Mai Văn Tỉnh - Góp ý nhân Dự thảo chương trình GD PT tổng thể

  • Bởi deholy
    13/08/2015
    1 phản hồi

    Lời nói đầu: Trước hết, người viết bài này không phải là chuyên gia làm chương trình Giáo dục phổ thông (GDPT), mà chỉ là có 45 năm làm giáo dục (17 năm dạy đại học và sau đó nghiên cứu và quản lý GD cấp Bộ (MOET) đã hưu trí, có vài ý kiến gửi trang Họcthênào tập hợp phản ánh giúp nhân dịp Bộ lấy ý kiến về bản “Dự thảo chương trình GDPT tổng quát” là một khâu mở đầu tiến trình đổi mới căn bản và triệt để GD&ĐT Việt nam theo NQ 29.

    I.- Vài câu hỏi ban đầu cho nhóm tác giả bản Dự thảo CT:

    1/ Tại sao Bộ không công bố danh tính Tổng chủ biên (hay nhóm tác giả) soạn Dự thảo chương trình này nếu như đã được chuẩn bị từ 2011 đến nay?

    2/ Để hội nhập hoá, đề nghị hãy dịch tên của “Dự thảo chương trình GDPT tổng thể” và những từ khoá chính (khái niệm, định nghĩa mới) sang tiếng Anh (hay đã lấy từ tiếng Anh) để công chúng và giới nghiên cứu khoa học GD biết nó được hội nhập ra sao với thế giới quanh ta?

    3/ Tính khoa học của dự thảo CT không thể hiện rõ vì không có chú thích nguồn tham khảo, nhất là những khái niệm then chốt như “phát triển năng lực và phẩm chất”, “năng lực ứng dụng CNTT”… (của tác giả nào? Chuẩn mực nào? kinh nghiệm hệ thống giáo dục nước nào, khu vực nào? năm nào, giai đoạn nào?). Chỉ thấy lắp đi lắp lại mấy Nghị Quyết Đảng, Chính phủ, Quốc hội cùng với kinh nghiệm quốc tế rất chung chung vốn chưa đi vào cuộc sống. Chuẩn (standard) và chuẩn mực (normatives) để đánh giá về chất và lượng giá kết quả đầu ra (outcome) của chương trình là cái mà tất cả các nước (Anh, Mỹ, Cannada, Úc, Singapore, Hàn quốc vvv đều chú trọng làm rõ trong xây dựng dương trình giáo dục của họ) lại không thấy trong Dự thảo CT?

    4/ Không rõ năng lực ban soan thảo CT như thế nào mà viết CT theo kiểu báo cáo truyền thống dài lê thê, cái cần thì thiếu, cái không cần thì thừa, trùng lặp làm rối mắt người đọc. (Bản hướng dẫn có 36 câu hỏi-đáp dài 36 trang, nếu tóm lại ý chính thì không quá 2 trang). Hãy vào xem chương trình GDPT Tiểu bang Quensland (Đông Úc), Tỉnh bang Saskatchuwan (Canađa) chỉ gần 3 trang điện tử với các chú giải thuật ngữ, xuất xứ khái niệm từ các chương trình mới cũ của các năm, khi cần người đọc chỉ cần nhấp chuột là ra hết một cách hệ thống các thuật ngữ. Cuốn National curriculum của Hàn quốc dày 130 trang có chương mục rõ ràng, rất dễ xem.

    5/ Tại sao trong Dự thảo chương trình không hề nói tới chuẩn đánh giá (evaluation) và tiêu chí lượng giá (assesment) kết quả đầu ra của từng cấp học? Không nêu ra chuẩn đánh giá năng lực và kết quả học tập học sinh (student achievement) theo từng năm học là điều mà bất cứ Chương trình GDPT của nước nào cũng đều nhắc tới, kể cả chương trình toàn cầu (Global curriculum) và Chương trình quốc gia (National curriculum) ví dụ như của Anh, Mỹ, Úc và Canađa và nhiều quốc gia khác. Ngay ở nước Mỹ, trong thập kỷ 90 của TK 20, để thiết kế CT và chuẩn GDPT mới cho TK 21, Chính phủ liên bang đã mời các nhà khoa học có giải Nobel về Toán-Lý.Hoá vv giúp đánh giá xác định lại chuẩn và lượng kiến thức cần cho GDPT.

    6/ Ban soan thảo CT của Bộ có tham khảo kết quả công bố mới nhất đánh giá PISA (cho tuổi dưới 15) về các kỹ năng đọc, đếm và khoa học liên quan đến gia đình (home) và kết quá đánh giá PIAAC (cho lứa tuổi 16-65) về các kỹ năng đọc, đếm, giải quyết vấn đề trong các môi trường giàu công nghệ (IT/ICT) liên quan làm việc (work) không? Và mối liên quan của Giáo dục nhà trường (schooling) tới cả hai kết quả đánh giá PISA và PIAAC này vào điều kiện cụ thể của Việt nam để làm cho NQ số 29 thục sự đi vào cuộc sống?

    7/ Ông Thứ trưởng GD có quá chủ quan không khi khẳng định trên phương tiện thông tin đại chúng rằng CT mới này chỉ trong vài năm thực hiện sẽ thành công ở 90% số trường? Dựa trên cơ sở nào? Liệu Bộ đã lường hết những khó khăn và sự rối loạn ở cơ sở khi thực hiện chưa? Ví dụ: bộ đã chắc có sẵn phần mềm quản lý môn tự chọn để điều hành hướng dẫn các trường, sở khi mà chỉ công bố kết quả thi PHTH đổi mới vừa qua còn lúng túng? Trong khi hệ thống GDPT của ta chưa áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ, làm sao các trường thiếu giáo viên dạy môn học sinh đăng ký, lại có thể gửi đi các học truờng khác? Tôi chỉ lấy một ví dụ nhỏ là những năm 90 khi áp dụng dạy theo tín chỉ ở bậc đại học, Bộ qui định các trường cho phép sinh viên đi học lấy tín chỉ môn học ở các trường khác, đều này về lý thuyết thì chỉ đúng cho quan chức ngồi văn phòng máy lạnh nghĩ và tưởng tưởng ra khi muốn bắt chước áp dụng cách quản lý phương Tây, nhưng trên thực thế các trường đều không cho sinh viên đi học lấy tin chỉ ở trường khác, ít nhất là đối với môn Mác-Lê là dễ quản lý nhất.

    8/ Khái niệm “Tổng thể” của Dự thảo CT GDPT này nên hiểu như thế nào cho đúng? Không thấy có mối liên hệ hay các lối rẽ nhánh nào cho học sinh vào các bậc học hay lĩnh vực GD khác như dạy nghề, chuyên nghiệp, cao đẳng/đại học trong cơ cấu khung chương trình Giáo dục quốc dân, Không thấy mối liên hệ rõ ràng giữa GD chính quy và GD phi chính quy, mặc dù có nói nhiều tới trải nghiệm sáng tạo ngoài trường.


    "... người mù chữ là người không có khả năng từ bỏ cái đã học và học cái mới...

    II.-Vài suy nghĩ liên quan đến đổi mới triệt để và toàn diện GD&ĐT Việt Nam.

    Là nhà khoa học không tham vọng làm chính trị, tôi không có thói quen trích dẫn Nghị Quyết. Nhưng tôi nghĩ cái NQ số 29 của ĐCS VN mà hầu như ai cũng để đầu môi chót lưỡi khi nói tới GD&ĐT giai đoạn này, thực ra đã khái quát hoá đấy đủ tính cấp bách phải đổi mới căn bản và triệt để nền GD&ĐT nước nhà. Nhưng hiểu thế nào cho đúng và làm thế nào cho hiệu quả để NQ này đi vào cuộc sống? Tâm đắc với tên gọi trang web Học thế nào của Gs Ngô Bảo Châu nên tôi thường xuyên đọc và tham gia nhận xét. Mỗi khi thiền quán miên man về khái niệm Giáo dục (Education) và Học (Learning), gần đây tôi bất chợt nhận thức HỌC (learning) quan trọng hơn GIÁO DỤC (Education) rất nhiều.

    Tại sao trong suốt cuối TK19 và đầu TK 20, do ảnh hưởng của phong trào Đông Kinh nghĩa thục các cụ trí thức nhà ta đã soạn ra “Văn minh tân Học sách” mà lại không gọi là “Văn minh tân Giáo sách”? Lúc đó, dưới ách thống trị hà khắc của thực dân, tác giả Văn minh tân học sách là cụ Ngô Đức Kế phải ẩn danh (xem “Tác giả Văn minh tân học sách là ai” trên hocthenao năm 2014). Rõ ràng là phải đi HỌC đã rồi mới GIÁO hoá cho người khác chứ. Cổ nhân từng nói “Nhân bất học bất như vật” (Người không học không được như con vật). Đến cái ông Lê nin kia kêu gọi “Học, học nữa, học mãi”! chứ có nói “Giáo, giáo nữa, giáo mãi” đâu! Vì Giáo mà không học thì là giáo điều, là nô lệ sách vở. Nhưng học theo kiểu tầm chương trích cú, nhồi sọ để thi cử, học để có bằng (thâm chí bằng rởm) ra làm quan, là nền Hư Học của những năm qua và nếu kéo dài nữa cũng chỉ phí công vô ích thôi.

    Khi đọc bài viết “Biến đổi giáo dục chính quy từ các bình diện học suốt đời” (Transformating formal education from lifelong learning perspectivees) của Rosa María Torres, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ecuađor, nhà nghiên cứu và chuyên gia (Think Tank) về “Giáo dục chính quy và Học suốt đời” (Formal Education and Lifelong Learling) (xem NEXUS Volume 9, UIL-NEXUS No 4, 2014), tôi thấy khái niệm HỌC (Learning) quả là vô cùng quan trọng. Bởi vì những nhận thức sau:

    a) Về khái niệm:

    • Learning (học) không phải để tiếp cận việc dạy/nghiên cứu/tán thành (teaching/studying/approving).
    • Học suốt đời (lifelong learning) không phải chỉ liên quan đến tuổi trưởng thành mà cả từ tuổi ấu thơ cho tới khi trưởng thành (bao gồm cả giáo dục chính qui);

    Về môi trường:
    Trong bất kỳ hệ thống tôn giáo, chính trị nào, việc HỌC SUỐT ĐỜI thông qua các phương tiện đại chúng (media), làm việc và Internet luôn chịu tác động của cộng đồng, gia đình và thiên nhiên.

    Theo kết quả nghiên cứu quốc tế, ở nhiều nước hệ thống giáo dục chính quy đang làm rất kém (poor job); ví dụ trên thế giớí có 130 triệu trẻ em học 4 năm ở trường Tiểu học không biết đọc và viết (theo báo cáo của EFA 2012). Trong khi các kỹ năng đọc và đếm vẫn tiếp tục là cực kỳ quan trong cho tất cả các lứa tuổi thì ở hầu hết các nước người lớn đã qua giáo dục nhà trường từ tuổi 16-65 có kỹ năng đọc và đếm kém (PIAAC, 2013).

    Một xã hội có nhiều người đến học ở trường (schooled) không chắc là một xã hôi có giáo dục (educated), trong khi đó một xã hội có giáo dục phải là một xã hội học tập (learning society). Bởi vì với nền giáo dục sai, nhồi nhét chữ nghĩa, sách vở , hư học chắc chắn không tạo ra những con người học thật sự có ích cho xã hội.

    Do đó chúng ta phải chuyển từ tiếp cận giáo dục sang HỌC (from access to learning), từ học sinh/sinh viên (student) sang người học (learner), từ nghiên cứu (studying) sang học (learning), từ tán thành (approving) sang HỌC (learning) tức là phải có năng lực tự học. Cố Thủ tướng Phạm văn Đồng từng nói: “Trường đại học chỉ dạy sinh viên cách mở sách,”, còn quan trọng là sau khi ra trường, sau giáo dục chính quy (formal education) con người có khả năng làm đuọc cái gì cho bản thân, cho gia đình và xã hội?

    Điều quan trọng nhất là phải thiết kế hệ thống giáo dục chính quy và giáo dục phi chính quy trong tổng thể nền giáo dục quốc dân xuyên suốt các bậc học sao cho có liên thông/khớp nối (articulating) tất cả, kể từ GD ban đầu/tiền học đường (initial/pre- school education) cho tới GD bậc cao (tertiary education), đồng thời cần chú ý tất cả các bình diện (dimensions): chương trình (curriculum), quản trị (administration), các chuẩn mực (normatives), không gian học tập, đào tạo giáo viên, lịch trình học tập vv….

    Phải tư duy lại một cách triệt để GD bằng cách quay ngược lại quy trình;

    GD tiền học đường => GD Tiểu học => GDTH => GD bậc ba (CĐ/ĐH) thành :

    GD tiền học đường <= GD Tiểu học <= GDTH <= GD bậc ba (CĐ/ĐH).

    Phải gắn/kết nối giáo dục nhà trường với các hệ thống (phương thức) giáo dục đa dạng khác là những hoạt động ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng, đa phương tiện, vui chơi giải trí, làm việc thực tập, hoạt động tôn giáo, tham gia công tác xã hội và dân sự vvv) rất đa dạng trong cuộc sống ở mọi nơi.

    Tạo ra các trung tâm tư duy (thinking centers) chính là các trung tập học tập cộng đồng (giao lưu giữa các thế hệ già trẻ, lấy gia đình dòng họ làm trung tâm, trong đó lấy HỌC là trung tâm) để nhằm phát triển các kỹ năng.

    Trên toàn cầu và mỗi quốc gia đang cố gắng đổi mới Giáo dục, nhưng thiết nghĩ cái quan trọng nhất là phải nhận thức được mối quan hệ giữa GD chính qui trong nhà trường với GD phi chính quy để tạo ra năng lực học tập suốt đời cho mọi công dân ở mọi lứa tuổi. Đổi mới triệt để và căn bản giáo dục và đào tạo chính là phải chú ý quay ngược lại hai chữ cái E và L trong từ CÁCH MẠNG bằng tiếng Anh REVOLUATION như sau:


    Tiêu chí đổi mới triệt để và căn bản giáo dục và đào tạo...

    Với phương châm phải HỌC để biết làm người (LEARNING to be knowing) trước đã rồi hãy đi GIÁO (EDUCATION) người khác.

    Để thay lời kết luận, xin dẫn câu nói của nhà tương lai học Alvin Toffler : “Những người được xem là mù chữ trong thế kỷ 21 không phải là những người không biết đọc biết viết, mà là những người không có khả năng từ bỏ cái đã học và học cái mới”./

    Hà Nội, 09/8/2015

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Giáo dục bị khống chế bởi chính trj và dựa vào chỉ đạo là một nền giáo dục hỏng. Bao nhiêu nghị quyết của đảng cs làm được gì cho giáo dục ở miềm bắc từ 1954 và cả nước sau 1975, nếu không muốn nói là nát bét. Dự thảo CT GDPT được xây dựng dựa trên NQ 29 của đảng cs, không hỏng thì cũng hư, trông mong được gì việc đổi mới toàn diện nền giáo dục. Tác giả phân tích nhiều điều hay và có lý nhưng vẫn chưa thoát được não trạng lệ thuộc đảng. ''Đưa nghị quyết vào cuộc sống'', đó là cụm từ vô nghĩa và vô lý nhất. Sao không phải là NQ phải theo cuộc sống, dựa trên cuộc sống và phục cụ cho cuộc sống.