đầu dân cái thể chế, cái chủ nghĩa mà những người của đảng đi cướp CQ đã lựa chọn.

    ít nhất 2 còm sĩ đã phát biểu cảm nhận cá nhân của họ về các bài của Tg HHT:

    TPP: " Tẩu hoả nhập ma".
    TTN: "Loạn tâm thần".
    Cá nhân tôi cho rằng các bài viết thuộc thể loại này là các phê bình và đánh giá của cá nhân Tg. Các phê bình, đánh giá này có là một nghiên cứu công phu hay không lại là vấn đề khác. Người đọc có quyền phát biểu cảm tưởng, cảm nhận của cá nhân họ. Vì vậy, nếu có những phê bình gay gắt từ phía độc giả thì Tg và những người ủng hộ nên bình tĩnh tiếp nhận, nên biểu lộ một tinh thần cầu thị và sẵn sàng học hỏi.

    Riêng tôi, các bài phê bình, đánh giá các học thuyết, các tư tưởng, thường nguy hiểm vì nó mang tính định hướng một cách chủ quan, nghĩa là cảm tính theo Tg, trừ phi Tg đã nghiên cứu công phu, khách quan khi phê bình, đánh giá.
    Người đọc, nếu không sàng lọc, rất dễ lạc vào mê hồn trận, không tìm được lối ra, bị dẫn dắt vào "hệ tư tưởng" mà Tg muốn.
    Nguyễn Jung

    Kính chào Bác XE OM !
    Bác hơi bị VUI TÍNH.
    Em rất khoái cái kiểu vui tính như thế. Chẳng mấy còm sỹ nào VUI TÍNH như thế đâu. Vì vậy em xin Bác cho phép em bổ sung vài lời vào cái VUI TÍNH của Bác:
    1. Thế giới người ta đã vứt cái chủ nghĩa Mác vào sọt rác rồi. Nhưng Việt Nam mình vẫn cứ ôm khư khư cái thứ rác rưởi đó để mấy ông/bà Việt Cộng trục lợi trên mồ hôi xương máu của dân mình đấy. Thế có khổ ko?
    2. Được nhiều người còm chứng tỏ vấn đề này ko đơn giản như anh em mình nghĩ đâu, nó nghiêm trọng lắm đấy. Cái chủ nghĩa này (MÁC) rất vớ vẩn rác rưởi đối với anh em mình nhưng nó được dùng để trói buộc anh em mình và cả dân mình vào cái ách nô lệ cho mấy ông/bà Việt Cộng VẮT SỮA đấy.
    3. Bác chấm điểm khắt khe quá, có lẽ vì Bác chưa thấy tác dụng tích cực của bài viêt này, lẽ ra Bác nên cho 9,5 điểm. Em thấy tác giả này có vẻ hiểu vấn đề nghiêm trọng cho Dân mình nên y mới ra tay nặng như thế khiến cho nhiều kẻ ăn theo Việt Cộng phải nổi đóa lên. Nói cho đúng là y đánh vào LINH HỒN của chế độ cộng sản, và y đã đánh hộ anh em mình.
    Em phải cảm ơn y.
    Kính chào Bác,
    Chúc Bác chạy xe ôm an toàn cho thật nhiều hành khách!

    Độc giả nào tên là Tran Thi Ngự nên đọc lại ngay bài viết này, sau đó đọc thêm các tài liệu khác liên quan đến bài viết này:
    Marxists Internet Archives (https://www.marxists.org/vietnamese/).
    Karl Marx: Tư bản. Việt ngữ. Nhà xuất bản Sự thật, Hà nội. Quyển thứ nhất: tập I, 1959; tập II, 1960; tập III, 1960. Quyển thứ hai: tập I, 1961; tập II, 1961. Quyển thứ ba: tập I, 1962; tập II, 1962; tập III, 1963.
    Ludwig von Mises: Liberalismus. Bản dịch Việt ngữ: Chủ nghĩa Tự do Truyền thống. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013.
    Nguyễn Đình Cống: Chống ngụy biện và nhầm lẫn về Chủ nghĩa Marx – Lenin. Bauxite Việt nam (http://www.boxitvn.net/bai/36463).
    Simon Sebag Montefiore: Quái vật mang tên Karl Marx (http://vcomtech.net/xahoi/nhanvat/nguyentruong/quaivatmangtenmarx.html).
    George Orwen: Chuyện ở Nông trại. Ấn bản Việt ngữ. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà nội 2013. Có thể đọc trên Internet (http://www.truyenngan.com.vn/tieu-thuyet/tieu-thuyet-phuong-tay/634-chuyen-o-nong-trai.html).
    Anatoly Tille: Liên bang Soviet – Nhà nước Phong kiến Trá hình. Talawas (http://www.talawas.org/).
    Lữ Phương: Chủ nghĩa Marx và cách mạng vô sản Việt nam. Hội thảo Việt (http://www.viet-studies.info/LuPhuong.htm).
    David Held: Models of Democracy (Các Mô hình Dân chủ). Ấn bản Việt ngữ: Các Mô hình Quản lý Nhà nước Hiện đại. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013.
    Các giáo trình triết học về Chủ nghĩa Marx – Lenin đang được phổ biến rộng khắp tại Việt nam hiện nay.
    Dương Nhất Phàm: Truyền thông Trung quốc tiết lộ những bí mật đầy thống khổ của Marx những năm cuối đời. Việt Đại Kỷ nguyên, ngày 19 Tháng Sáu 2015 (http://vietdaikynguyen.com/v3/61392-truyen-thong-trung-quoc-dai-luc-tiet-lo-ve-nhung-bi-mat-day-thong-kho-cua-marx-trong-nhung-nam-cuoi-doi/).
    Ai đã trả tiền cho Lenin?. Blog Nguyễn Thành An (https://nguyenthanhan.wordpress.com/2010/10/05/ai-da-trả-tiền-cho-lenin/).
    Grant Evans – Kelvin Rowley: Cuộc chiến tranh giữa những người anh em đỏ – Chân lý thuộc về ai?. Bản dịch Việt ngữ. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà nội 1986. Có thể tìm thấy bản dịch này trên Internet (http://reds.vn/index.php/thu-vien/tu-lieu/1446-red-brotherhood-at-war).
    Alexis De Tocqueville: De la Démocratie en Amérique. G. F. Flammarion, 1981. Bản dịch Việt ngữ: Nền Dân trị ở Mỹ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013.
    Friedrich August von Hayek: The Road To Serfdom. Bản dịch Việt ngữ: Đường Về Nô lệ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2008.
    Albert Einstein: Thế giới như tôi thấy. Việt ngữ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2011.
    Các video clips: Ai đã trả tiền cho Lenin? (http://www.dailymotion.com/video/xeyust_ai-da-trả-tiền-cho-lenin_shortfilms) + (http://www.dailymotion.com/video/xezwhp_ai-da-tr%E1%BA%A3-ti%E1%BB%81n-cho-lenin_shortfilms), tác giả Hà Huy Toàn trích dẫn thiếu clip này khiến tôi phải đưa thêm nó vào đây. Câu chuyện Soviet (https://www.youtube.com/watch?v=9_IeHiE1SMc). Cửu bình (https://www.youtube.com/watch?v=TcdkbFNn5m4).
    Đặc biệt, độc giả nào tên là Tran Thi Ngự nên cố gắng trả lời câu hỏi này: THẾ NÀO LÀ XEM XÉT SỰ VẬT TRONG TÍNH TOÀN VẸN CỦA NÓ? Hoặc: THẾ NÀO LÀ XEM XÉT MỘT HỆ TƯ TƯỞNG TRONG TÍNH TOÀN VẸN CỦA NÓ?
    Tại sao phải xem xét một hệ tư tưởng về tất cả các mặt: mục đích, phương pháp, nội dung, hình thức, nguyên nhân, kết quả, v. v. ?
    Tuyên giáo nào làm được như vậy?
    Trả lời xong các câu hỏi đó rồi hãy HẠ NHỤC tác giả HHT vẫn chưa muộn đâu.
    Có thể tác giả này ko giỏi TẦM CHƯƠNG - TRÍCH CÚ như Tran Thi Ngự. Giỏi TẦM CHƯƠNG - TRÍCH CÚ ko thể hiện sự trưởng thành về trí tuệ.
    Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã từng than vãn về Dân Việt ta:
    Dân hai nhăm triệu ai NGƯỜI LỚN,
    Nước bốn ngàn năm vẫn TRẺ CON.
    Lời than vãn đó xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 mà vẫn còn nguyên giá trị thời sự với Việt Nam bây giờ chẳng qua chỉ vì cái kiểu mạt sát hạ đẳng của độc giả nào tên là Tran Thi Ngự đang rât phổ biến ở cái đất nước bất hạnh này.
    Cũng may mắn cho tác giả HHT là chế độ này đang suy sụp nghiêm trọng, nếu ko tác giả này rất có thể bị băm chặt thành nhiều mảnh cho dù có mọc cánh bay lên cung trăng cũng ko thoát chết.
    Cứ theo ý của độc giả nào tên là Tran Thi Ngự thì phải chép nguyên văn tất cả các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, v. v ra đây thì mới làm cho độc giả này ko chê vào đâu được.
    Lời bình của độc giả nào tên là Tran Thi Ngự cho thấy độc giả này rất thấm nhuần cái mác-xít lê-nin-nít và tư tưởng HCM.
    Lẽ ra tôi chẳng viêt gì cả, nhưng thấy cái tên đầy nữ tính này viết lách lỗ mãng nên ko nỡ nhắm mắt làm ngơ, đành phải đọc cẩn thận bài viết này và các thông tin liên quan rồi viết vài câu vào đây.
    Tôi đồng ý với CÁCH PHẢN BIỆN ĐẦY SẮC SẢO của Lorentz, Le Nam và Multitruth:
    Le Nam viết:
    Theo tôi được biết thuyết tương đối dựa trên 2 giả thiết trụ cột:
    1. Mọi CHUYỂN ĐỘNG đều TƯƠNG ĐỐI
    2. VẬN TỐC của ÁNH SÁNG trong CHÂN KHÔNG là một HẰNG SỐ.
    Multitruth viết:
    Không phải 2 giả thiết, mà là 2 định đề.
    Định đề thứ nhất không phải là [nguyên văn] Mọi CHUYỂN ĐỘNG đều TƯƠNG ĐỐI. Cái chuyện này người ta đã biết trước Einstein cả mấy trăm năm, và được gọi là nguyên lý tương đối theo Galileo. Định đề 1 là: bất kỳ các người nào mà di chuyển với vận tốc đều tương đối với nhau sẽ quan sát thấy tất cả định luật vật lý giống nhau và bất biến.
    Định đề thứ nhất đánh đổ huyền thoại về Einstein khám phá rằng mọi thứ ở đời đều tương đối, mà hai vị TTN và VN2006 (và Kép Tư Bền) diễn nôm là "sự thật nào cũng tương đối".
    Phản biện như vậy tức là ĐÁNH THẲNG VÀO PHƯƠNG PHÁP LUẬN của tác giả HHT.
    Phản biện như vậy mới thực sự là PHẢN BIỆN THẬT.
    Phản biện như Tran Thi Ngự chẳng qua chỉ là PHẢN BIỆN ĐỂU, hay là PHẢN BÁC ĐỂU.
    Chào tất cả các bạn!

    Thế giới người ta đã vứt cái chủ nghĩa Mác vào sọt rác rồi. Thế mà ông Toàn còn bới ra, lại được nhiều người còm. Xem các còm thì lại thấy toàn nói về những điều râu ria thì nhiều chứ chẳng mấy còm đi vào vấn đề chính, nào là dùng từ sai về tôn giáo, nào là thuyết tương đối...
    Thôi thì chấm điểm cho xong:
    Xét về công sức bỏ ra bới rác và gõ phím thì điểm 10.
    Kiến thức còn nhiều chỗ nhôm nhem chưa chính xác, lại nói 1/2 chủ nghiã Mác nên 2 điểm.
    Mục đích thì 0 điểm.
    Tác dụng không tích cực nên cũng 0 điểm.
    Đọc các còm thì thấy nhiều vị kiến thức uyên bác quá, toàn bàn những chuyện cao siêu, nhưng có những vấn đề nhỏ hơn, sát sườn hơn lại chẳng thấy vị nào bán đến. Dân lao động chỉ thích bàn đến những vấn đề liên quan đến đời sống cơm áo gạo tiền thôi, đó là những đường lối chính sách cụ thể.
    Người ta duy vật duy tâm
    Tôi nay duy thực cho qua một đời.
    BBT nên để mục lục còm như trước thì tốt, nếu không thì chí ít cũng phải cho hiển thị 10 còm. Cũng cần hiển thị bài cũ lâu hơn. Có bài chưa kịp đọc thì đã biến mất.

    Hà Huy Tập viết:
    Chủ nghĩa Marx biểu hiện thành nhiều tác phẩm khác nhau được xây dựng rất công phu bởi cả Karl Marx (1818 – 1883) lẫn Friedrich Engels (1820 – 1895) nhưng K. Marx đóng góp nhiều hơn khiến ông phải chịu trách nhiệm nhiều hơn. - See more at: https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx#comment-142974

    “Chủ nghĩa” thường dung để chỉ một mô hình (model), chủ trương về chính trị hay đường lối cai trị để thực hiện hay kêu gọi thực hiện trong thực tế. Marx chưa bao giờ xây dựng môt mô hình chính trị hay đường lối cai trị để thực hiện hay kêu gọi thực hiện. Những cái mà Marx viết ra chỉ là quan sát của ông về sự thay đổi trong lịch sử, và dựa trên các quan sát đó, đưa ra các phê phán về hệ thống kinh tế tư bản và các giả định về tương lai. Các ý tưởng về chế độ cộng sản đưọc Marx viết trong chung với Engels trong Communist Manifesto, nhưng bản thân Marx hay Engels chưa bao giờ có ý định xử dụng những điều viết trong Communist Manifesto để xây dụng một thể chế chính trị. Ngoài Communist Manifesto, vốn là một phần rất nhỏ trong các tác phẩm của Marx, các tác phẩm của ông chủ yếu là phê phán hệ thống kinh tế tư bản và phân tích mối tương quan giữa hệ thống kinh tế và hệ thống chính trị.

    Marx chỉ viết thôi, như Locke hay Rousseau viết về khế ước xã hội, Montesquieu viết về pháp quyền, hay Voltaire viết về tụ do ngôn luận và tụ do tôn giáo. Những người này được biết đến như những triết gia, nhũng nhà tư tưỏng (chỉ nghĩ chứ không làm), và những điều họ viết ra đuọc xem như quan điểm, học thuyết hay hệ thống tư tưỏng. Chỉ có Lenin đã muợn ý tưởng phê phán hệ thống kinh tế tư bản của Marx để xây dựng chủ nghĩa chính trị mang tên là chủ nghĩa Marxist Leninist dùng làm khuôn mẫu cho việc xây dựng chính quyền ở Liên xô sau Cách Mạng Tháng 10, và được đảng CSVN bê về để làm kim chỉ nam cho việc cai trị. Tóm lại, không có “chủ nghĩa Marx” trên thực tế. Chỉ có học thuyết Marxistchủ nghĩa Marxist Leninist thôi.

    Hà Huy Tập viết:
    Marx xác quyết rằng lịch sử của nhân loại, xét đến cùng, chỉ là quá trình thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác mà thôi, . . .
    K. Marx xác quyết chắc chắn như đinh đóng cột rằng . . .
    Phép biện chứng duy vật giả định chắc chắn như đinh đóng cột rằng mọi sự vật . .

    Xác quyết là gì? Marx có bao giờ viết như thế không? Những điều Marx viết ra là dựa trên các quan sát của ông về sự thay đổi hệ thống sản xuất và các mốì quan hệ sản xuất trong lịch sử và những gì xảy ra tại nưóc Anh lúc đó, rồi đưa ra các giả định (assumption, hypothesis). Đã gọi là giả định thì làm sao mà xác quyết được, nhất là “xác quyết như đinh đóng cột.”

    Cách viết thậm xưng kiểu “nhét chữ vào mồm thiên hạ” hoàn toàn không phù hợp với các bài viết mang tính nghiên cứu vốn đói hỏi tính khách quan, có sao nói vậy, không thêm không bớt, và nhất là không cảm tính. Mạc dù bài viết đả phá Marx, nhưng lối viết và giọng văn bị ảnh hường lối viết của ban Tuyên Giáo Trung ương, nghĩa là mang đầy cảm tính, dung từ có tính thậm xưng để “đánh” đối phương cho bằng được. Nếu tác giả muốn tiến xa hơn trong nghiên cứu thì nên bỏ lối viết đầy cảm tính này.

    Hà Huy Tập viết:
    Ý thức cộng sản – theo K. Marx – biểu hiện thành chính Chủ nghĩa Marx cùng với các dự án cách mạng dựa vào đó, tức là “chủ nghĩa xã hội khoa học”, theo đó giai cấp công nhân cần phải được giác ngộ lý tưởng cộng sản rồi dùng bạo lực cách mạngvào tiêu diệt xã hội tư sản, bao gồm cả chế độ tư hữu lẫn kinh tế thị trường vốn bị quy kết thành nguyên nhân làm cho lao động bị tha hoá, để xây dựng chế độ công hữu hoặc chế độ cộng sản được giả định sẽ bảo đảm cho lao động không bị tha hoá nữa. Muốn xây dựng được chế độ cộng sản, K. Marx cho rằng giai cấp công nhân cần phải thiết lập được chuyên chính vô sản bằng bạo lực cách mạng rồi dùng cái chuyên chính này vào tiêu diệt mọi nguồn gốc sinh ra tư hữu. Đấy, Chủ nghĩa Marx đã phơi bày ruột gan như thế đó!

    .
    Marx mà có sống dậy thì chắc là phải rất hoảng hốt, không hiểu tác giả có bị loạn tâm thần hay không. Như đã nói ở trên, không có chủ nghĩa Marx. Mà Marx viết về dụ án cách mạng, bạo lục cách mạng, và chuyên chính vô sãn ỏ đâu thế? Hay là những từ ngữ này xuất phát từ các tài liệu về kinh tế chính trị học của ban Tuyên Giáo Trung Ưong?

    Đọc tới khúc này thì bắt buộc phải ngừng vì không thề nào ‘nuốt’ thêm được nữa. Thật là kinh khủng (xin lỗi đã phải viết như vậy, nhưng đó là cảm giác thật sự khi đọc bài này, tương tụ như khi đọc bài viết vể "nho giáo").
    Đây là link đến bản dịch tiếng Anh của Communist Manifesto. Độc giả nào tò mò có thể đọc để xem Marx viết về dụ án cách mạng, bạo lục cách mạng, và chuyên chính vô sản như thế nào.
    http://www.gutenberg.org/cache/epub/61/pg61-images.html

    Chẳng biết các ông ở Hội đồng lý luận TƯ và Ban tuyên giáo TƯ có tham khảo bài này không và các ông ấy có ý kiến gì không?
    Nhiều người khi học CN Mác đã nói Mác đã đã đaọ một phần của Hegel và một phần của Phơbách rồi ghép lại thành của mình. Nghiã là cái chủ nghiã này là thứ đạo. Ta đi tôn thờ thứ đạo, đạo (ăn cắp) quá mức thì thành cướp. Nay thì nạn cướp xảy ra trên cả 63 tỉnh thành rồi.
    CN Mác có hai giai đoạn, lúc trẻ thì phản động như Liên xô và các nước Đông Âu và ta đã và đang theo còn lúc già thì Mác đã phủ định chủ nghiã của mình lúc trẻ, Ông Toàn này chưa nghiên cứu hoàn toàn CN Mác mà chỉ nói những cái sai của Mác lúc trẻ. CN Mác lúc già nay đang được các nước Bắc Âu thực hiện, gọi là CNXH dân chủ. Ta chỉ học cái giở mà không học cái hay. Có học cái giở thì mới thực hiện được "lợi ích nhóm".
    Nếu đặt câu hỏi ta theo CN Mác thì theo những cái gì khi áp dụng vào thực tế hiện nay thì chắc nhà lý luận của CS phải nghĩ hết thế kỷ này chưa chắc đã trả lời được.
    Có điều thế giới người ta dã tổng kết: nhan loại chịu ban tai họa, một là chủ nghiã phát xít (không thấy nêu ai là tác giả về lý thuyết, chỉ thấy Hitler thực hiện), hai là chủ nghĩa CS, ba là nạn Hồi giáo cự đoan.
    CN Mác có cùng quê hương với chủ nghiã phát xít, nó khác các thứ chủ nghĩa khác ở chỗ các chủ nghĩa khác chỉ nêu lý thuyết, ai theo thì theo, còn CN Mác dạy con người nắm chính quyền trong khi Mác chưa có một ngày nắm chính quyền, giống như con người không biết bơi lại dạy người ta bơi, nên người học bị chết đuối là chuyện dễ hiểu. Các nước Đông Âu trước học bơi theo Liên xô. Nay may mắn đã thoát chết đuối. Còn ta đang chết đuối dần dần.
    Hãy lên bờ để đỡ chết đuối chứ đừng ở dưới nước mà nghiền ngẫm chủ nghiã Mác mãi thế.Ông Toàn đang ở dưới nước nghiền ngẫm chủ nghiã Mác, dù khen dù chê cũng chẳng khác nào đào hố phân lên mà ngửi rồi chế thối. Tốt nhất là lấp nó lại. Người thông minh như TS Cù Huy Hà Vũ thì bảo xóa bỏ điều 4 hiến pháp là xong, không dài dòng.
    Cụ Trọng dạy dỗ dân ta
    Chớ đòi đa đảng mới là dân ngoan
    Cứ theo Các Mác vẹn toàn
    CNXH sẽ "hoàn thiện" sau
    Đồng bào chiến sĩ mau mau
    Cụ Hồ đang đợi rủ nhau xuống mồ.

    Dường như có một sự nghịch lý trong cách dùng từ:

    Về vật lý học, nếu nói mọi chuyển động là tương đối thì đúng lắm, "chuyển động" trong tiếng Việt, ở đây chính là "motion" trong tiếng Anh.

    Motion is relative because same object at same time can be both, at rest as well as in motion.
    Chuyển động là tương đối vì cùng một đối tượng ở cùng một thời gian có thể có cả hai, tại chỗ cũng như trong chuyển động.

    "Motion" thì khác với "change" trong tiếng Anh, hay "chuyển động" thì khác với "thay đổi" "biến đổi" trong tiếng Việt.

    Trong bài viết này của Hà Huy Toàn, nếu luận theo triết học, xã hội thay đổi bởi tư duy con người thay đổi, vì vậy đây sẽ là vấn đề khoa học nhân văn (social science), không phải vấn để của khoa học vật lý ( physic science), mà anh tác giả này nói chuyện tương đối, thật tối nghĩa, như đi trong sương mù.

    "mọi biến đổi đều tương đối"
    - "mọi cái đều biến đổi"
    - "cái duy nhất không biến đổi biểu hiện thành chính sự biến đổi"
    - "cái duy nhất không bao giờ biến đổi biểu hiện thành cái Tương đối"

    Mọi CHUYỂN ĐỘNG đều TƯƠNG ĐỐI
    .Mọi cái đều chuyển động.
    "cái duy nhất không chuyển động biểu hiện của sự đứng yên, dậm chân tại chỗ... 1. 2. .3 :)
    cái duy nhất không bao giờ chuyển động biểu hiện .... sẽ ....chuyển động. :)

    (Để bổ túc còm bên dưới)

    Cả hai định đề của thuyết tương đối đặc biệt phủ nhận ý niệm "mọi thứ đều tương đối", một loại triết lý dở hơi :D

    Le Nam viết:
    Theo tôi được biết thuyết tương đối dựa trên 2 giả thiết trụ cột:
    1. Mọi CHUYỂN ĐỘNG đều TƯƠNG ĐỐI
    2. VẬN TỐC của ÁNH SÁNG trong CHÂN KHÔNG là một HẰNG SỐ

    Không phải 2 giả thiết, mà là 2 định đề.
    Định đề thứ nhất không phải là [nguyên văn] Mọi CHUYỂN ĐỘNG đều TƯƠNG ĐỐI. Cái chuyện này người ta đã biết trước Einstein cả mấy trăm năm, và được gọi là nguyên lý tương đối theo Galileo. Định đề #1 là: bất kỳ các người nào mà di chuyển với vận tốc đều tương đối với nhau sẽ quan sát thấy (*) tất cả định luật vật lý giống nhau và bất biến.

    Định đề thứ nhất đánh đổ huyền thoại về Einstein khám phá rằng mọi thứ ở đời đều tương đối, mà hai vị TTN và VN2006 (và Kép Tư Bền) diễn nôm là "sự thật nào cũng tương đối". He he he.

    (*) gọi vắn tắt là "những người quan sát trong mọi hệ quy chiếu quán tính".

    Thuyết tương đối nào nói:
    - "mọi biến đổi đều tương đối"
    - "mọi cái đều biến đổi"
    - "cái duy nhất không biến đổi biểu hiện thành chính sự biến đổi"
    - "cái duy nhất không bao giờ biến đổi biểu hiện thành cái Tương đối"
    Tôi cũng ko hiểu chỗ này!
    Theo tôi được biết thuyết tương đối dựa trên 2 giả thiết trụ cột:
    1. Mọi CHUYỂN ĐỘNG đều TƯƠNG ĐỐI
    2. VẬN TỐC của ÁNH SÁNG trong CHÂN KHÔNG là một HẰNG SỐ
    Có vẻ như tác giả suy diễn CHUYỂN ĐỘNG thành BIẾN ĐỔI ?
    TẠI SAO tác giả ko dùng ngay VẬN TỐC của ÁNH SÁNG trong CHÂN KHÔNG để LẬP LUẬN cho CHẮC CHẮN mà lại SUY DIỄN như vậy cho RẮC RỐI ?
    Tác giả cần phải làm rõ chỗ này. Nếu ko, sẽ có nguy cơ bị LẬT ĐỔ dễ như trở bàn tay.

    Môn Na viết:
    Qua hai bài đả kích Nho giáo và Mác giáo, chúng ta đang bị dắt tới chỗ ca ngợi Thiên chúa giáo. Tôi chán cả ba ngọn giáo này.
    Còn gì nữa, tác giả viết nốt ra đi, để bàn tiếp luôn thể.

    Ha ha, còm thật hay, giáo nào cũng là giáo điều cả.

    Tân Sinh viết:
    Triết học thường phạm sai lầm chủ quan. Cách duy nhất một lập thuyết có thể được kiểm nghiệm về độ chính xác là sự lập luận của chính nó có lỗ hổng so với thực tế đang biến thiên.
    ...
    Bàn về nó, đọc về nó giờ này có phí thời gian không?

    Đúng quá! Và, vâng, chỉ uổng phí thời gian mà thôi! (Người có hiểu biết như T.Đ. Thảo thì biết là Marx xạo ke, còn dân ngu ku đen thì không hiểu gì hết về Mác với lại Dao, Lê, Búa, Liềm).

    Hà Huy Toàn viết:
    Nếu tiến lên thì ông ta sẽ đi đến lý thuyết tương đối vốn phát biểu rằng mọi biến đổi đều tương đối, rằng mọi cái đều biến đổi nhưng có một cái duy nhất không biến đổi biểu hiện thành chính sự biến đổi, rằng trong một thế giới biến đổi (hệ quy chiếu, v. v.) với mọi cái luôn luôn biến đổi lại có một cái duy nhất không bao giờ biến đổi biểu hiện thành cái Tương đối.

    "Thuyết tương đối" nào nói:
    - "mọi biến đổi đều tương đối"
    - "mọi cái đều biến đổi"
    - "cái duy nhất không biến đổi biểu hiện thành chính sự biến đổi"
    - "cái duy nhất không bao giờ biến đổi biểu hiện thành cái Tương đối"

    ????

    Ai làm ơn trích Einstein, hay là một nhà vật lý về thuyết thương đối nào đó, về bốn điều khẳng định ở trên giúp tôi với, xin cám ơn trước!

    VỀ CÁCH GỌI CHRISTIANITY TRONG TIẾNG VIỆT

    Christ là Chúa Ki-Tô. Christianity là Ki-Tô giáo.
    Nếu nói là Thiên chúa giáo có nghĩa đạo tin vào Chúa trên Trời- theo Hán tự- thì rất không sát nghĩa. Hồi và Do thái giáo cũng tin Chúa trên Trời. TCG gây hiểu lầm là có cả 2 đạo này. Cái khác của Tin lành, Công giáo, Chính thống giáo với Do thái giáo và với Hồi giáo là đấng Ki-Tô, ngôi thứ 2 Thiên chúa giáng trần và cứu chuộc loài người.

    Tôi không đồng ý với tác giả dịch Kito giáo thành Chúa giáo vì nó không đề cập tới cốt lõi của đấng Jesus Christ- tín điều mà Hồi giáo, Do thái giáo tin Chúa nhưng không tin Jesus Christ như đấng cứu thế.

    Tên tác giả viết:
    Về tên gọi cho tôn giáo này, tôi xin giải thích rõ ràng hơn như sau: vì Kinh thánh nói Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc nên Christianity trong Anh văn hoặc nguyên gốc latin cần phải được chuyển dịch sang Việt ngữ thành Chúa giáo mới thật sát nghĩa, nếu chuyển dịch Christianity thành Thiên Chúa giáo thì “Thiên Chúa giáo” không thể hiện được hết ý nghĩa đích thực cho Christianity; vì Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Chúa Trời nên danh xưng này dễ làm cho người ta hiểu sai rằng Chúa chỉ có ở trên Trời, hiểu như vậy rất sai lạc so với Kinh thánh

    Tớ có một góc nhìn khác nhá. Trời là ai? Là một "nhân vật" như ông trời hay trời là một chữ "trừu tượng" về một không gian đêk có giới hạn là bầu trời ở trên đầu toàn thể cư dân trái đất?
    "Kụ" HHT "dịch" Thiên Chúa là Chúa trời , phán chắc nịch, hiểu Chúa chỉ có ở trên trời, nà sai bét nhè. Hổng lẽ Chúa ở dưới đất cho bàng dân thiên hạ "sờ mó đụng chạm"? Rắc rối nhể. :) :)

    Dzậy, Chúa chỉ có ở trên trời, có gì sai, hổng đúng hử? Chúa chỉ có ở trên trời nên bọn dân địa cầu đêk nhìn thấy Chúa, đêk sờ được, chỉ "tiếp cận" bằng tâm linh, tư di ở mọi nơi mọi lúc, đếk phân biệt trai, gái, già, trẻ, màu da, vị trí "đứng ngồi nằm" trong cái xó xỉnh nầu đó của địa cầu.... là Chúa ở trong (tâm hồn, tâm linh, tư di) của ta, mọi nơi mọi lúc và Chúa là của mọi người,... níu muốn. :)

    Si diễn chiện tâm linh, tôn giáo theo "khoa học biện chứng" dễ bị tẩu hoả nhập ma dzư cái vụ "dịch" nì. :)

    Cái hiệu đính về Thiên Chúa Giáo, chứng tỏ Hà Huy Toàn chưa biết nhiều về tín lý, về mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể trong thân phận con người, và vì vậy trong mỗi con người đã có bản tính tốt lành của Thiên Chúa. Người có niềm tin Thiên Chúa luôn tin tưởng Thiên Chúa ngự trị trong tâm hồn mỗi con người dù người đó không tin có Thiên Chúa, và Thiên Chúa thì hiện hữu mọi nơi trên trời dưới đất, nói khác đi trong vũ trụ này.

    Vì vậy khăng khăng mà nói "Christianity", Chúa giáo sát nghĩa hơn nhiều so với Thiên Chúa giáo, là một cách chơi chữ, rất láo lếu. Chính điều này làm mất ý nghĩa bài chính luận về Mác.

    Hà Huy Toàn viết:
    22) Về tên gọi cho tôn giáo này, tôi xin giải thích rõ ràng hơn như sau: vì Kinh thánh nói Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc nên Christianity trong Anh văn hoặc nguyên gốc latin cần phải được chuyển dịch sang Việt ngữ thành Chúa giáo mới thật sát nghĩa, nếu chuyển dịch Christianity thành Thiên Chúa giáo thì “Thiên Chúa giáo” không thể hiện được hết ý nghĩa đích thực cho Christianity; vì Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Chúa Trời nên danh xưng này dễ làm cho người ta hiểu sai rằng Chúa chỉ có ở trên Trời, hiểu như vậy rất sai lạc so với Kinh thánh. Tức là trong quan hệ ý nghĩa với Christianity, Chúa giáo sát nghĩa hơn nhiều so với Thiên Chúa giáo: nếu Thiên Chúa giáo chỉ cho thấy Chúa ở trên Trời thì Chúa giáo lại phải cho thấy Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc (cả trên Trời lẫn dưới Đất, cả trong Ta lẫn ngoài Ta, cả Không gian lẫn Thời gian, v. v.). Đó chính là lý do thực tế để tôi chỉ nói Chúa giáo mà không nói Thiên Chúa giáo như nhiều người vẫn nói sai như vậy, nói như vậy vừa sai lạc vừa dài dòng, thừa chữ nhưng thiếu nghĩa.

    Qua hai bài đả kích Nho giáo và Mác giáo, chúng ta đang bị dắt tới chỗ ca ngợi Thiên chúa giáo. Tôi chán cả ba ngọn giáo này.
    Còn gì nữa, tác giả viết nốt ra đi, để bàn tiếp luôn thể.

    Tôi chẳng quan tâm duy vật, duy tâm. Nhưng như Mác nói, ai thừa nhận vật chất là "có trước" (nó sinh ra ý thức - chứa trong đầu óc ta) thì đó là người theo (cố ý, vô tình) chủ nghĩa duy vật.
    Ngược lại, ai coi ý thức có trước thì đó là người duy tâm. Ví dụ, có người bảo nói "chúa" sinh ra muôn loài. Nói vậy, cần định nghĩa "chúa" là gì.

    Lần này thì tác giả HHT “người Việt” đã nhận xét, phê phán gã triết gia “người Đức “ rậm râu của chị Phạm thị Hoài , thật quá đúng luôn ! Nội dung và tài liệu tham khảo rất nghiêm túc. Thanks.

    Hôm nọ có còm đâu đó về nước Đức, vốn chỉ nhắm vào bọn triết gia Đức , muốn nói rằng …tuy xuất phát điểm thường là là hay, là đúng….nhưng khi phát triển thêm lên đến một giới hạn nào đó, thường thấy lập luận của họ chuyển dần sang “phi nhân tính” . Đến đó là bắt đầu sai và ….đáng ghét ! - Thêm một chuyện nữa, ( và nhân bài của tác giả Song Chi về tính nhẹ dạ, cả tin…tức “hơi bị ngu” của “người Việt “) , với “người Đức rất chi…đẳng cấp” ta thử hỏi ,họ có nhẹ dạ cả tin và hơi ngu chăng, khi tự hỏi, phải có một lý do gì đó để con Ác quỷ Gobbel –“Tuyên huấn” của Đức quốc xã –nói thẳng rằng thì là “ Láo mãi thì điều láo toét cũng thành sự thật”? “Người Đức” của chị Hoài “phải thế nào thì Gobbel mới dám tâm đắc một điều ranh mãnh như thế chứ ?.“ - Người Đức” của chị Hoài lao vào cuộc chiến WWII đến nổi can kiệt “giống đực” sau chiến tranh, họ phải là “dân tộc thế nào mới tin nghe Hitler đến như thế chứ ??” ( He he, Cám ơn cụ Trọng)…
    Tán vui tí thôi, vì bộ phim “Người Việt và người Đức” có lẽ vẫn còn nhiều tập…Hì hì !

    Thật ra so sánh một dân tộc với một dân tộc thì luôn bế tắc, nếu không nói là khập khiễn, vô duyên – Nếu bất đắt dĩ muốn so sánh, thì hãy là trong một lĩnh vực cụ thể, một thời đại cụ thể và ở những giai tầng xã hội nhất định nào đó…vv, nghe còn có lý, ( tuy vẫn rất mơ hồ) . Việt cộng chẳng bao giờ mắc cái lỗi cơ bản ấy, họ chẳng hề dụng chạm đến (mà ngược lại còn rất trân trọng : “Nhân dân Mỹ yêu chuộng hoà bình, công lý” , “ nhân dân TQ anh em “ để VS giới chính trị ( giống họ) , nào là“ bọn diều hâu hiếu chiến”, “lũ sen đầm quốc tế”, tập đoàn bành trướng Bắc kinh”…Trong Chính trị, gần như mặc định, các dân tộc đều không có lỗi và đều là “phe ta”- bọn lãnh đạo luôn có lỗi và là “phe địch”- Mặc định này phổ biến và ít bị tranh cãi…(dù là một môi trường “ Không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn” )
    ----------
    Học thuyết CT-XH , trên tất cả , là dành cho đối tượng con người, nhưng khi đã mang bản chất “phi nhân tính” thì nó làm sao có thể phù hợp hay áp dụng với thế giới loài người được ?Con người coi trọng tính người hơn tính đảng là chuyện đương nhiên. Vì vậy, với “Duy vật biện chứng” , Marx lại càng không ngoại lệ đối với tính hoang tưởng trong chủ thuyết của mình.
    Tóm tắc lại vài ý đã từng còm : “Về lý thuyết, Mac-Lê là một học thuyết tranh đấu bạo lực. Trong Marx-Lê, phần này là chính, chiếm “tỉ trọng rất cao”. Trong “tư bản luận” , cái vị “Hoang tưởng học” tên K.Marx cũng có lang thang phân tích, phê phán những khuyết tật, những bất toàn của xã hội Tư bản hoang dã, nhưng :
    +Vì chủ quan “dừng dòng chảy của cuộc sống lại để phê phán” ông quên mất cả thứ “biện chứng” ông từng ca ngợi
    +Vì xuất phát từ một cái tư tưởng có cái gốc “công hữu, quốc hữu hóa” rất trái tự nhiên ,“phi thực tế, hoang đường” , nên ông quên nốt chữ “ khoa học” thường dùng làm trang sức. Đó là việc làm điên rồ và vô ích ! Điều đó phản tự nhiên và hoang tưởng, hoàn toàn “bất khả thi”.

    Thế nên , chủ thuyết ấy, với thứ “ biện chứng ảo” và phương pháp khoa học của mê tín, hoang tưởng”, đã không thể trở thành một học thuyết CT-XH đúng đắn cho sự phát triển chân thực, tự nhiên ,bền vững của một quốc gia.. Và chủ trương "bạo lực lật đổ” đối với mọi trật tự khác bằng việc cổ động, thúc đẩy, khích lệ những con người kém may mắn, vô học, thiếu hiểu biết…tiến hành thẳng tay những hàng động phi nhân, CN ấy trở thành một thứ học thuyết Chính trị bạo tàn, quá nguy hại cho Hòa bình và cho mọi sự Phát triển Tiến bộ .

    CN Mac-Lê trở thành nguồn gốc của “thãm họa diệt chủng”, của “ tội ác chống lại loài người” là vì thế, vì chính ở bản chất “ phi nhân tính” chứa đựng trong nó !

    Hà Huy Toàn viết:
    Rất nhiều người thiển cận thảm thương đã hồ đồ đồng nhất Chủ nghĩa Marx với Chúa giáo (Christianity), bao gồm Công giáo (Catholicism), Chính giáo (Orthodoxism), Tin lành (Protestantism

    Nhiều người đã phản biện, nhưng cách Hà Huy Toàn dùng từ trong bài viết này cũng như những bài viết trước, và từ đó nó phản ảnh một chủ tâm, hay một cố tình của anh này, miệt thị những người Thiên Chúa Giáo.

    "Christianity" là danh từ chung, trong tự điển hay cách xưng hô trong ngôn ngữ đọc hay ngôn ngữ viết tiếng Việt, thường được gọi là Thiên Chúa Giáo, hay Cơ Đốc Giáo hay Ki-tô Giáo, không ai gọi "Chúa Giáo" cả. Nhưng gọi Công giáo (Catholicism), Chính giáo (Orthodoxism), Tin lành (Protestantism) thì lại đúng bởi 3 tôn giáo này đều dựa trên lời dạy của Đức Giêsu thành Nazareth, qua niềm tin và cách thực hành. Khi được hỏi anh hay bạn theo tôn giáo nào, câu trả lời thường là Thiên Chúa Giáo, không ai nói Chúa Giáo cả trong tiếng Việt.

    Chính vì những điều này mà làm bài viết của anh này bị mất ý nghĩa, nó làm mất giá trị chính luận chủ đề.

    Triết học là cái con người cảm nhận về thế giới quanh mình và chính mình. Từ xưa tới nay đã có nhiều triết gia và nhiều trường phái triết học. Từ Áristotle đến Mác phương Tây. Từ Khổng đến Phật tại phương Đông.

    Không như khoa học với cân đo đong đếm chính xác. Triết học thường phạm sai lầm chủ quan. Cách duy nhất một lập thuyết có thể được kiểm nghiệm về độ chính xác là sự lập luận của chính nó có lỗ hổng so với thực tế đang biến thiên. Nhiều nước trên thế giới đã và đang đem chủ thuyết Mác vào đời sống. Thời gian thử nghiệm kéo dài gần 100 năm tại Liên Xô cũ và Đông Âu quá đủ để đưa tới kết luận. Mác sai hoàn toàn!!!

    Bàn về nó, đọc về nó giờ này có phí thời gian không?