Hà Huy Toàn - Nho Giáo: Một hệ tư tưởng nguy hiểm (1)

  • Bởi Admin
    11/08/2015
    36 phản hồi

    Hà Huy Toàn, cộng tác viên Dân Luận

    Nho giáo (còn được gọi là Khổng giáo mà theo tiếng Anh gọi là Confucianism) là một hệ tư tưởng lấy Nho gia hoặc Nho sỹ làm căn bản cho mình, bao gồm các chuẩn mực về đạo đức, triết lýtôn giáo, được thực hành nhằm bảo tồn một nền chuyên chế bền vững, theo đó cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, đều được tập trung vĩnh viễn vào một cá nhân duy nhất được gọi là Vua hoặc Thiên tử.

    Theo Hán tự, chữ “Nho” (儒) được tạo thành bởi chữ “Nhân” (亻, tức là Người) ghép với chữ “Nhu” (需, tức là Cần thiết hoặc Nhu cầu). Chuyển dịch đầy đủ, “Nho” có nghĩa là người cần thiết cho việc gì đó hoặc người cần được dùng vào việc nào đó. Từ đó suy ra rằng, “Nho” có nghĩa là con người công cụ hoặc con người được dùng làm phương tiện (cho người khác sử dụng). Quả thật, thực tế xã hội đã chứng thực rằng, nho sỹ (hoặc “nhà nho” theo Việt ngữ) chẳng qua chỉ là người cần thiết để các vua chúa trị nước mà thôi, tức là tầng lớp được đào tạo để làm tay sai hoặc đầu sai cho vua chúa cai trị tất cả các tầng lớp dưới (vì tầng lớp nho sỹ “có học” hoặc chỉ làm việc bằng đầu óc nên nói “đầu sai” sẽ chính xác hơn nói “tay sai”). Vậy Nho giáo (儒 教) chính là một hệ tư tưởng vong thân, tức là cái hệ tư tưởng làm cho người ta bị mất mình [1].

    Khổng Tử chỉ là một trong nhiều người đã tham gia phát triển Nho giáo nhưng đã đóng góp nhiều nhất khiến Nho giáo được hiểu thành Khổng giáo như đã thấy về thuật ngữ ở trên.

    Nho giáo rất phát triển ở Đông Á châu, bao gồm nước Tàu, Việt nam, Triều tiên, và Nhật bản. Ở đó, những người chuyên thực hành các chuẩn mực tín điều được xác lập bởi Nho giáo được gọi là Nho sỹ, hoặc nhà Nho theo Việt ngữ.

    Ở Việt Nam hiện nay có khoảng từ 60% đến 70% dân số theo Nho giáo, chưa kể một số đáng kể tín đồ thuộc về các tôn giáo khác tuy tụng niệm kinh bổn theo các tôn giáo khác nhưng vẫn suy nghĩ hoặc hành xử theo Nho giáo như một tập quán lâu đời. Đó chính là lực cản lớn nhất đối với công cuộc dân chủ hóa tại Việt Nam. Người ta có thể dễ dàng nhận thấy Chủ nghĩa Marx – Lenin tai ác như thế nào khiến người ta dễ dàng từ bỏ Chủ nghĩa Marx – Lenin nhưng thật khó mà nhận thấy Nho giáo tai ác như thế nào khiến người ta rất khó từ bỏ Nho giáo.

    Nói đến Nho giáo, phải nói đến Nho gia. Nho gia cấu thành cốt lõi cho Nho giáo lấy quân tử làm trung tâm. Để tổ chức xã hội theo Nho giáo, nhất thiết phải đào tạo bằng được người cai trị kiểu mẫu được gọi là quân tử. Quân tức là kẻ làm vua, còn quân tử là tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với “tiểu nhân” hoặc những người thấp kém về địa vị xã hội. Sự thể này cho thấy Nho giáo lấy những người cầm quyền làm đối tượng trung tâm cho mình.

    Để trở thành quân tử, trước hết người ta phải “tự đào tạo” hoặc phải “tu thân” theo Tam Cương. Tam Cương được lấy làm điểm xuất phát cho quá trình tu thân đồng thời cũng được lấy làm điểm hồi quy cho quá trình đó. Trong quá trình tu thân, nam giới phải đạt được Ngũ Thường khiến nữ giới phải Tam Tòng để đạt được Tứ Đức. Xong quá trình tu thân, quân tử phải “hành đạo”, tức là hành xử theo Đạo.

    Đạo không đơn giản chỉ có đạo lý, Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức khiến Đạo ở đây bao hàm cả nguyên lý chung cho vũ trụ vận hành, nguyên lý đó được xác lập bởi Nho gia (hoặc như họ tự xác quyết mình đã phát hiện được) đòi hỏi phải được hiểu theo ý nghĩa nho giáo đồng thời cũng đòi hỏi mọi người phải tuân theo để đạt được Đạo. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào nhân loại sẽ biểu hiện thành Mệnh hoặc Mệnh Trời làm cho mỗi người có một số mệnh. Trời chỉ giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là kẻ nào nắm được đạo trời hoặc biết sợ mệnh trời sẽ có mệnh làm vua. Vậy về mặt chính trị, Đạo biểu hiện cụ thể thành nguyên tắc chuyên chế.

    Tu thân

    hahuytoan.jpg
    Tác giả Hà Huy Toàn.

    Đó là quá trình giáo dục bắt buộc mọi người phải học tập Tam Cương để nam giới đạt được Ngũ Thường khiến nữ giới phải Tam Tòng để đạt được Tứ Đức. Nho giáo lấy Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức, làm chuẩn mực nền tảng cho mọi sinh hoạt xã hội: từ chính trị đến cả kinh tế lẫn tư tưởng. Tam Cương cùng với Ngũ Thường là lẽ đạo đức đòi hỏi nam giới phải tuân theo để bảo đảm một xã hội ổn định. Tam Tòng cùng với Tứ Đức là lẽ đạo đức được áp đặt cho nữ giới phải tuân theo cũng chỉ để bảo đảm một xã hội ổn định. Khổng Tử cho rằng nếu mọi người đều giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức, thì xã hội được an bình.

    1/ Tam Cương: TamBa, CươngGiềng mối. Tam Cương tức là ba mối quan hệ bền vững: quân thần (quan hệ giữa vua chúa với tôi tớ), phụ tử (quan hệ giữa cha với con), phu phụ (quan hệ giữa vợ với chồng); trong đó tôi tớ phải phục tùng vua chúa, con phải phục tùng cha, vợ phải phục tùng chồng. Cả ba trường hợp đó đều chỉ có sự phục tùng tuyệt đối, tức là sự phục tùng vô điều kiện. Trong xã hội chuyên chế lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, các mối quan hệ này được xác lập theo những nguyên tắc chết người. (a) Quân thần: “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, có nghĩa là dù vua chúa có bảo tôi tớ chết, tôi tớ cũng phải tuân lệnh; nếu tôi tớ không tuân lệnh thì tôi tớ không trung thành với vua chúa; tôi tớ phải trung thành tuyệt đối với vua chúa. Trong quan hệ vua tôi, vua chúa thưởng phạt luôn luôn công minh, còn tôi tớ luôn luôn trung thành một dạ. (b) Phụ tử: “phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”, có nghĩa là cha khiến con chết, con phải chết; nếu con không chết thì con không có hiếu với cha. (c) Phu phụ: “phu xướng phụ tùy, phụ bất tuỳ bất nghĩa”, có nghĩa là nếu chồng nói ra điều gì thì vợ phải tuân theo điều đó, nếu vợ không theo thì vợ không có nghĩa với chồng. Xã hội vốn dĩ được cấu thành bởi nhiều quan hệ khác nhau nhưng Nho giáo khái quát tất cả các quan hệ đó thành Tam Cương [2].

    2/ Ngũ Thường: NgũNăm, ThườngHằng có. Ngũ Thường là năm điều hằng có ở đời, bao gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. (Nhân: lòng yêu thương đối với muôn loài hoặc vạn vật. Nghĩa: cư xử công bình theo lẽ phải với mọi người. Lễ: tôn trọng người khác hoặc hòa nhã trong khi cư xử với mọi người. Trí: thông hiểu lý lẽ hoặc biết phân biệt thiện với ác, hoặc biết phân minh đúng với sai. Tín: giữ đúng lời hoặc đáng tin cậy).

    3/ Tam Tòng: TamBa; TòngTheo. Tam Tòng là ba điều đòi hỏi nữ giới phải tuân theo, bao gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” (Tại gia tòng phụ: nữ giới khi còn ở nhà phải theo cha. Xuất giá tòng phu: nữ giới lấy chồng phải theo chồng. Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời thì nữ giới phải theo con trai), để rồi mới có thể đạt được Tứ Đức.

    4/ Tứ Đức: TứBốn; ĐứcTính Tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt đòi hỏi phải có ở nữ giới, bao gồm: Công, Dung, Ngôn, Hạnh, (Công: khéo léo trong việc làm. Dung: hòa nhã trong sắc diện. Ngôn: mềm mại trong lời nói. Hạnh: nhu mỳ trong tính nết).

    Trong quá trình tu thân, người quân tử phải đạt được ba điều:

    a/ Đạt đạo. Đạo ở đây có nghĩa là “con đường” hoặc “phương cách” để người quân tử ứng xử trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung), tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu”. Đó chính là Ngũ Thường hoặc Ngũ Luân. Trong xã hội, cách thức cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy nhiên, đến Hán Nho, Ngũ Luân được quy tập lại thành Tam Cương hoặc Tam Tòng chỉ còn bao gồm ba mối quan hệ quan trọng nhất như đã thấy: quân thần, phụ tử, phu phụ.

    b/ Đạt đức. Quân tử phải đạt được ba đức: “NhânTríDũng”. Khổng Tử nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận Ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay “Dũng” bằng hai đức khác: “Lễ” và “Nghĩa”, làm cho ba đức trở thành bốn đức: “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí”. Hán Nho xác lập thêm “Tín” để có tất cả năm đức hợp thành Ngũ Thường như đã thấy ở trên: “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”.

    c/ Biết về Thi, Thư, Lễ, Nhạc. Ngoài các tiêu chuẩn thuộc về cả “đạo” lẫn “đức”, người quân tử còn phải thành thạo về “thi, thư, lễ, nhạc”, tức là người quân tử còn phải có vốn văn hóa toàn diện theo Nho giáo.

    Hành đạo

    Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan hoặc làm chính trị theo nguyên tắc chuyên chế, theo đó nếu kẻ nào có mệnh làm vua chúa thì làm vua chúa hoặc nếu kẻ nào không có mệnh đó thì phải làm đầu sai hoặc tay sai cho vua chúa mới đạt được Đạo vốn chỉ có thể phải được hiểu thành Đạo Nho giáo, tức là Đạo Nô lệ hoặc Đạo Vong thân, làm cho người ta bị mất mình hoặc bị hoà tan thành nguyên tắc chuyên chế vốn nghiệt ngã cùng cực. Nguyên tắc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc, thiên hạ bình”, tức là phải hoàn thành từ những việc nhỏ – gia đình, cho đến việc lớn – trị quốc, rồi cuối cùng phải bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho người quân tử hành xử trong việc cai trị bao gồm hai phương châm: Nhân trị cùng với Chính danh. Nhân trị là cai trị bằng tình người, trong đó: nhân được xác định là tình người, là yêu người hoặc coi người khác như chính mình. Khi trả lời Trọng Cung hỏi thế nào là nhân, Khổng Tử nói: “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, tức là nếu mình không muốn điều gì thì đừng làm điều đó cho người khác (sách Luận Ngữ). Nhân được coi là điều cao nhất cho luân lý hoặc đạo đức. Khổng Tử nói: “nếu người không có nhân thì lễ mà làm gì, nếu người không có nhân thì nhạc mà làm gì?” (sách Luận Ngữ). Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi theo đúng cái tên đã được đặt cho nó, theo đó mỗi người phải làm đúng chức phận đã được quy định cho mình. “Nếu danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành” (sách Luận Ngữ). Khổng Tử nói với vua Tề Cảnh Công: “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”, tức là vua chúa phải ra vua chúa, tôi tớ phải ra tôi tớ, cha phải ra cha, con phải ra con (sách Luận Ngữ). Đó chính là những điều quan trọng nhất cấu thành các kinh sách cho Nho giáo, chúng được đúc kết thành chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đến lượt mình, chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ việc cai trị mà thôi.

    Lúc đầu “quân tử” có nghĩa là người cai trị hoặc người có đạo đức (theo quan điểm nho giáo) đồng thời cũng thành thạo về thi, thư, lễ, nhạc. Về sau, “quân tử” còn được dùng để chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người nào có phẩm chất cao thượng hoặc phẩm chất tốt đẹp theo quan điểm nho giáo sẽ được gọi là “quân tử”, phân biệt với “tiểu nhân” bao gồm những người nào thiếu đạo đức hoặc có đạo đức chưa hoàn thiện (cũng theo quan điểm nho giáo). Cả “tiểu nhân” lẫn “quân tử” đều cho thấy Nho giáo lấy sự khác nhau giữa người với người làm phương pháp luận cho mình, tức là xuất phát từ sự khác nhau đó để bảo tồn sự khác nhau đó đồng thời lập luận bằng sự khác nhau đó để đạt được mục đích đó, Nho giáo bỏ qua hoàn toàn mà không hề thấy sự giống nhau giữa người với người.

    Muốn hiểu được đúng đắn về Nho giáo hoặc muốn xác định được giá trị đích thực cho Nho giáo, nhất thiết phải hiểu được đúng đắn nhân loại có bản chất như thế nào đồng thời phải hiểu được đúng đắn về đời sống chính trị. Một lý thuyết khoa học về đời sống chính trị sẽ soi sáng tất cả những giá trị nền tảng cấu thành Nho giáo [3].

    Vừa nghiên cứu lý thuyết vừa trải nghiệm thực tế, tôi nhận thấy nhân loại bao gồm tất cả các cá nhân vừa khác nhau vừa giống nhau: khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần nhưng giống nhau về bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết, biểu hiện cụ thể qua mỗi cá nhân nhất định thành bản tính vị kỷ. Bản tính vị kỷ chỉ tốt đẹp khi thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp hoặc chỉ xấu xa khi thúc đẩy người ta làm điều xấu xa. Điều xấu xa gây hại cho nhân loại đối lập với điều tốt đẹp làm lợi cho nhân loại. Nho giáo chỉ có thể thấy được sự khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần giữa các cá nhân mà không hề thấy sự giống nhau về bản tính vị kỷ giữa họ, lại càng không thấy được bản tính vị kỷ có tính chất hai mặt như trên. Đó là một khuyết tật nghiêm trọng làm cho Nho giáo trở thành một trong những triết lý phiến diện nhất.

    Bản tính vị kỷ biểu hiện thành xu hướng tâm lý lấy mình làm mục đích đồng thời lấy mọi thứ khác làm phương tiện để thoả mãn mình; xu hướng đó biểu hiện thành ba phẩm chất cơ bản: ích kỷ, tư lợitham lam. Nho giáo không bao giờ thấy được cái sự thật hiển nhiên như thế. Không thấy được cái sự thật hiển nhiên ắt sẽ không tránh khỏi sự mê lầm dối trá. Không tránh khỏi sự mê lầm dối trá đương nhiên phải trở thành một hệ tư tưởng vong thân, tức là cái hệ tư tưởng làm cho người ta bị mất mình.

    Với bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợi và tham lam, người ta sẵn sàng làm hại lẫn nhau đòi hỏi phải có pháp luật để ngăn ngừa mỗi cá nhân nhất định gây nên tổn thất cho các cá nhân khác trong khi theo đuổi mục đích riêng: tìm kiếm phương tiện riêng để thoả mãn nhu cầu riêng; đồng thời khuyến khích mỗi cá nhân đó sẵn sàng phục vụ các cá nhân khác để mình cũng được thoả mãn nhu cầu riêng.

    Pháp luật (hoặc luật pháp) là những quy tắc xử sự theo nguyên tắc bình đẳng mang tính chất bắt buộc đối với mọi cá nhân cấu thành xã hội được quy định chung đồng thời được bảo đảm thực hiện bởi ý chí chung biểu hiện thành những chuẩn mực cụ thể về quyền lợi kèm theo nghĩa vụ tương ứng với quyền lợi: được làm gì, đồng thời phải làm gì.

    Nho giáo thấy được cái tất yếu về sự cần thiết phải có pháp luật nhưng vì không thấy được cái sự thật hiển nhiên nói trên nên nó không thể hiểu được rằng pháp luật có thể nghiêm minh nhưng cũng có thể mù quáng. Nho giáo bắt đầu gây ra tai hoạ từ chính điểm này.

    Muốn pháp luật, trước hết phải làm ra pháp luật; làm ra pháp luật rồi lại phải sử dụng pháp luật; trong khi sử dụng pháp luật lại phải giữ gìn hoặc bảo vệ pháp luật. Nhưng muốn làm được ba việc đó lại đòi hỏi phải có ba quyền lực tương ứng: quyền lực lập pháp, quyền lực hành phápquyền lực tư pháp; trong đó quyền lực lập pháp bao hàm cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp hoặc nếu không có quyền lực lập pháp thì tuyệt đối không thể có cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp; chính vì bao hàm cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp nên quyền lực lập pháp có hai chức năng đối lập nhau: chức năng quy định đối lập với chức năng ngăn cản; chức năng quy định là chức năng tự mình ra lệnh hoặc tự mình sửa lại quyết định đã được đưa ra bởi người khác; chức năng ngăn cản là chức năng làm vô hiệu hoá quyết định đã được đưa ra bởi người khác, nhưng nếu đã có thể ngăn cản được thì cũng có thể phê chuẩn được, mà đã phê chuẩn tức là lại không ngăn cản nữa [4]. Mối quan hệ giữa ba quyền lực đó sẽ cấu thành ba trật tự khác nhau để tổ chức xã hội.

    Trật tự thứ nhất được gọi là chính thể chuyên chế, theo đó cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, đều được tập trung cả vào một cá nhân duy nhất hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ, trong đó lại chỉ có một cá nhân duy nhất làm thủ lĩnh nắm quyền quyết định, tức là xét đến cùng chính thể chuyên chế chỉ tập trung cả ba quyền lực đó vào một cá nhân duy nhất mà thôi. Cá nhân đó được gọi là nhà độc tài (dictator), tức là một người quyết định mọi việc. Nhà độc tài tập hợp một đám tay chân thân tín thành nhà nước chuyên chế hoặc nhà nước độc tài; trên cơ sở đó, nhà độc tài chỉ làm ra mệnh lệnh rồi lại sử dụng mệnh lệnh đồng thời bảo vệ mệnh lệnh mà không thể làm ra pháp luật rồi lại không thể sử dụng pháp luật đồng thời cũng không thể bảo vệ pháp luật. Mệnh lệnh biểu hiện thành vài ba quy tắc độc đoán, các quy tắc đó chỉ biểu hiện ý chí riêng cho chính nhà độc tài đồng thời chỉ bảo đảm lợi ích cho một số ít cá nhân nào đó (một số ít cá nhân đó bao gồm nhà độc tài cùng với đám tay chân thân tín làm tay sai cho chính nhà độc tài). Theo bản tính vị kỷ thúc đẩy, nhà độc tài sẽ chỉ làm ra mệnh lệnh bằng các phương pháp ngẫu hứng, rồi sử dụng (thi hành) mệnh lệnh bằng các phương pháp tuỳ tiện đồng thời bảo vệ mệnh lệnh bằng các phương pháp xiêu lệch, hãy nhớ lại câu chuyện dụ ngôn về chiếc Nhẫn Thần sẽ hiểu được ngay về cái tất yếu đó [5]. Chính vì chỉ có mệnh lệnhkhông có pháp luật nên chính thể chuyên chế chỉ tồn tại được với ba điều kiện cơ bản: bạo hành, cướp bócdối trá. Ba điều kiện đó bổ sung cho nhau đồng thời dẫn đến ba hệ quả tương ứng: khiếp sợ, bất côngngu dốt. Sự thể như sau: bạo hành gây nên sự khiếp sợ (nhà độc tài phải bạo hành với dân chúng làm cho dân chúng khiếp sợ mà phục tùng nhà độc tài, nếu nhà độc tài không bạo hành với dân chúng thì dân chúng sẽ không phục tùng nhà độc tài), cướp bóc gây nên sự bất công (nhà độc tài phải cướp bóc dân chúng làm cho nhà độc tài trở nên giàu có nhưng dân chúng lại trở nên nghèo khó, nếu không cướp bóc thì nhà độc tài sẽ không có phương tiện để cai trị dân chúng), dối trá gây nên sự ngu dốt (nhà độc tài phải dối trá với dân chúng làm cho dân chúng ngu dốt mà chấp nhận làm tôi tớ cho nhà độc tài, nếu nhà độc tài không dối trá với dân chúng thì dân chúng sẽ chỉ đòi hỏi quyền lợi cho mình mà không muốn phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhà độc tài, tức là dân chúng sẽ đòi hỏi được bình đẳng với nhà độc tài). Mệnh lệnh nhằm bảo tồn mâu thuẫn đối kháng giữa người cai trị với người bị cai trị vốn chỉ biểu hiện thành các quy tắc độc đoán không chỉ gây nên xung đột giữa nhà độc tài với dân chúng mà còn gây nên xung đột giữa cá nhân này với cá nhân khác, từ đó gây nên xung đột giữa nhóm người này với nhóm người khác, làm cho mọi cá nhân đều bị đau khổ như nhau; tức là các quy tắc đó không chỉ ngăn cản người ta làm điều tốt đẹpcòn thúc đẩy người ta làm điều xấu xa làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính xấu xa. Bằng mệnh lệnh, chính thể chuyên chế gò ép mỗi cá nhân nhất định vào một khuôn khổ biệt lập phải sống bằng kinh tế tự túc làm cho mỗi cá nhân đó trở thành một phần tử cô lập hoặc một cá nhân phi xã hội [6]. Hệ quả này cho thấy mệnh lệnh không những không nhắm đếncòn đi ngược lại mục đích chân chính đã được đề ra từ trước cho pháp luật, tức là chính thể chuyên chế làm cho pháp luật trở thành con số không với các điều luật loại trừ nhau, theo đó các điều luật công bằng bị vô hiệu hoá bởi các điều luật xiêu lệch hoặc các điều luật bất công. Hãy làm một phép toán đơn giản để hiểu biết được đúng đắn sự thể đó: aa = 0 hoặc a + (– a) = 0, từ đó suy ra rằng chính thể chuyên chế không có pháp luật hoặc pháp luật không thể tồn tại được với chính thể chuyên chế. Nếu nhà nước chuyên chế (nhà độc tài cũng như vua chúa) bày đặt pháp luật thì pháp luật phải mù quáng cùng cực với các điều luật loại trừ nhau như đã nói ở trên kia để rồi trở thành pháp luật mù quáng hoặc pháp luật tự phủ định chính mình. Chính vì không có pháp luật hoặc chỉ quy pháp luật về bạo lực nên chính thể chuyên chế làm cho nhà nước chuyên chế hoặc nhà nước độc tài trở thành nhà nước bạo quyền, tức là nhà nước đó chỉ tồn tại bằng bạo lực: được thiết lập bằng bạo lực đồng thời được bảo tồn bằng bạo lực cũng như chỉ quản lý bằng bạo lực đồng thời bị quản lý bằng bạo lực. Bạo lực làm cho đa số dân chúng khiếp sợ mà phục tùng thiểu số cái trị. Đây chính là nguyên tắc cơ bản cho chính thể chuyên chế [7]. Ở Việt nam hiện nay, bạo lực thường được gọi bằng một danh từ đặc thùLuật Rừng làm cho người ta hiểu được rằng nhà nước bạo quyền có thể có hẳn cả một Rừng Luật nhưng nhà nước đó chỉ có thể phải sử dụng Luật Rừng mà thôi. Chừng nào mỗi cá nhân nhất định vẫn có thể tự thoả mãn được mình trong khuôn khổ biệt lập, chừng đó chính thể chuyên chế còn có thể yên tâm tồn tại được. Nhưng nếu nhu cầu mà mở rộng hơn khuôn khổ đó khiến mỗi cá nhân nhất định phải thoả mãn mình bằng những phương tiện cần thiết bên ngoài khuôn khổ đó mới tồn tại được thì chính thể chuyên chế sẽ bị đe doạ bởi các nguy cơ thầm kín đến từ mỗi cá nhân nhất định, mỗi cá nhân đó sẽ tự phát phá vỡ cái khuôn khổ biệt lập đang giam hãm mình: cá nhân này sẽ trao đổi hoạt động với các cá nhân khác để thoả mãn mình, kinh tế đổi chác sẽ thay thế kinh tế tự túc.

    Trật tự thứ hai được gọi là chính thể quý tộc, theo đó ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, được phân chia cho hai cơ quan khác nhau: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp đồng thời thực hiện cả quyền lực tư pháp đối lập với cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp đồng thời cũng thực hiện cả quyền lực tư pháp, làm cho cơ quan này có thể bị xét xử bởi cơ quan kia. Chính vì cùng thực hiện quyền lực tư pháp làm cho cơ quan này có thể bị xét xử bởi cơ quan kia nên cơ quan lập pháp chỉ thực hiện được nửa vời quyền lực lập pháp cũng như cơ quan hành pháp chỉ thực hiện được nửa vời quyền lực hành pháp mà thôi. Cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, đều chỉ được thực hiện nửa vời làm cho chính thể quý tộc cũng không có pháp luật, y như chính thể chuyên chế, mà chỉ có các quy tắc nửa vời. Các quy tắc này làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo danh diện (bao gồm cả danh dự lẫn thể diện), theo đó mỗi người phải biết hành xử theo một chuẩn mực riêng được quy định cho mình phải làm mà không được hành xử theo các chuẩn mực khác được quy định cho người khác phải làm, tức là chính thể quý tộc chỉ có thể tồn tại được bằng danh diện. Danh diện chỉ đòi hỏi một điều kiện duy nhất, đó là sự điều độ, theo đó cái gì cũng phải điều độ. Nhưng vì cá nhân nào cũng có bản tính vị kỷ: ích kỷ, tư lợitham lam, nên tuyệt đối không thể có cái gì làm tiêu chuẩn hoặc cơ sở cho sự điều độ. Sự điều độ không có cơ sở nào hoặc tiêu chuẩn nào để hiện hữu làm cho chính thể quý tộc chỉ tồn tại mập mờ mà thôi, tức là chỉ được xác định tương đối. Thực tế cho thấy chính thể quý tộc chỉ làm bước quá độ giữa chính thể chuyên chế với chính thể dân chủ. Chính vì chỉ làm bước quá độ như vậy nên chính thể quý tộc còn có thể biểu hiện thành chính thể quá độ hoặc chính thể nửa vời. Chính thể nửa vời chỉ có thể tồn tại mập mờ với nhiều hình thái khác nhau nhưng có lẽ chính thể này biểu hiện rõ rệt nhất thành nền chuyên chế giai cấp hoặc nền dân chủ giai cấp, như nền dân chủ tư sản cũng như nền dân chủ chủ nô, v. v.. Nền chuyên chế giai cấp đòi hỏi phải tập trung cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vào một giai cấp nhất định để giai cấp này thống trị tất cả các giai cấp khác. Việc tập trung cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vào một giai cấp nhất định lại đòi hỏi phải phân chia đồng đều cả ba quyền lực kia cho tất cả các cá nhân khác nhau hợp thành giai cấp đó, tức là phải áp dụng chính thể dân chủ cho giai cấp đó, để nền chuyên chế giai cấp phải biểu hiện trái ngược thành nền dân chủ giai cấp. Do có tính chất nửa vời: vừa chuyên chế vừa dân chủ, hoặc chỉ bào đảm quyền lợi cho giai cấp thống trị đồng thời áp đặt nghĩa vụ cho các giai cấp bị thống trị nên chính thể quý tộc không thể có pháp luật theo đúng ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó vốn đã được định nghĩa ở trên kia mà chỉ có các quy tắc nửa vời: vừa độc đoán vừa nghiêm minh, biểu hiện thành các đạo luật nửa vời: vừa mù quáng vừa nghiêm minh. Chính các quy tắc đó đã giải thích được tại sao lại xảy ra cuộc Nội chiến ở Mỹ từ năm 1861 đến năm 1865 hoặc tại sao nền dân chủ chủ nô ở cả Hy lạp lẫn La mã vào thời đại cổ xưa phải bị suy vong sau khi đã phát triển cùng cực bằng tinh lực hạn chế được tạo ra bởi một số ít quy tắc nghiêm minh trong các đạo luật nửa vời [8].

    Trật tự thứ ba được gọi là chính thể dân chủ, theo đó ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, được phân chia độc lập với nhau cho ba cơ quan khác nhau: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành phápcơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp; ba cơ quan đó cấu thành nhà nước dân chủ, tức là nhà nước dân chủ phải được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền để ngăn ngừa quan chức nhà nước lạm dụng quyền lực nhà nước [9]. Do quyền lực lập pháp có hai chức năng đối lập nhau: chức năng quy định đối lập với chức năng ngăn cản, nên cơ quan lập pháp phải được phân chia thành hai thiết chế khác nhau: Thượng Nghị viện phân biệt với Hạ Nghị viện về cả số lượng thành viên lẫn nhiệm kỳ hoạt động. Để ngăn chặn sự liên kết bất chính giữa ba cơ quan đó, chính thể dân chủ phải có nguyên tắc đa nguyên bình đẳng biểu hiện thành nhiều đảng phái khác nhau hoạt động bình đẳng theo nguyên tắc đa nguyên để nếu một nhóm người nào đó mà nắm được cả ba quyền lực kia thì nhóm người đó sẽ phải bị kiểm sát chặt chẽ (kiểm tra kết hợp với giám sát) bởi tất cả các nhóm người khác, làm cho ba cơ quan kia phải thật sự độc lập với nhau để cùng nhau thực hiện ý chí chung. Tiếp theo, muốn cho nguyên tắc đa nguyên bình đẳng được thực hiện triệt để, chính thể dân chủ phải có chế độ bầu cử tự do để ngăn ngừa được tệ nạn quan liêu trong nhà nước dân chủ hoặc bảo đảm được sự bình đẳng thật sự giữa nhà nước dân chủ với toàn thể nhân dân bao gồm mọi cá nhân đều được quy định thành công dân; chế độ bầu cử tự do làm cho người ta lựa chọn được những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng làm cho người lãnh đạo chỉ phụ thuộc vào nhân dân mà phải phục vụ nhân dân, tức là làm cho nhân dân thật sự làm chủ đối với cả ba cơ quan khác nhau cấu thành nhà nước dân chủ. Vậy xét đến cùng, chính thể dân chủ làm cho mọi cá nhân đều có cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp. Mọi cá nhân đều làm ra pháp luật rồi lại đều sử dụng pháp luật đồng thời đều bảo vệ pháp luật. Theo bản tính vị kỷ thúc đẩy, mọi cá nhân đều phải làm ra pháp luật bằng các phương pháp công bằng, rồi sử dụng (thi hành) pháp luật bằng các phương pháp tự do đồng thời bảo vệ pháp luật đó bằng các phương pháp bác ái. Một lần nữa câu chuyện dụ ngôn về chiếc Nhẫn Thần lại thể hiện giá trị hiện thực ở đây (xin hãy xem lại chú thích 5). Chính vì phải có pháp luật rồi mới có nhà nước dân chủ nên chính thể dân chủ chỉ tồn tại được với ba điều kiện cơ bản: 1/ Nhà nước dân chủ phải được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, theo đó nhà nước này phải được phân chia thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện độc lập ba quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp; sự phân chia quyền lực như vậy làm cho các nhà cầm quyền không thể lạm dụng được quyền lực nhà nước; 2/ Nhà nước dân chủ phải được làm chủ theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bởi toàn thể nhân dân, theo đó nhà nước này phải bị kiểm sát chặt chẽ bởi nhiều tổ chức độc lập để ngăn ngừa các điều luật bất công dẫn đến tai hoạ cho dân chúng, cũng như phương tiện giao thông phải có phanh hãm thật tốt để phòng tránh tai nạn giao thông; 3/ Nhà nước dân chủ phải được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do hoặc phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi cá nhân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp. Quy chế phân lập tam quyền ngăn ngừa được các nhà cầm quyền lạm dụng quyền lực nhà nước. Nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bảo đảm cho nhân dân làm chủ được các nhà cầm quyền. Chế độ bầu cử tự do làm cho nhà nước dân chủ phải phụ thuộc vào nhân dân mà phục vụ nhân dân; chế độ bầu cử đó phải tuân thủ cả quy chế phân lập tam quyền lẫn nguyên tắc đa nguyên bình đẳng để thực hiện được triệt để cả hai thiết chế đó, tức là ba điều kiện đó bổ sung cho nhau đồng thời cùng nhau bảo tồn pháp luật. Pháp luật chỉ có thể phải bao gồm các quy tắc nghiêm minh biểu hiện thành các điều luật nghiêm minh, các điều luật này bảo tồn tự dobình đẳngbác ái. Tự do là tình trạng được làm tất cả những gì có lợi cho mình đồng thời cũng có lợi cho cả người khác biểu hiện thành toàn bộ các quyền làm người thuộc về mỗi cá nhân nhất định hoặc nhân quyền như vẫn thường gọi. Bình đẳng là như nhau hoặc giống nhau về cả quyền lợi lẫn nghĩa vụ. Bác ái là yêu thương người khác như yêu thương chính mình. Pháp luật bao gồm các quy tắc nghiêm minh ngăn ngừa sự xung đột giữa người với người làm cho mọi cá nhân đều được hạnh phúc như nhau; tức là pháp luật không chỉ ngăn cản người ta làm điều xấu xacòn thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp làm cho bản tính vị kỷ trở thành bản tính tốt đẹp, hoặc nói cụ thể hơn: pháp luật thúc đẩy người ta hành xử theo ĐẠO ĐỨC, tức là khả năng làm theo cái THIỆN hoặc khả năng chống lại cái ÁC [10]. Bằng pháp luật, chính thể dân chủ đặt để mỗi cá nhân nhất định vào một khuôn khổ liên đới chỉ sống bằng kinh tế đổi chác làm cho mỗi cá nhân đó trở thành một cá nhân xã hội. Hệ quả này cho thấy pháp luật luôn luôn nhắm đến mục đích chân chính đã được đề ra từ trước cho chính nó, tức là chính thể dân chủ bảo đảm cho pháp luật tồn tại hoặc pháp luật chỉ tồn tại được với chính thể dân chủ mà thôi. Cũng chính vì bảo đảm cho pháp luật tồn tại nên chính thể dân chủ làm cho nhà nước dân chủ trở thành nhà nước pháp quyền, tức là nhà nước này chỉ tồn tại bằng pháp luật: được thiết lập bằng pháp luật đồng thời được bảo tồn bằng pháp luật cũng như chỉ quản lý bằng pháp luật đồng thời được quản lý bằng pháp luật.

    Như vậy, về mặt lý thuyết, chỉ có ba trật tự khác nhau để tổ chức xã hội: chính thể chuyên chế, chính thể quý tộcchính thể dân chủ. Ngoài ba trật tự đó sẽ không còn một trật tự nào khác. Xã hội ở bất cứ đâu vào bất cứ thời đại nào cũng phải được tổ chức theo một trật tự nhất định trong ba trật tự đó, nếu không phải trật tự này thì cũng phải trật tự khác chỉ trong ba trật tự đó thôi [11].

    Nho giáo không thể nào hình dung nổi lại có thể có ba trật tự khác nhau như thế để có thể tổ chức xã hội theo ba nguyên tắc khác nhau mà vì không thấy được bản tính vị kỷ hiện hữu ở mọi cá nhân nên Nho giáo ắt phải giả định mặc nhiên rằng chỉ có thể có một trật tự duy nhất mà thôi: chính thể chuyên chế tập trung cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vào một cá nhân duy nhất (Vua chúa) hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ (quân tử) nhưng trong đó lại chỉ có một cá nhân duy nhất nắm toàn quyền quyết định, tức là xét đến cùng chỉ có một cá nhân duy nhất (Vua chúa) nắm cả ba quyền lực nói trên như đã được trình bày ở trật tự thứ nhất. Rồi theo giả định đó, Nho giáo dồn hết mọi ưu tư triết học vào củng cố chính thể chuyên chế bằng Tam Cương.

    Do Tam Cương chỉ có sự xiêu lệch hoặc sự bất bình đẳng đòi hỏi tôi tớ phải phục tùng vua chúa, con cái phải phục tùng cha mẹ, vợ phải phục tùng chồng bằng Tam Tòng, nên Ngũ Luân cũng như Ngũ Thường (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) cùng với Tứ Đức (Công, Dung, Ngôn, Hạnh) đều bị tha hoá (chuyển hoá thành cái đối lập thù địch với mình ở bên ngoài mình để chống lại chính mình) rồi bị vong thân (bị mất mình).

    Quả thật, bản tính vị kỷ vốn có ở mọi cá nhân (cả vua chúa lẫn tôi tớ, cả cha mẹ lẫn con cái, cả chồng lẫn vợ, v. v.) luôn luôn thôi thúc mọi cá nhân sẵn sàng lạm dụng mọi thứ làm cho Ngũ Thường cũng như Tứ Đức mà được áp dụng sẽ bị lạm dụng, Ngũ Thường cũng như Tứ Đức mà bị lạm dụng sẽ chuyển hoá thành các giá trị trái ngược với chúng để rồi chỉ có tác dụng trái ngược với chính chúng, tức là bị tha hoá, theo đó Nhân tha hoá thành Bất Nhân, Nghĩa tha hoá thành Bạc Nghĩa, Lễ tha hoá thành Vô Lễ, Trí tha hoá thành Loạn Trí, Tín tha hoá thành Bội Tín, Công tha hoá thành Lãn Công, Dung tha hoá thành Lộn Dung, Ngôn tha hoá thành Lộng Ngôn, Hạnh tha hoá thành Vô Hạnh, để rồi tất cả các giá trị đó đều chỉ có tác dụng tai ác rồi bị vong thân. Hãy chứng minh bằng thực tế. Bản tính vị kỷ kích thích vua chúa lạm dụng “Nhân” để hãm hại tôi tớ nhằm bảo tồn mình làm cho “Nhân” chỉ có hại cho tôi tớ: tôi tớ càng “Nhân” với vua chúa sẽ càng bị hãm hại bởi chính vua chúa. Nhưng bản tính vị kỷ cũng kích thích tôi tớ lạm dụng “Nhân” để chống lại vua chúa nhằm bảo tồn mình làm cho “Nhân” cũng chỉ có hại cho vua chúa: vua chúa càng “Nhân” với tôi tớ sẽ càng bị hãm hại bởi chính tôi tớ. Vậy cả vua chúa lẫn tôi tớ đều chuyển hoá thành kẻ bất nhân; cứ thế mở rộng cho tất cả các giá trị khác trong tất cả các quan hệ khác làm cho tất cả đều trở thành những kẻ bất nhân, những kẻ bạc nghĩa, những kẻ vô lễ, những kẻ loạn trí, những kẻ bội tín, v. v., tức là tất cả đều bị tha hoá. Theo sự tha hoá, tất cả đều hành xử bằng các thủ đoạn thâm độc: ngoài mặt phải tỏ ra Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín, nhưng trong lòng lại chỉ ấp ủ Bất Nhân – Bạc Nghĩa – Vô Lễ – Loạn Trí – Bội Tín. Đến một mức độ nào đó, sự tha hoá sẽ đạt đến sự vong thân biểu hiện thành chiến tranh với chết chóc, đau thương, thù hận, v. v.. Như vậy Tam Cương không thể mang lại sự ổn định cho xã hội mà chỉ có thể gây nên sự hỗn độn cho xã hội, tức là Nho giáo cũng có mâu thuẫn giữa mục đích với phương tiện làm cho Nho giáo trở thành một hệ tư tưởng vong thân. Ngay từ thế kỷ XVIII, giới thức giả ở Tây phương đã biết được những hệ quả đau đớn nhất được tạo ra từ Nho giáo, như cha phải đem bán con gái hoặc quẳng con ra đường, v. v., ở cả nước Tàu lẫn Việt nam [12]. Sự vong thân như vậy cho thấy Tam Cương chỉ được dùng làm ba cái xiềng xích chắc chắn nhất để trói chặt các Xã hội Nho giáo vào ách nô lệ: trói chân, trói tay, và trói cả đầu nữa! Tam Cương cũng làm cho các Xã hội Nho giáo dễ dàng tiếp nhận Chủ nghĩa Marx – một hệ tư tưởng khác cũng mang tính chất vong thân y như Nho giáo. Chủ nghĩa Marx không khắc phục được sự vong thân mà chỉ làm trầm trọng thêm sự vong thân: chế độ phong kiến chỉ làm cho cha phải đem bán con gái hoặc quẳng con ra đường, v. v., nhưng chế độ cộng sản lại làm cho cha mẹ phải ăn thịt con cái [13].

    (còn tiếp)
    _____________________

    Ghi chú:

    [1] Xin hãy xem thêm Hà Huy Toàn: Cần cảnh giác với Học viện Khổng Tử ở bất cứ đâu. Việt nam Thời báo (http://www.ijavn.org/2015/01/can-canh-giac-voi-hoc-vien-khong-tu-o.html). Do mổ xẻ trúng chủ đề quan trọng nên bài viết đó đã được đăng tải lại trên nhiều trang mạng khác nhau. Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ nói về Nho giáo (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_giáo) nhưng không chiết tự cho chữ “Nho” (儒) khiến độc giả không thể hiểu đúng hoặc rất khó hiểu đúng về Nho giáo mà thường hiểu sai lạc về Nho giáo. Nói về ảnh hưởng của Nho giáo đối với Công giáo, trang này còn trình bày rất mù mờ khiến độc giả càng không thể hiểu đúng về mối quan hệ thực tế giữa Nho giáo với Công giáo. Xin hãy xem chú thích 2 ở dưới đây.

    [2] Chớ nên đánh đồng Tam Cương thuộc về Nho giáo với Mầu nhiệm Ba Ngôi (Trinité) thuộc về Chúa giáo (Công giáo, Chính giáo, Tin lành, v. v.). Trong “Phép giảng tám ngày” được viết bởi Alexandre de Rhodes, tác giả này đã viết một đoạn văn như sau: “Bây giờ ta phải có ba đấng bề trên được gọi là ba cha, ta phải thờ, ở đấng nào cho nên đấng ấy. Đấng dưới là cha mẹ sinh thân xác cho ta; đấng giữa là vua chúa trị nước; đấng trên tức là đức chúa trời đất, làm chúa thật trên hết mọi sự. Có ba đấng này ta mới được sống, được ở. Vì chúng ta có cha mẹ, nên mới được thân xác thịt này sinh ra mà chớ… Vua chúa cũng được gọi là cha cả và nước cùng các dân. Chẳng có vua chúa, thì nước chẳng được ở an lành… Ắt thật thượng phụ là cha cả, chúa cả trên hết mọi sự, có thưởng có phạt trọng”. Đoạn văn đó cho thấy A. Rhodes không hề xác nhận Nho giáo có ảnh hưởng tốt đối với Công giáochỉ vận dụng Nho giáo để truyền bá Công giáo. Trong “Phép giảng tám ngày”, A. Rhodes không hề tiếp nhận Nho giáochỉ bác bỏ Nho giáo thôi. Có lẽ ông đã hiểu rõ sự xung khắc về logic nội tại giữa Nho giáo với Chúa giáo. Thế nhưng Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ nói về Nho giáo (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_giáo) đã trích dẫn đoạn văn trên rồi diễn dịch theo một cách thức mập mờ làm cho độc giả dễ ngộ nhận rằng A. Rhodes tiếp nhận Tam Cương để xác lập thần học về Ba Cha (Tam Phụ), từ đó làm cho người ta có thể dễ dàng ngộ nhận rằng Tam Cương đồng nhất với Mầu nhiệm Ba Ngôi. Thật ra, Tam Cương xung khắc với Mầu nhiệm Ba Ngôi y như nước xung khắc với lửa vậy! Tam Cương áp đặt sự bất bình đẳng cho các quan hệ xã hội, đối lập với Mầu nhiệm Ba Ngôi xác lập sự bình đẳng cho các quan hệ đó (xin hãy xem chú thích 7). Khi viết rằng: “Các quân tử cứ lẽ tự nhiên đã suy đến sự ấy đã kể phép nhất phu, nhất phụ trong ba giềng mối can hệ nhất trong thiên hạ quen gọi là Tam Cương… Ví bằng người ta cẩn thận giữ cho phải miễn trong việc nhất phu, nhất phụ thì các việc khác liền được an”, Giám mục Hermosilla (Liêm) cũng không hề xác nhận Nho giáo có ảnh hưởng tốt đối với Công giáochỉ vận dụng Nho giáo để truyền bá Công giáo. Tương tự A. Rhodes, Giám mục Hermosilla có lẽ cũng đã hiểu rõ sự xung khắc về logic nội tại giữa Nho giáo với Chúa giáo. Nho giáo chấp nhận chế độ đa thê, đối lập hẳn với Chúa giáo vốn chủ trương một vợ một chồng! Nhưng Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ nói về Nho giáo (https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_giáo) cũng đã diễn dịch mập mờ rằng Giám mục Hermosilla vận dụng cả Tam Cương lẫn Ngũ Thường để hướng dẫn tín đồ sống đạo theo tín lý đề cao hôn nhân một vợ một chồng làm cho độc giả có thể dễ dàng ngộ nhận rằng Công giáo tiếp nhận quan điểm tiến bộ về hôn nhân từ Nho giáo. Xin nhắc lại rằng sự xung khắc giữa Nho giáo với Chúa giáo đã giải thích được tại sao các Học viện Khổng Tử đang bị tẩy chay hàng loạt ở Tây phương.

    [3] Quý độc giả có thể sẽ thắc mắc rằng: đang nói về Nho giáo tại sao tác giả lại chuyển sang nói về một lý thuyết khoa học về đời sống chính trị? Tôi xin trả lời ngay rằng vì bất cứ hệ tư tưởng nào cũng như bất cứ lý thuyết nào cũng có thể tự biện minh cho mình nên theo định lý bất toàn (Incompleteness Theorem), nếu chỉ nhận thức hoặc tìm hiểu một hệ tư tưởng nào bằng chính hệ tư tưởng đó thì không thể nhận thức đúng về hệ tư tưởng đó, tức là không thể nhận thấy hệ tư tưởng đó sai lầm hoặc tiêu cực ở chỗ nàochỉ nhận thấy hệ tư tưởng đó đúng đắn hoặc tích cực ở bất cứ chỗ nào. Vậy cần phải tìm hiểu Nho giáo bằng một lý thuyết khoa học về đời sống chính trị mới có thể hiểu đúng về Nho giáo rồi mới có thể xác định được giá trị đích thực cho Nho giáo.

    [4] C. S. Montesquieu đã phát hiện được quyền lực lập pháp có hai chức năng đối lập nhau: chức năng quy định đối lập với chức năng ngăn cản, nhưng ông đã không giải thích tại sao quyền lực lập pháp lại có hai chức năng đối lập nhau như thế (Charles de Secondat Montesquieu: De l'Esprit des Lois. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Hoàng Thanh Đạm: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển XI: Các luật tạo ra tự do chính trị trong mối quan hệ với Hiến pháp, từ trang 98 đến trang 117. Chương 6: Hiến pháp Anh quốc, từ trang 100 đến trang 113. Xin hãy xem trang 106. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia tại Hà nội cũng đã tái xuất bản bản dịch này vào năm 2006. Xin hãy xem thêm ấn bản đó. Quyển XI, từ trang 103 đến trang 125. Chương 6, từ trang 105 đến trang 121. Xem điểm nhấn ở trang 113). Ở đây tôi đã giải thích nguyên nhân làm cho quyền lực lập pháp có hai chức năng đối lập nhau như trên bằng bản tính vị kỷ vốn có ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc.

    [5] Câu chuyện dụ ngôn về chiếc Nhẫn Thần đã đưa ra một câu hỏi triết lý với nhiều câu trả lời khác nhau sẽ làm cho người trả lời tỏ ra thiển cận hay uyên bác: nếu may mắn mà nhặt được một chiếc Nhẫn Thần ước gì được nấy thì bạn ước muốn điều gì đầu tiên? Người thiển cận sẽ chỉ ước muốn các giá trị kinh tế, như thực phẩm ngon, y phục đẹp, nhà ở lộng lẫy, v. v., nhưng người uyên bác sẽ phải ước muốn các giá trị chính trị, rằng chiếc Nhẫn Thần đó sẽ mãi mãi thuộc về mình để phục vụ mình. Câu chuyện dụ ngôn này không chỉ nói về bản tính vị kỷ mà còn phân biệt người thiển cận với người uyên bác nữa, theo đó nếu người thiển cận chiếm ưu thế trong xã hội thì xã hội chỉ có thể được tổ chức theo chính thể chuyên chế nhưng nếu người uyên bác chiếm ưu thế trong xã hội thì xã hội lại có thể được tổ chức theo chính thể dân chủ. Xin xem câu chuyện ngụ ngôn về “Chiếc Nhẫn Thần” tại Bách khoa Tri thức (http://www.bachkhoatrithuc.vn/encyclopedia/1747-1550-633466395663437500/Truyen-co-tich-noi-tieng-The-gioi/Chiec-nhan-than.htm).

    [6] Khuôn khổ biệt lập thường chỉ tồn tại vô hình đối với cá nhân nào chấp nhận chính thể chuyên chế nhưng sẽ tồn tại hữu hình đối với cá nhân nào chống lại chính thể đó. Với trường hợp này, khuôn khổ biệt lập sẽ hiện hữu cụ thể thành cả ngục thất lẫn đao phủ.

    [7] C. S. Montesquieu đã phát hiện được rằng sự khiếp sợ làm động cơ cho chính thể chuyên chế. Nhưng ông lại cho rằng sự khiếp sợ đưa đến chính thể chuyên chế, tức là ông quy định một trình tự trái ngược giữa hai cái đó (Charles de Secondat Montesquieu: De l'Esprit des Lois. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Hoàng Thanh Đạm: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển III: Bàn về những nguyên tắc của ba loại chính thể, từ trang 54 đến trang 57. Chương 9: Nguyên tắc của chính thể chuyên chế, trang 56. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Quyển III, từ trang 55 đến trang 58. Chương 9, trang 58). Thực tế, chính thể chuyên chế đưa đến sự khiếp sợ, nếu không có chính thể chuyên chế thì đương nhiên không thể có sự khiếp sợ, chính thể chuyên chế làm cho hầu hết mọi người đều khiếp sợ như nhau. Ở đây tôi đã đảo ngược cái trình tự trái ngược đã được thiết lập bởi C. S. Montesquieu. Đây cũng là một điểm khác biệt phân biệt tôi với ông.

    [8] C. S. Montesquieu đã phát hiện được rằng danh diện làm động cơ cho chính thể quý tộc. Nhưng ông lại quy định rằng danh diện đưa đến chính thể quý tộc (Charles de Secondat Montesquieu: De l'Esprit des Lois. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Hoàng Thanh Đạm: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển III: Bàn về những nguyên tắc của ba loại chính thể, từ trang 54 đến trang 57. Chương 7: Nguyên tắc của chính thể quân chủ, từ trang 55 đến trang 56. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Quyển III, từ trang 55 đến trang 58. Chương 7, trang 57). Thực tế lại trái ngược như vậy: chính thể quý tộc đưa đến danh diện (xin hãy xem thêm chú thích 7). Ở đây cần chú ý rằng có lẽ vì nhận thấy chính thể quý tộc có cùng bản chất với chính thể chuyên chế nên đôi khi C. S. Montesquieu đã định danh cho chính thể quý tộc bằng chính thể quân chủ làm cho độc giả dễ bị nhầm lẫn chính thể chuyên chế với chính thể quý tộc. Muốn hiểu được đầy đủ hơn về chính thể quý tộc, quý độc giả nên xem thêm Hà Huy Toàn: Nhận xét khái quát về Hiến pháp Mỹ. Bauxite Việt nam (http://www.boxitvn.net/bai/32571).

    [9] Việc lập luận bằng bản tính vị kỷ đã cho phép tôi phát hiện được ý nghĩa sâu xa trong Mầu nhiệm Ba Ngôi được xác lập bởi Chúa Jesus, tức là việc đó cho phép tôi hiểu được tại sao Chúa lại thể hiện mình thành ba ngôi: Chúa Cha (Đấng Toàn năng hoặc Đạo Vũ trụ), Chúa Con (Chúa Jesus) và Chúa Thánh thần biểu hiện cụ thể thành Giáo hội Chúa giáo với nhiều hình thức khác nhau; từ đó tôi xác lập cho mình một niềm tin rằng Chúa giáo (Christianity), bao gồm Công giáo (Catholicism), Chính giáo (Orthodoxism), Tin lành (Protestantism), vân vân, là Tôn giáo Về nền Cộng hòa (nền dân chủ với nhà nước pháp quyền được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, được kiểm sát theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng và được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do). Tôi không hề đi tiên phong trong việc xác lập mối liên hệ thực tế giữa Chúa giáo với chính thể dân chủ. Trước tôi, cả Alexis De Tocqueville (1805 – 1859) lẫn Friedrich August von Hayek (1899 – 1992) đã làm việc đó rất thành công. A. De Tocqueville đã giải thích được tại sao cách mạng dân chủ xảy ra trước hết ở các nước nào theo Chúa giáo (Alexis De Tocqueville: De la Démocratie en Amérique. G. F. Flammarion, 1981. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Phạm Toàn: Nền Dân trị ở Mỹ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2013. Phần III, từ trang 469 đến trang 557). F. A. von Hayek đã chứng minh được rằng chủ nghĩa cá nhân, vốn phải làm nền tảng tinh thần cho chính thể dân chủ, chỉ có thể xuất sinh từ chính Chúa giáo (Friedrich August von Hayek: The Road To Serfdom (Con đường Dẫn đến Nô lệ). Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Phạm Nguyên Trường: Đường Về Nô lệ. Nhà xuất bản Tri thức, Hà nội 2008. Trang 71). Tôi chỉ khái quát sâu rộng hơn để người đời thấy được rõ ràng hơn về mối liên hệ thực tế giữa Chúa giáo với chính thể dân chủ. Về tên gọi cho tôn giáo này, tôi xin giải thích rõ ràng hơn như sau: vì Kinh thánh nói Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc nên Christianity trong Anh văn cần phải được chuyển dịch sang Việt ngữ thành Chúa giáo mới thật sát nghĩa, nếu chuyển dịch Christianity thành Thiên Chúa giáo thì “Thiên Chúa giáo” không thể hiện được hết ý nghĩa đích thực cho Christianity; vì Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Chúa Trời nên danh xưng này dễ làm cho người ta hiểu sai rằng Chúa chỉ có ở trên Trời, hiểu như vậy rất sai lạc so với Kinh thánh. Tức là trong quan hệ ý nghĩa với Christianity, Chúa giáo sát nghĩa hơn nhiều so với Thiên Chúa giáo: nếu Thiên Chúa giáo chỉ cho thấy Chúa ở trên Trời thì Chúa giáo lại phải cho thấy Chúa ở mọi nơi vào mọi lúc (cả trên Trời lẫn dưới Đất, cả trong Ta lẫn ngoài Ta, cả Không gian lẫn Thời gian, v. v.). Đó chính là lý do thực tế để tôi chỉ nói Chúa giáo mà không nói Thiên Chúa giáo như nhiều người vẫn nói sai như vậy, nói như vậy vừa sai lạc vừa dài dòng, thừa chữ nhưng thiếu nghĩa.

    [10] Charles de Secondat Montesquieu: De l'Esprit des Lois. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Hoàng Thanh Đạm: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển III: Bàn về những nguyên tắc của ba loại chính thể, từ trang 54 đến trang 57. Chương 3: Nguyên tắc của chính thể dân chủ, từ trang 54 đến trang 55. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Quyển III, từ trang 55 đến trang 58. Chương 3, từ trang 55 đến trang 56. Ở đây, C. S. Montesquieu đã phát hiện được rằng đạo đức làm động cơ cho chính thể dân chủ. Nhưng ông lại quy định rằng đạo đức đưa đến chính thể dân chủ trong khi thực tế chính thể dân chủ đưa đến đạo đức (xin hãy xem thêm cả chú thích 7 lẫn chú thích 8).

    [11] C. S. Montesquieu đã phát hiện được ba chính thể khác nhau: chuyên chế, quý tộcdân chủ, nhưng ông đã không giải thích tại sao lại chỉ có ba chính thể đó mà không thể hơn cũng như không thể kém (Charles de Secondat Montesquieu: De l'Esprit des Lois. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Hoàng Thanh Đạm: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Từ Quyển II đến Quyển XI, từ trang 47 đến trang 117. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Từ trang 46 đến trang 125). Lập luận bằng bản tính vị kỷ, tôi đã giải đáp được vấn đề này. Sự kiện này có một ý nghĩa đặc biệt. Thứ nhất, nó cho phép chúng ta đặt để niềm tin vào quan niệm cho rằng đời sống xã hội (social existence) cũng tồn tại theo các quy luật tự nhiên như bao thực tại khác đành rằng các quy luật tự nhiên trong đời sống xã hội chỉ biểu hiện qua hoạt động sống được thực hiện hiện thực – dù tự phát hay tự giác, dù vô ý thức hay có ý thức, dù không trù định trước hay có trù định trước – bởi mọi cá nhân. Thứ hai, nó cũng cho phép chúng ta phát hiện được nhiều thiếu sót trong tất cả các hệ tư tưởng khác nhau, bao gồm cả chủ nghĩa cá nhân lẫn chủ nghĩa xã hội, được lưu hành từ trước đến nay theo một tiến trình phức tạp với vô số sự kiện làm trọng tài trong cuộc đấu tranh giữa các hệ tư tưởng đó; thiếu sót chung cho tất cả các hệ tư tưởng đó thể hiện qua tình trạng bị giam hãm vào vô số định kiến cố hữu về bản tính vị kỷ khiến các hệ tư tưởng đó trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân loại lao vào các cuộc xung đột khốc liệt. Thứ ba, nó cho phép chúng ta xác lập được một hệ tư tưởng thống nhất để có thể thống nhất tư tưởng vốn rất cần thiết cho công cuộc thống nhất thế giới vào một trật tự ưu việt nhất hoặc một trật tự thích hợp nhất với mọi cá nhân.

    [12] Charles de Secondat Montesquieu: De l'Esprit des Lois. Bản dịch Việt ngữ được thực hiện bởi Hoàng Thanh Đạm: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển XXIII: Pháp luật trong quan hệ với dân số, từ trang 168 đến trang 174. Chương 16: Các quan điểm của nhà lập pháp trong vấn đề sinh sôi nòi giống, trang 169. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Quyển XXIII, từ trang 184 đến trang 191. Chương 16, từ trang 185 đến trang 186. Tôi đau đớn tâm can khi đọc chương này. C. S. Montesquieu bước đầu nhận thấy mối liên hệ thực tế giữa chính thể chuyên chế với sự bùng nổ dân số hoặc nạn nhân mãn.

    [13] Tân Tử Lăng: Mao Trạch ĐôngNgàn năm công tội. Bản dịch Việt ngữ. Thông tấn xã Việt nam, Hà nội 2008.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    36 phản hồi

    Nghe bạn bè giới thiệu bài viết này hay lắm và tác giả Hà Huy Toàn bị bọn DƯ LUẬN VIÊN đủ kiểu loại xấu xa mạo danh bằng nhiều nick name đánh hội đồng và tung tin hỏa mù gây nhiễu về tác giả này, tôi dù rất bận cũng thử vào đọc xem sao và thấy đúng thế thật. Đọc thêm vài bài nữa cùng chủ đề tôi thấy ko cần phải nhiều lời với bọn dư luận viên ngu dốt ít học hoặc học láo, mà chỉ cần dán vào đây vài đường dẫn cho một bài hay về lịch sử bi thương của Việt Nam: Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi”.
    https://www.danluan.org/tin-tuc/20150813/nguyen-ngoc-lanh-tu-nguyen-truong-to-toi-bo-ngu-vinh-quynh-ton-to-khoi-bai-1
    https://www.danluan.org/tin-tuc/20150813/nguyen-ngoc-lanh-tu-nguyen-truong-to-toi-bo-ngu-vinh-quynh-ton-to-khoi-bai-2
    https://www.danluan.org/tin-tuc/20150813/nguyen-ngoc-lanh-tu-nguyen-truong-to-toi-bo-ngu-vinh-quynh-ton-to-khoi-bai-3
    Dù chưa đọc hết mà mới chỉ đọc được 3 phần trong bài viết: Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi”, cũng đã thấy tác giả Hà Huy Toàn cực kỳ uyên bác, biết nhiều hiểu sâu về lịch sử văn hóa và chính trị của Tàu và Việt Nam mình.
    Thật đáng khâm phục!

    VIET/LE NAM viết:
    CHỈ RIÊNG CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ CÁCH TRÍCH DẪN CÁC TÀI LIỆU ĐÓ CŨNG ĐÃ ĐỦ LÀM CHO ĐỘC GIẢ ĐỨNG ĐẮN PHAI KÍNH NỂ TÁC GIẢ RỒI, CHƯA KỂ CÁCH LẬP THUYẾT VÀ LẬP LUẬN CỰC KỲ CHÍNH XÁC, KHUC CHIÊT, CHẶT CHẼ. VIỆT NAM MÌNH RẤT HIẾM CÓ TÀI NĂNG TRIẾT HỌC NHƯ TÁC GIẢ NÀY. MONG BÁC HÀ HUY TOÀN VIẾT TIẾP HAY HƠN NỮA CHO ĐÁM ĐỘC GIẢ U MÊ NHƯ EM ĐÂY ĐƯỢC SÁNG MẮT SÁNG LÒNG. PHEN NÀY EM SẼ QUYẾT ĐI THEO CON ĐƯỜNG KHAI SÁNG CỦA MONTESQUIEU ĐỂ MANG LẠI DÂN CHỦ TỰ DO CHO QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM.
    CHÀO TẤT CẢ CÁC BÁC!

    Ối giời, bốc thơm gì mà cứ như là Tố Hữu làm thơ ca tụng Xít-Ta-Lin ấy: Ông Xít ơi, thương cha thương một, thương Ông thương mười, nhờ Ông mà chúng con được sáng mắt sáng lòng!

    INDIYO viết:
    Cả đời cu Khổng rặn ra vài chữ Tam Tòng, Tứ Đức etc… Nói theo ngôn ngữ Mẽo: Bullshit.

    LOL!!! Thay vì bullshit, gọi là Tàu-Sịt cũng được.

    Thôi đành nín cười vậy.

    Nếu cu Khổng ngồi nhậu với Master Jefferson 2 trăm năm trước, dễ bị Master Jefferson xoa đầu.

    Bậc sinh thành ai không muốn con trai mình là người tốt, là Trượng Phu, là Nam Tử Hán, có lòng nhân ái, biết thương người etc… Ai không muốn con gái mình sinh đẹp, nết na etc… Người con nào lại không thương yêu đấng đã nuôi nấng mình.

    Those are given, qui luật tự nhiên.

    Vậy mà, 1 cu vô gia cư, cả đời lang thang mong tìm bạo chúa để truyền bá mấy tư tưởng bịnh hoạn: Con trai thì làm nô lệ. Con gái thì tệ hơn, super nô lệ, sống kiếp ngục tù thê thảm hơn Kiều. Ít nhất Kiều còn có sự lựa chọn. Đời con gái coi như là that’s it, kể bỏ, suốt đời không thoát khỏi 4 bức tường.

    Cái khốn nạn cho thần dân VN đã thần thánh hóa cu Khổng và cu Mao điếm chảy. Một cu theo chủ thuyết nô lệ, 1 cu chỉ biết giết và hiếp, kể cả giết luôn bố mẹ, anh chị em mình.

    Cả đời cu Khổng rặn ra vài chữ Tam Tòng, Tứ Đức etc… Nói theo ngôn ngữ Mẽo: Bullshit.

    Người Việt ở miền Nam Việt nam trước 1975, tức VIỆT NAM CỘNG HÒA, phải nói là rât tốt, cực kỳ tốt. Nhất là PHỤ NỮ lại càng tốt, nhưng đấy ko phải là sản phẩm của Nho giáo mà là sản phẩm của nền CỘNG HÒA tuy còn non trẻ song đã có tác dụng bước đầu rất tốt đối với con người, trong đó có PHỤ NỮ. Người Việt lúc đó có thể vẫn hành xử theo NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN, nhưng tất cả những chuẩn mực đó đều đã bị thay đổi nhiều theo NGUYÊN TẮC CỘNG HÒA. Cái VỎ thì NHO GIÁO nhưng CỐT LÕI thì CỘNG HÒA. Thế mới gọi là VIỆT NAM CỘNG HÒA tốt đẹp hơn CỘNG SẢN, và đương nhiên cũng tốt hơn cả NHO GIÁO. -

    Chào bác "HOT"
    Bác "nóng" thì bác lói thế!
    Người ta bảo: "Yêu nhau như thế, bằng mười phụ nhau!", ấy là nói về vấn đề bác đang ngôn "quá đà" về VNCH.
    Chúng tôi không dám đâu!

    Về "chí sĩ" Nguyễn Gia Kiểng, thì nghe đâu ổng đang trĩ nặng, nếu bác có định dùng ống đu đu thì khéo tay một chút và nên kết hợp cả chi lẫn ...khẩu, (vừa thổi vừa xoa). Nhớ là tránh, đừng để bạn tôi vừa đau, vừa ...thốn!

    Kính.

    Tôi vừa đọc lại bài này, thấy nó cũng có thiếu sót như mọi bài khác, chẳng qua do bàn tay con người viết ra thì ko sao tránh khỏi thiếu sót. Tuy nhiên nó có một ý tưởng chắc chắn:
    "Các cá nhân vừa khác nhau vừa giống nhau: khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần nhưng giống nhau về bản năng sinh tồn, tức là bản năng ham sống hoặc bản năng sợ chết, biểu hiện cụ thể qua mỗi cá nhân nhất định thành bản tính vị kỷ. Bản tính vị kỷ chỉ tốt đẹp khi thúc đẩy người ta làm điều tốt đẹp hoặc chỉ xấu xa khi thúc đẩy người ta làm điều xấu xa. Điều xấu xa gây hại cho nhân loại đối lập với điều tốt đẹp làm lợi cho nhân loại".
    Tôi nghĩ ý tưởng này ko thể bác bỏ được và được dùng làm nền tảng chung cho cả bài viết dài về Nho Giáo. Bạn đọc nào bác bỏ được ý tưởng này sẽ làm cho tác giả Hà Huy Toàn sụp đổ như Tòa Tháp Đôi ở New York ngày 9/11/2001. Nếu ko, mọi ý kiến chê bai nhằm dè bỉu, hạ thấp, xuyên tạc, tung hỏa mù, ... đều vô nghĩa và phản tác dụng.
    Phí Rượu!

    Tám Gạo viết:
    Xạo vừa vừa thôi Ba Lúa ạ, ở bên Mỹ, sinh viên ngành nào mà phải lấy [nhiều] tín chỉ về thần học, chắc là sinh viên theo học ngành tôn giáo hay triết học tôn giáo quá!

    Hãy biết tập lắng nghe trước khi còm, để chứng tỏ còn chút chất xám, đã nói các" đại hoc tư công giáo", thời đại internet toàn cầu, chỉ cần vào website của trường và nhìn những lớp học tổng quát đòi hỏi để tốt nghiệp dù học bất cứ ngành nghề gì, nhớ đây là course phải lấy, không là (elective) chọn lựa của sinh viên.

    Đã biết hệ thống đại học tư công giáo Mỹ thế nào chưa ?, nó nổi tiếng thế nào chưa? nó có bị bác và đảng quản lý chưa?

    Ông bà nào có tên SHAME ON YOU ko chịu đọc và suy nghĩ nghiêm chỉnh mà chỉ nghi vấn lung tung gây hỏa mù:
    "Hề hề hề, tôi bấm độn thấy có vài kẻ viết còm có vẻ như là chính Hà huy Toàn dùng Nick Name, hay là gà nhà của anh ta, để tự tâng bốc mình lên".
    Làm DƯ LUẬN VIÊN như thế quá vụng dại.
    RÕ CHÁN !

    Hề hề hề, tôi bấm độn thấy có vài kẻ viết còm có vẻ như là chính Hà huy Toàn dùng Nick Name, hay là gà nhà của anh ta, để tự tâng bốc mình lên.

    Trích dẫn:
    CHỈ RIÊNG CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ CÁCH TRÍCH DẪN CÁC TÀI LIỆU ĐÓ CŨNG ĐÃ ĐỦ LÀM CHO ĐỘC GIẢ ĐỨNG ĐẮN PHAI KÍNH NỂ TÁC GIẢ RỒI, CHƯA KỂ CÁCH LẬP THUYẾT VÀ LẬP LUẬN CỰC KỲ CHÍNH XÁC, KHUC CHIÊT, CHẶT CHẼ. VIỆT NAM MÌNH RẤT HIẾM CÓ TÀI NĂNG TRIẾT HỌC NHƯ TÁC GIẢ NÀY. MONG BÁC HÀ HUY TOÀN VIẾT TIẾP HAY HƠN NỮA CHO ĐÁM ĐỘC GIẢ U MÊ NHƯ EM ĐÂY ĐƯỢC SÁNG MẮT SÁNG LÒNG. PHEN NÀY EM SẼ QUYẾT ĐI THEO CON ĐƯỜNG KHAI SÁNG CỦA MONTESQUIEU ĐỂ MANG LẠI DÂN CHỦ TỰ DO CHO QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM.

    ...
    cứ xem tác giả Hà Huy Toàn chiết tự chữ Nho (儒) thì sẽ thấy ngay.
    ...
    Qua việc lập luận chặt chẽ, logic, nhất quán, tác giả này...

    Sáng mắt sáng lòng? Cứ như là đang lên đồng, ca tụng bác Mao bác Hồ vậy ấy.

    Ba Lúa viết:
    Cứ nghĩ Á đông, Việt Tàu mới biết Nho Giáo, mới học nho giáo, nhưng không, tai Mỹ, các đại học tư công giáo, sinh viên phải lấy nhiều tín chỉ về thần học (theology), trong đó có học các tôn giáo, cứ nghĩ bọn mũi lõ chẳng biết gì nhưng khi tranh luân, tụi nó thuộc Tam Cương Ngũ Thường còn nhuyễn hơn mình uống nước mía

    Xạo vừa vừa thôi Ba Lúa ạ, ở bên Mỹ, sinh viên ngành nào mà phải lấy [nhiều] tín chỉ về thần học, chắc là sinh viên theo học ngành tôn giáo hay triết học tôn giáo quá!

    Cái gì mà các vị tranh cãi ầm ĩ thế?
    Một số vị nhắc lại VIỆT NAM CỘNG HÒA làm tôi đau đớn trong lòng. Tôi xin góp vui vài câu, chỉ vài câu thôi.
    1. VIỆT NAM CỘNG HÒA thua Cộng sản chính vì cái NHO GIÁO đấy. Mình chống cộng sản nhưng lại tôn thờ Nho giáo cũng chuyên chế độc tài ko kém gì Cộng sản, như thế chẳng qua chỉ ĐÁNH BÙN SANG AO thôi. Các vị nên đọc TỔ QUÔC ĂN NĂN của NGUYỄN GIA KIỂNG sẽ hiểu ngay về Nho giáo.
    2. Người Việt ở miền Nam Việt nam trước 1975, tức VIỆT NAM CỘNG HÒA, phải nói là rât tốt, cực kỳ tốt. Nhất là PHỤ NỮ lại càng tốt, nhưng đấy ko phải là sản phẩm của Nho giáo mà là sản phẩm của nền CỘNG HÒA tuy còn non trẻ song đã có tác dụng bước đầu rất tốt đối với con người, trong đó có PHỤ NỮ. Người Việt lúc đó có thể vẫn hành xử theo NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN, nhưng tất cả những chuẩn mực đó đều đã bị thay đổi nhiều theo NGUYÊN TẮC CỘNG HÒA. Cái VỎ thì NHO GIÁO nhưng CỐT LÕI thì CỘNG HÒA. Thế mới gọi là VIỆT NAM CỘNG HÒA tốt đẹp hơn CỘNG SẢN, và đương nhiên cũng tốt hơn cả NHO GIÁO.
    3. Thấy các vị tranh cãi om sòm nên tôi đọc rất cẩn thận bài này. Có vẻ như các vị ĐÃ ĐI LẠC ĐỀ QUÁ XA, nội dung tranh luận hầu như chẳng ăn nhập gì với nội dung bài viết, ko bàn luận bằng KIẾN THỨC mà hầu như chỉ tranh cãi bằng ĐỊNH KIẾN. Tại sao Nhật bản điên cuồng lao vào chiến tranh liên miên suốt từ đầu đến giữ thế kỷ XX rồi bị đánh gục bởi QUÂN ĐỘI MỸ? Tại sao TÀU CỘNG đang điên loạn yêu sách lãnh thổ một cách phi lý như vậy nếu ko phải do NHO GIÁO? Tôi nghĩ các vị nên đọc lại bài viết này rồi hãy tranh luận tiếp.
    Rất cảm ơn tác giả Hà Huy Toàn đã viết một bài tiểu luận hay gây nên tranh cãi sôi nổi như thế này.
    Chúc các vị vui vẻ!

    NVHN viết:
    Liệu chúng ta có nên bắt chước những người Cộng Sản phá nát tất cả, bất kề phần tiêu cực lẫn phần tích cực cuả NHO HỌC để xây dựng một nền "Văn Hoá Mới " và "Con Người Mới XHCN"? -

    Tôi đồng ý với bác.
    Học thuyết Khổng Tử có những điểm tích cực mà chúng ta cần gìn giữ, phát huy. Những điểm tích cực này cho đến nay vẫn là trụ cột gìn giữ đạo đức, nhân phẩm trong mọi xã hội. Đó là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
    Chữ Lễ, theo tôi không phải là phục tùng mà là lễ phép, lịch sự trong cách ứng xử với mọi người chung quanh, với cả những người nhỏ tuổi, địa vị xã hội, tài sản vật chất tinh thần không bằng mình. Đó là Rhetorik
    "Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín" là phép, cách ứng xử nói chung trong mọi xã hội Tây Ta, đều có giá trị như nhau.
    "Công Dung Ngôn Hạnh" là luyện tập kỷ năng sống, có giá trị ở tất cả mọi nơi như "Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín" không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cho cả nam giới.
    Có phụ nữ nào (?) muốn có một "đấng quân phu" lười biếng- Công- bề ngoài nhếch nhác lôi thôi -Dung- nói năng chẳng đâu vào đâu - Ngôn- chơi bời, nhậu nhẹt, chân dài...-Hạnh?

    Tôi cho rằng bài viết này nguy hiểm hơn học thuyết của Khổng tử.

    Chính vì không coi trọng "Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, Công Dung Ngôn Hạnh", chính vì quan điểm tất cả các thể chế chính trị, học thuyết khác sai, chỉ có thể chế, học thuyết Cộng sản đúng mà các nhà nước theo thể chế cộng sản, đặc biệt VNCS đã đạp đổ tất cả, phá tan hệ thống xã hội cũ, trước đó để xây dựng " nền văn hoá mới với con người mới XHCN" , hệ quả là xã hội VN hôm nay nát bét từ trên xuống dưới.
    Mà "con người mới XHCN" là gì? Có bác nào có định nghĩa rõ ràng về cụm từ này? Hay chỉ xáo rỗng như rất nhiều những cụm từ khác do người CSVN "phát minh sáng chế"?
    Tôi cho rằng, con người mới XHCN là con người mới, không muốn dính dáng đến cái cũ, cái trước đó -vì mặc cảm tự ti- nên không cần biết cái cũ, cái trước đó, tốt xấu như thế nào, chỉ cần biết là đạp đổ tất cả, phá nát toàn diện những quan điểm, những phương pháp giáo dục dính líu đến chế độ cũ, học thuyết cũ, trước đó. Những gì họ cho là không xứng đáng để họ học theo, làm theo, những cái họ cho là "tàn dư Mỹ nguỵ" bây giờ là "tàn dư Khổng tử" để trở thành "mới". Như "cách mạng văn hoá" ở Trung quốc; Như sau 1975, đốt sách vở, văn hoá phẩm của miền Nam bởi nhà nước VNDCCH.

    Ngoài ra, Khổng Tử, Lão tử không phải là Tôn Giáo, đó là những học thuyết. Học thuyết nào nào cũng có những khuyết điểm của nó. Người khôn ngoan, nhà cầm quyền khôn ngoan, là những người biết sàng lọc những cái hay để học, "bãi bỏ" những cái không tốt, không hay để xã hội được phát triển theo chiều hướng đi lên, để mọi người sống chung với nhau trong hoà bình, nhân ái, bình đẳng, công bằng, để mọi người có thể tự phát triển, cống hiến những điều tốt đẹp cho Tổ quốc trước rồi mới tính đến chuyện "vươn ra biển lớn".

    Nguyễn Jung

    Nho nào cũng là Nho thôi.

    Kính thưa bạn "NHAN",

    Khổ nỗi tôi không đọc được chữ, chỉ đọc được...Ý!

    Riêng bạn, nếu đang ở Mỹ hay có ý định định cư tại Mỹ, tôi nghĩ bạn nên chọn hoặc là nghề Luật Sư, hoặc nghề... bán xe hơi cũ!

    Good Luck!

    Thường, cái tựa gần như “câu tóm tắt” tổng kết nội dung một bài viết ! Ở đây, có nghĩa là tác giả ,qua toàn bộ tiểu luận 2 phần này, muốn chứng minh Nho giáo là “Hệ tư tưởng nguy hiểm”!

    Điều này không mới, vì nó rất hợp với “quan điểm” của Tần thuỷ Hoàng ngày xưa. Bọn “bất đồng chính kiến” thời ấy, cứ “lợi dụng dân chủ…Nho giáo” mà phê phán, chửi rủa ngài khắp nơi ,nên ngài hoàng đế ấy rất bực. Cái “tự do ngôn luận của Nho giáo” xa tít mù ấy, làm Tập hoàng đế ngứa mắt , ngứa tai…và nổi điên lên. Nghe đâu…Tần bạo chúa vừa tức giận vừa nhận thức được tính “nguy hiểm Nho giáo” ấy, nên hạ lệnh “đốt sách chôn học trò” thẳng tay …( Hồi đó chưa có khái niệm “tù nhân lương tâm”, hay “phản động” như bây giờ, nhưng những kẻ bất hạnh nằm dưới mộ thời ấy…chắc cũng có chút tương đồng với họ ?? )
    “Nho học” thì "trình" EFG rất chi bèo bọt, tham kíu hỏng nhiều, cũng hổng sâu, hổng rộng như tác giả và quý học giả nơi Dân luận. Nhưng “nhiều , sâu, rộng…vv” không đồng nghĩa với..."Đúng cả "! ( Như cụ Trọng ta, diễn văn và tham luận tràng giang đại hải…thâm hiểu Male, nhưng có phải đúng cả đâu ?) –Vậy nên, EFG này tự khuyên mình, nếu đã thấy cái “nguy hiểm của Nho giáo” như tác giả, thì nên chăng cũng phải “thấy cái thấy nguy hiểm” được phản biện rất hữu ích, rất chín chắn của các bác Frank Phan, bác Ba Lúa, bác NVHN….vv, mà giữ gìn lời nói ?

    +Khi cả thế giới lấy cảm hứng từ “ kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” để tạo nền móng cho Tuyên Ngôn Nhân quyền mà ta đang vất vả tranh đấu đây kia, thì tác giả HHT mổ phanh thây câu ấy để chứng minh là nó “nguy hiểm” …làm tui cũng băn khoăn quá ? ( Bác HH Toàn phải xông thẳng vào Uỷ ban Nhân quyền LHQ mà bụp cho bọn học giả thế giới một trận, nên chăng ? )

    +Tam cương , ngũ thường” nói thiệt, đọc phân tích thì hổng phê, nhưng những gợi nhớ từ “Công Dung Ngôn Hạnh” thì tui quá phê. Thời VNCH , bốn thứ ấy thật mạnh mẽ rực rỡ , tôn cao nhân cách người phụ nữ Việt …Nhưng vì nó “nguy hiểm” qua, nay ta không còn áp dụng nữa. Và phụ nữ Việt Nam “Công”, “Dung” thì vẫn còn sót chút chút ( tuy nhiên đua nhau tìm bác sĩ Cát tường để dung cho nó giống Hàn Cuốc, thì hơi …bậy). Ngôn thì ta thấy Ngôn bậy giờ thế nào rồi, cập nhật là ngôn của cô nàng “Cung bò cạp”, Hạnh thì…than ôi , xếp hàng cho bọn mán ọi lựa chọn e rằng rất… bất hạnh. Còn bị cấm nhập cảnh ở mấy nước bèo bọt thua ta xa ngày trước thì thật …vô hạnh! Bời vậy tui chỉ ước phụ nữ Vn trở lại chọn cái “ nguy hiểm “ ngày xưa mà thôi ! Cái “nguy hiểm” ấy củ phụ nữ VNCH và cái “nguy hiểm” của Nho giáo chắc cũng như nhau ? Nói gì đến “quan chức” hôm nay, GS/ TS hôm nay…so với ngày xưa, khi chạm vào cái “nguy hiểm của Ngũ thường “Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín…” ??? – mấy thứ ấy nguy hiểm ( cho mình ) quá nên họ bỏ sạch ráo rồi…! Hic.

    + Thời Pháp thuộc, chính lòng khát khao thay đổi nhưng thiếu chính kiến, nhận thức khiếm khuyết thiếu trãi nghiệm…mà phần đông nhân sĩ VN một thời , đã vứt ngay toàn bộ những gì thuộc“Nho giáo”, nhào ra ủng hộ Hồ, rãi tấm thãm Đỏ trân trọng mời Marx-Le về mà tôn thờ cái “Âu Tây ác quỷ” ấy vào VN ! Thật nguy hiểm quá !...Nguy hiểm không phải chuyện quá khứ mà bởi… e rằng ngày nay vẫn có thể lập lại !

    +…vv mệt quá !
    ----------

    Giải “Hoà Bình Khổng tử” hay “Viện Khổng tử”…rõ ràng là một thủ đoạn chính trị, không hơn không kém. Thế thì ta chỉ nên xét các mặt Lợi-Hai mà thôi. Bọn họ Tập mang một điều đúng đắn ra làm bình phong, nấp phía sau mà ra tay thôn tính, chi phối, lung đoạn, chúng mượn tính đúng đắn ,sự thuyết phục từ sức mạnh mềm của Khổng học ( và không chỉ mượn Khổng thôi đâu) để làm cho kẻ thù bị ú ớ…, lâm vào cảnh ”Chống Tập tức chống Khổng” !!
    Thủ đoạn chính trị thì chẳng lien quan đến nội dung Khổng học, ta cứ tha hồ phân tích , căm ghét…, nếu có chống lại thì dùng chính Khổng học mà vạch mặt bọn họ Tập và tay sai, vậy mới” cao tay ấn”. Còn cái nó dùng làm bình phong, chỉ là một vấn đề học thuật, chưa chắc đã …có tội tình gì .
    Nhắm mắt nguyền rủa , đập phá cái bình phong kia …khác nào nhào thẳng vào bẫy kẻ thù , sao đáng gọi là có trí ??? -
    Thật….”nguy hiểm” quá ??

    THAN viết:
    Anh BA LÚA chưa biết đọc một tiểu luận triết học, chỉ biết hô hoán theo Bác Frank Phan! Thế nào là đúng? Thế nào là sai? Lấy cái gì làm cơ sở khach quan để xác định một ý kiến nào đó ĐÚNG hay SAI? Mời các bạn đọc đi lại, vừa đọc vừa suy ngẫm, mới thấy tác giả này rất uyên bác, minh triết!

    Cảm ơn bạn đã gọi tôi là anh, thấy trẻ lại, ôn lại quá khứ.

    Trước 1975, hoc sinh lớp 12 đã được học các tôn giáo, những Tam Cương, Ngũ Thường trong Nho Giáo chẳng có gì lạ, vì vậy bài viết này có viết ra cũng chẳng có gì mới, có mới là mời lời bình luận của tác giả.

    Cứ nghĩ Á đông, Việt Tàu mới biết Nho Giáo, mới học nho giáo, nhưng không, tai Mỹ, các đại học tư công giáo, sinh viên phải lấy nhiều tín chỉ về thần học (theology), trong đó có học các tôn giáo, cứ nghĩ bọn mũi lõ chẳng biết gì nhưng khi tranh luân, tụi nó thuộc Tam Cương Ngũ Thường còn nhuyễn hơn mình uống nước mía, chằng khác chi Biden biết lẫy Kiều, nhưng cụ Tổng thì há hốc miệng, dù là tiến sĩ có chút ít về văn chương, chẳng đối đáp nỗi. Phải dài dòng để kẽ hậu thế biết, những bài viết này về Nho Gíáo không có gì mới lạ, kể cả với bọn Tây, nhưng lại mới lạ với con người XHCN VN.

    Chuyện đáng bàn là lời bình phẩm của anh tác giả bài viết này, nếu chỉ nhìn một khía cạnh, nho giáo là con đường làm trở ngại tiến trình dân chủ. Còn những phần khác miễn bàn, vì đã nói rồi.

    Hà Huy Toàn viết:
    Ở Việt Nam hiện nay có khoảng từ 60% đến 70% dân số theo Nho giáo, chưa kể một số đáng kể tín đồ thuộc về các tôn giáo khác tuy tụng niệm kinh bổn theo các tôn giáo khác nhưng vẫn suy nghĩ hoặc hành xử theo Nho giáo như một tập quán lâu đời. Đó chính là lực cản lớn nhất đối với công cuộc dân chủ hóa tại Việt Nam. Người ta có thể dễ dàng nhận thấy Chủ nghĩa Marx – Lenin tai ác như thế nào khiến người ta dễ dàng từ bỏ Chủ nghĩa Marx – Lenin nhưng thật khó mà nhận thấy Nho giáo tai ác như thế nào khiến người ta rất khó từ bỏ Nho giáo.

    Trước 1975, nam VN, dù chính quyền dân chủ chưa hoàn hảo, nhưng VNCH có là một chính thể Nho Giáo không ? hay là một chính thể đã có tam quyền phân lập, đó là về mặt chính quyền, còn về con người, luân thường, đạo đức, một xã hội, gia đình đầy nhân bản dù trong chiến tranh, những yếu đó có tinh thần Nho Giáo không, chắc chắn là có. Vậy mới thấy , tinh thần Nho Giáo trong cuộc sống thời đó không là vật cản cho tự do dân chủ.

    Nhưng tại sao tác giả lại giám khẳng định Nho Giáo là vật cản mà không là chủ nghĩa CS, 70 năm nhà trường XHCN đã đủ làm đui mù con người tinh thần lẫn thể xác chưa, vì vậy khi phân tích thì phải nói cho rõ, đừng treo đầu dê bán thịt chó, nếu "người ta dễ dàng từ bỏ Chủ nghĩa Marx – Lenin" thì tại sao cái đất nước này, bọn lãnh đạo đã sáng mắt sáng lòng nhưng vẩn không từ bỏ nó, đừng nói vì tinh thần nho giáo.

    Sinh sau đẻ muộn, thấy cái gì cũng mới, cũng lạ, muốn nắm bắt, đó là điều tốt. Nhưng luận về triết lý, tư tưởng, tôn giáo, gừng già thì cay. Nhìn tác giả thấy còn sức sống lắm, cố lên.

    Kính thưa bạn NVHN!
    Nho nào cũng chỉ là Nho thôi, cứ xem tác giả Hà Huy Toàn chiết tự chữ Nho (儒) thì sẽ thấy ngay.
    1/ Lúc đầu Cộng sản định tiêu diệt Nho giáo (Ví dụ Mao Trach Đông) nhưng về sau thấy Nho giáo cùng bản chất với Cộng sản nên Cộng sản lại khôi phục Nho giáo (Ví dụ Tập Cận Bình đang tài trợ vô tội vạ cho các HỌC VIỆN KHỔNG TỬ trên khăp thế giới).
    2/ Tác giả Hà Huy Toàn không phủ định sạch trơn những cái có thể được gọi là tích cực của Nho giáo, như NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ, TÍN, mà vẫn để ngỏ cho khả năng cải hoán đối với những giá trị đó trên nền tảng dân chủ theo nhà nước pháp quyền. Các đoạn văn nói về Nhật bản và Trung quốc rất đáng được đọc nghiêm túc để rút ra bài học quý báu cho phát triển một xã hội nhân bản và đề phòng âm mưu bành trướng của Đế quốc Hán tộc.
    3/ Qua việc lập luận chặt chẽ, logic, nhất quán, tác giả này không hề bắt chước những người Cộng sản phá nát tất cả, cả phần tiêu cực lẫn phần tích cực cuả NHO HỌC, để xây dựng một nền "Văn Hoá Mới " và "Con Người Mới XHCN", mà rất rõ ràng tác giả này tỏ ra vừa chống Nho vừa chống Cộng nhằm chủ trương một xã hội dân chủ dựa trên chủ nghĩa nhân bản. Văn hoá Mới XHCN và con Người Mới XHCN có lẽ chỉ là trò hề nhố nhăng đối với tác giả này? Tôi cảm thấy như thế!

    CHỈ RIÊNG CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ CÁCH TRÍCH DẪN CÁC TÀI LIỆU ĐÓ CŨNG ĐÃ ĐỦ LÀM CHO ĐỘC GIẢ ĐỨNG ĐẮN PHAI KÍNH NỂ TÁC GIẢ RỒI, CHƯA KỂ CÁCH LẬP THUYẾT VÀ LẬP LUẬN CỰC KỲ CHÍNH XÁC, KHUC CHIÊT, CHẶT CHẼ. VIỆT NAM MÌNH RẤT HIẾM CÓ TÀI NĂNG TRIẾT HỌC NHƯ TÁC GIẢ NÀY. MONG BÁC HÀ HUY TOÀN VIẾT TIẾP HAY HƠN NỮA CHO ĐÁM ĐỘC GIẢ U MÊ NHƯ EM ĐÂY ĐƯỢC SÁNG MẮT SÁNG LÒNG. PHEN NÀY EM SẼ QUYẾT ĐI THEO CON ĐƯỜNG KHAI SÁNG CỦA MONTESQUIEU ĐỂ MANG LẠI DÂN CHỦ TỰ DO CHO QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM.
    CHÀO TẤT CẢ CÁC BÁC!

    Anh BA LÚA chưa biết đọc một tiểu luận triết học, chỉ biết hô hoán theo Bác Frank Phan! Thế nào là đúng? Thế nào là sai? Lấy cái gì làm cơ sở khach quan để xác định một ý kiến nào đó ĐÚNG hay SAI? Mời các bạn đọc đi lại, vừa đọc vừa suy ngẫm, mới thấy tác giả này rất uyên bác, minh triết!

    FRANK PHAN hiểu biết lỗ mỗ nham nhở về Nho giáo, lại còn viết lách thô lỗ ("Đ.M" cả "anh" viết bài lẫn "anh" đăng bài!). Đây là cách tự thú nhận mình văn hóa thấp kém, là cái đuôi nối dài của Khổng Tử, là gián điệp không công cho Tàu Cộng. hehehe!!!

    ÔI CHẾT, BẠN TUAN344 NHẦM LẪN NGHIÊM TRỌNG KHI NÓI: Định lý của Godel là chỉ riêng cho toán học thôi. THẬT RA, ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN ÁP DỤNG ĐƯỢC CHO MỌI LĨNH VỰC NHẬN THỨC!
    BẠN TUAN344 LẠI CÒN NÓI XANH RỜN RẰNG: "khoa học xã hội" (một lãnh vực không phải là khoa học)?
    KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ NÓI NỮA RỒI!

    Có nên tự hỏi: " Chúng ta đang bàn luận về "cái" NHO nào?

    NHO được các triều đại quân chủ chuyên chế 'lợi dụng' để bắt người dân phục tùng, được hệ thống hoá bằng những điều "xuyên tạc", được một bọn "hủ Nho" dùng như "bàn đạp' để tiến thân vào chốn quan trường?
    Hay là NHO như một giòng chảy luân lưu trong một NỀN VĂN HOÁ , từ đợt này, qua thế hệ kia suốt mấy nghìn năm?

    NHO với "tam cương" (Quân-Thần, Phụ-Tử, Phu-Phụ) hay NHO với "ngũ thường" (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) mới là chính?

    NHO "tam tòng" hay NHO "tứ đức" nên được đề cao? (Ai trong chúng ta, những người đàn ông có vợ, có con gái không muốn những người thân yêu của mình có cả "Công, Dung, Ngôn, Hạnh"? Và suốt hai ngàn năm, có lúc nào mà Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Công, Dung, Ngôn, Hạnh bị ruồng rẫy, không còn được tôn quý?

    NHO nào mới được coi là "CHÍNH (hiệu) NHO":
    * "Quân xử Thần tử, Thần bất tử bất trung"? hay
    * "Dân vi quý, Xã Tắc thứ chi, Quân...vi khinh"?

    NHO nào coi Thiên Tử là mệnh trời, thần dân phải tuân phục tuyệt đối, và NHO nào như Mạnh Tử nói với Lương Tương Vương: " Tôi nghe nói vua Võ giết một thằng bạo ngược làTrụ, chứ chưa nghe ai nói Vua Võ giết Vua!".

    NHO nào cho rằng:" Được lòng dân mới là mệnh Trời" và: " Vua coi bề tôi như tay chân, thì bề tôi coi Vua như tâm phúc. Vua coi bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi coi Vua như người dưng. Vua coi bầy tôi như cỏ rác, thì bề tôi coi Vua như giặc thù!".

    Có phải chúng ta đang làm chuyện "bất công", chỉ nhìn vào những tiêu cực cuả một học thuyết chính trị, mà quên đi một triết thuyết tích cực, dạy về cách sống hoà ái trong một cộng đồng xã hội?
    Chúng ta đang phê phán những nhược điểm tồn tại cách đây hơn 2000 năm, lúc những tư tưởng dân chủ còn chưa manh nha mà quên đi tính các tích cực về giáo dục cuả khổng Tử?

    Liệu chúng ta có nên bắt chước những người Cộng Sản phá nát tất cả, bất kề phần tiêu cực lẫn phần tích cực cuả NHO HỌC để xây dựng một nền "Văn Hoá Mới " và "Con Người Mới XHCN"?

    Frank Phan viết:
    Mời quý độc giả đọc tiếp phần 2 cho đủ bộ..."nguy hiểm"!
    Chỉ xin quý vị đừng nóng nảy..."Đ.M" cả "anh" viết bài lẫn "anh" đăng bài! hehehe!!!

    Bác Frank Phan nói đúng quá, đọc kỹ lại phần hai, và hiệu đính (2) của phần một, mới thấy cái bố láo của tác giả khi đề cập Thiên Chúa Giáo là Chúa Giáo, cứ như là chúa đảo Tuần Châu ấy !

    Và hơn nữa Thiên Chúa Giáo có mầu nhiệm ba ngôi, nhưng mầu nhiệm này thuộc về tâm linh, chứ không là vật chất, ấy thế mà đem ra so sánh cứ như chị với em, dù không giống nhau. Hơn nửa đem “Phép giảng tám ngày” được viết bởi Alexandre de Rhodes, mà Wiki lại là các đồng chí XHCN biên soạn, so sánh mầu nhiêm ba ngôi của Thiên Chúa Giáo với tam cương lại là một nguỵ biện đầy kịch tính.

    Những bài viết suy luận kiểu này, con gà chính là con vịt, chắc như đinh đóng cột, quá nguy hiểm nếu người đọc không thận trọng.

    Lol :))))

    Chủ thuyết Khổng hoặc Khủng, tuỳ theo phát âm níu lưỡi hay nút lưỡi, cốt lõi chỉ biến 1/2 dân số trên hành tinh này thành Kiều chuyên nghiệp (pro).

    Nghe nói Hà Huy Toàn, hậu duệ cuả TBT Hà Huy Tập(?) lôi các cụ cố cuả anh ta, những người sống ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 , ra mắng :" Sao các cố không ở nhà lầu (nhiều tầng), không đi xe hơi, không diện một bộ "suit", thắt "cravat".. cho "oách", mà lại chui rúc trong những túp lều mái giạ, vách đất, đi bộ chân không guốc giép hay váy áo vá chùng, vá đụp?
    Cũng lại nghe nói anh ta "dạy khôn" cả cụ Lê Lợi rằng, sao cụ không biết xài đại bác, xe tăng, máy bay, thậm chí "tên lửa hành trình" để chỉ một sớm một chiều cho bọn xâm lược nhà Minh ..."rạt gáo", mà lại dùng giáo mác, cung tên để vất vả tới 10 năm kháng chiến?
    Cho nên, độc giả không nên lấy làm lạ khi anh ta "hạch tội" cụ Khổng: " Này lão Khổng Khâu, sao lão không chịu thức suốt hơn hai ngàn năm (và đừng chết) để đón đầu những tư tưởng dân chủ và những định chế như "Tam Quyền Phân Lập" hầu đem về áp dụng vào học thuyết chính trị cuả lão, để ngày nay ta đỡ phải mất công phê phán triết thuyết cuả lão là LỖI THỜI, LÀ CẢN TRỞ SỰ TIẾN BỘ, LÀ PHẢN ĐỘNG?

    Một "đỉnh cao trí tuệ" như Nguyễn Hồng Dương, nghe đâu thuộc Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo, Viện Hán Nôm gì đó đã xưng xưng dựng chuyện, "Thuyết Tam Phụ" là do Alexandre de Rhodes "CẢM HỨNG" từ TAM CƯONG cuả Nho Giáo mà ra! Các ông Giám Mục, Mục Sư cuả Thiên Chuá Giáo tại VN đâu mà không yêu cầu nhà nước tống hắn vào Viện Tâm Thần (cũng Viện...cả đấy) ? Ở đâu mà có cái chữ "Thuyết Tam Phụ" (Ba Cha chắc ?). Chắc chưa bao giờ những kẻ này nghe nói đến màu nhiệm "TAM VỊ NHẤT THỂ" ( Ba Ngôi Vị, Chuá Cha, Chuá Con, và Chuá Thánh Linh, tuy là 3 nhưng chỉ là một Bản Thể Thiên Chúa, mà Thượng Đế đã mạc khải cho những người tin vào Ngài?) (xem chú thích số 2).
    " Đỉnh cao trí tuệ" khác là Hà Huy Toàn, lại cho rằng khi gọi Christianity là Thiên Chúa Giáo là sai, là dài dòng, là thừa chữ mà thiếu nghĩa ! Phải gọi, đặt tên "Christianity" là "CHUÁ GIÁO" vì chữ Thiên (trời) ở đây có thể làm cho người ta lầm, chỉ có Chuá trên TRỜI mà không có Chuá ở dưới đất, ở khắp mọi nơi. Chắc hẳn anh này cũng 'đếk" biết chữ "Christianity" do Chữ CHRIST mà ra. Jesus Christ, là đấng mà những người theo TCG tin rằng Ngài là Thiên Chuá đã nhập thể và nhập thế để cứu ...nhân loại! Chỉ như vậy, mới lý giải tại sao hắn nghĩ ra được một tên mới là ..."Chuá Giáo"! Anh ta sẽ phản ứng như thế nào khi có một độc giả nào đó bảo rằng tên Hà Huy Toàn là sai, là thừa chữ mà thiếu nghĩa, vì gọi như thế làm người ta tưởng lầm anh ta... "hoàn toàn"! Thật ra phải gọi, phải cải tên là "Hà Huy Tèo" hay "cu tèo", mới xứng! (xem chú thích số 9)

    Là "sản phẩm" cuả chế độ Cộng Sản "ôn,vật dịch" nên cũng đã học đòi xuyên tạc! Hãy nghe anh ta luận giải về TU THÂN: "Đó là quá trình giáo dục bắt buộc mọi người phải học tập Tam Cương để nam giới đạt được Ngũ Thường khiến nữ giới phải Tam Tòng để đạt được Tứ Đức. " . Có nghĩa là trước khi một thằng cu... "học làm người" ( nhân , nghĩa. lễ, trí, tín) thì nó đã bị nhồi nhét Tam Cương (quân thần , phụ tử, phu phụ). Cũng thế một cháu gái trước khi đạt được (được mọi người công nhận) là một phụ nữ hiền đức, với Công, Dung, Ngôn, Hạnh thì phải qua "cái lò" ...Tam Tòng?
    Khổng nào nói như vậy và sách vở nào (Tứ Thư, Ngũ Kinh ) dạy như vậy?
    Mà cho dù có đúng như thế thì một cá nhân muốn đạt được những "giá trị đạo đức phổ quát" ( Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí ,Tín - Công, Dung, Ngôn, Hạnh) được hầu như các nền văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo v.v...công nhận dù có phải trải qua cái "lò" Tam Cương, Tam Tòng thì cũng xứng đáng chứ? ( Hay vẫn còn cho rằng thằng "ngũ thường" , con "tứ đức' là đồ "nguy hiểm", phản động?).
    Nói là nói chơi vậy chứ theo lẽ thường, một phương tiện xấu (Tam Cương, Tam Tòng) làm sao có thể "đẻ" ra, hay đạt tới được những thành quả tốt, (Ngũ thường, Tứ Đức)?

    Mời quý độc giả đọc tiếp phần 2 cho đủ bộ..."nguy hiểm"!
    Chỉ xin quý vị đừng nóng nảy..."Đ.M" cả "anh" viết bài lẫn "anh" đăng bài! hehehe!!!

    Le Nam viết:
    Tác giả Hà Huy Toàn có nói đến ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN khiến tôi rất bất ngờ. Thật ra tác giả này không trình bày nội dung mà chỉ nêu tên định lý bất toàn, nên tôi không biết tác giả này hiểu đến đâu, tôi mới tìm hiểu định lý này và thấy nó cực kỳ hay và cực kỳ công hiệu về mặt học thuật. Tôi hiểu tác giả này phân tích các thể chế chính trị nhằm xác định GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC cho Nho giáo. Tôi nghĩ nếu tác không làm thế thì người đọc sẽ không thể hiểu được Nho giáo chỉ làm nền tảng tư tưởng cho chế độ chuyên chế. Đó là cách làm đúng và hay cần phải được khuyến khích. Tôi không biết Bạn LOTO đã biết ĐLBT chưa, nếu chưa thì bạn nên tìm hiểu cái định đó. Sẽ rất hay và rất bổ ích cho bạn đấy!

    Really? Hiểu định lý bất toàn của Godel?
    Mỗi lần thấy ai tìm cách lý giải chuyện đời - hay nói cho sang một chút - ứng dụng ĐLBT vào "khoa học xã hội" (một lãnh vực không phải là khoa học) là tôi lấy làm bán tín bán nghi. Định lý của Godel là chỉ riêng cho toán học thôi, còn lôi nó ra để lý giải chuyện đời thì cũng giống như vặn vẹo thuyết tiến hóa lại thành chủ nghĩa Darwin xã hội (= thuyết ưu sinh phản khoa học).

    Confucianism là "nho giáo", tự điển and Anh sang Việt cũng nói thế .

    "khổng giáo" tự điển Việt sang Anh là Confucius Institute hay nôm na viện Khổng Tử.

    Vây có gì khác biệt giữa nho giáo và khổng giáo ? hay là một ? hay Khổng Tử chỉ là một cá nhân trong toàn thể nho giáo ?

    Tôi nhận thấy tác giả không hề dịch Confucianism là "nho giáo"! Bạn TRAN THI NGỰ nên xem lại tác giả Hà Huy Toàn định nghĩa về Nho giáo:
    "Nho giáo (còn được gọi là Khổng giáo mà theo tiếng Anh gọi là Confucianism) là một hệ tư tưởng lấy Nho gia hoặc Nho sỹ làm căn bản cho mình, bao gồm các chuẩn mực về đạo đức, triết lý và tôn giáo, được thực hành nhằm bảo tồn một nền chuyên chế bền vững, theo đó cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, đều được tập trung vĩnh viễn vào một cá nhân duy nhất được gọi là Vua hoặc Thiên tử."
    Như vậy là chỉ có câu trong ngoặc đơn định nghĩa Khổng giáo thành Confucianism. Nếu bạn cao kiến thì hãy dịch Nho giáo sang tiếng Anh cho mọi người xem!
    Tôi cảm thấy bài viết này không hề chống Trung quốc mà chỉ nghiên cứu khách quan về Nho giáo nhằm giải thích tại sao Trung quốc và cả Việt nam lại trì trệ lạc hậu như hiện nay thôi.

    Bạn LOTO mới đọc được nửa bài viết có vẻ như chưa hiểu ý tác giả muốn nói gì. Có lẽ LOTO nên đọc nôt phần 2. Tôi cũng chỉ là khách qua đường thỉnh thoảng ghé thăm trang này, hôm nay thấy bài viết về NHO GIÁO có vẻ hay hay vì nó đụng chạm vào cả Toán học. Tôi mạo muội góp vài lời:
    1/ Về tiêu đề và ý chính, tôi nghĩ Nho giáo, Hồi giáo, Cộng sản, v. v., là NGUY HIỂM, dù ngày xưa hay ngày nay thì những cái hệ tư tưởng đó lúc nào cũng NGUY HIỂM cả, vì chúng được dùng chỉ để áp bức và nô dịch con người. Trái ngược hẳn với Nho giáo, Hồi giáo, Cộng sản, v. v., ĐẠO PHẬT và ĐẠO THIÊN CHÚA luôn có thái độ ôn hòa, dạy bảo người ta làm điều hay lẽ phải, dù ngày xưa hay ngày nay thì ĐẠO PHẬT hay ĐẠO THIÊN CHÚA lúc nào cũng TỐT LÀNH không phụ thuộc người ngoài đánh giá thế nào. Vì vậy mà chúng không bao giờ "lạc hậu". Khi đem các hệ tư tưởng xưa phán xét dưới góc độ của người thời nay, đặc biệt là chỉ xoáy sâu vào các điểm bất cập, thì KHÔNG PHẢI cái hệ tư tưởng nào cũng "nguy hiểm" cả. Nói một cách lạc quan, tư tưởng con người tiến bộ/thay đổi qua từng thời kỳ nhưng không thể phủ nhận giá trị tốt lành VĨNH CỬU và BẤT BIẾN của ĐẠO PHẬT và ĐẠO THIÊN CHÚA, việc đánh giá một hệ tư tưởng nào KHÔNG CHỈ DỰA VÀO HOÀN CẢNH ĐƯƠNG THỜI của nó, mà còn phải MỔ XẺ GIÁ TRỊ NỘI TẠI của nó. Đó là căn nguyên để hiểu tại sao khi đem tư tưởng dân chủ của Mỹ ngày nay mà soi Nho giáo của Tàu hồi xưa thì không sao tránh được những sự không tương thích. Về điểm này người ta thấy vai trò quyết định của tư tưởng đối với hành động.
    2/ Về mặt lý thuyết, KHÔNG PHẢI đạo giáo nào cũng hướng tới mục tiêu "cao cả, tốt đẹp". Người Cộng Sản ngày xưa cũng như những anh hùng khủng bố thời nay đều xúi giục người ta làm điều ác, các ông nho sỹ cũng thế thôi, đều rất coi trọng BẠO LỰC (cứ xem thầy đồ đánh học trò thì biết rõ), đều ảo tưởng, đều đạo đức giả hết cỡ. Cộng sản chủ trương xóa bỏ Nho giáo nhằm xây dựng xã hội "tự do bình đẳng không giai cấp" nhưng không thành công, và sẽ không bao giờ thành công, chỉ vì một lý do rất đơn giản là DÙNG CÁI XẤU ÁC ĐỂ CHỐNG LẠI CÁI XẤU ÁC SẼ KHÔNG THỂ LÀM MẤT CÁI XẤU ÁC MÀ CHỈ LÀM CHO CÁI XẤU ÁC SINH SÔI NẢY NỞ NHIỀU HƠN. Nay tác giả Hà Huy Toàn đánh đồng CNXH = chuyên chế Nho giáo, chứng tỏ tác giả này đã thấy rõ sự tương đồng về bản chất giữa hai cái hệ tư tưởng đó. Tác giả này còn cổ xúy tư tưởng dân chủ phương Tây, cũng nhắm đến mục tiêu "tự do bình đẳng", xem ra mục tiêu việc làm không chỉ khác Cộng sản mà còn đối lập với Cộng sản dù là Cộng sản ngày xưa hay Cộng sản ngày nay.
    3/ Tác giả Hà Huy Toàn có nói đến ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN khiến tôi rất bất ngờ. Thật ra tác giả này không trình bày nội dung mà chỉ nêu tên định lý bất toàn, nên tôi không biết tác giả này hiểu đến đâu, tôi mới tìm hiểu định lý này và thấy nó cực kỳ hay và cực kỳ công hiệu về mặt học thuật. Tôi hiểu tác giả này phân tích các thể chế chính trị nhằm xác định GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC cho Nho giáo. Tôi nghĩ nếu tác không làm thế thì người đọc sẽ không thể hiểu được Nho giáo chỉ làm nền tảng tư tưởng cho chế độ chuyên chế. Đó là cách làm đúng và hay cần phải được khuyến khích. Tôi không biết Bạn LOTO đã biết ĐLBT chưa, nếu chưa thì bạn nên tìm hiểu cái định đó. Sẽ rất hay và rất bổ ích cho bạn đấy!
    4/ Bài viết này không có gì mơ hồ và được lập luận rất chặt chẽ, ví dụ:
    a) “Nho” có nghĩa là người cần thiết cho việc gì đó hoặc người cần được dùng vào việc nào đó. Từ đó suy ra rằng, “Nho” có nghĩa là con người công cụ hoặc con người được dùng làm phương tiện (cho người khác sử dụng). Đoạn này đã cắt nghĩa được cho chữ “Nho” có nghĩa là kẻ đầu sai chuyên tụng niệm Nho giáo để làm tay sai cho tầng lớp thống trị áp bức các tầng lớp khác.
    Do chữ “Nho” có nghĩa như vậy nên không thể hiểu "Nho" là hệ tư tưởng "cần thiết cho con người" mà chỉ có thể phải hiểu “Nho” là "con người cần thiết cho việc cai trị"! Vì vậy mà Nho giáo phải được hiểu là hệ tư tưởng không cần thiết cho con người. Bộ "nhân" trong chữ "Nho" chỉ là bộ “nhân” “đứng”, ý không lấy con người làm gốc mà chỉ dùng con người làm phương tiện thôi.
    b) "Ở Việt Nam hiện nay có khoảng từ 60% đến 70% dân số theo Nho giáo". Tôi cũng không biết tác giả Hà Huy Toàn lấy số liệu ở đâu nên tôi có thể đồng tình với bạn LOTO
    khi đặt thành vấn đề: Không biết tác giả lấy thống kê ở đâu, hay là tự bịa ra?
    c) "Bản tính vị kỷ biểu hiện thành xu hướng tâm lý lấy mình làm mục đích đồng thời lấy mọi thứ khác làm phương tiện để thoả mãn mình; xu hướng đó biểu hiện thành ba phẩm chất cơ bản: ích kỷ, tư lợi và tham lam. Nho giáo không bao giờ thấy được cái sự thật hiển nhiên như thế. Không thấy được cái sự thật hiển nhiên ắt sẽ không tránh khỏi sự mê lầm dối trá. Không tránh khỏi sự mê lầm dối trá đương nhiên phải trở thành một hệ tư tưởng vong thân, tức là cái hệ tư tưởng làm cho người ta bị mất mình."
    Tôi nghĩ tác giả suy luận quá đúng và quá hay! Kiểu lập luận này rất "Phản Nho"!!! Đọc rất nhiều sách vở Nho học nhưng tôi không thấy nói gì về lòng tham ở mọi con người, Khổng Tử không bao giờ dám tự nhận mình cũng có lòng tham mà lúc nào cũng tỏ ra mình thánh thiện!? Từ một cái chỗ hở hiển nhiên gây chết người của Nho giáo (tác giả tự đặt ra làm tiên đề mà không cần phải chứng minh), tác giả suy luận đến chỗ suy đồi của cả hệ tư tưởng Nho giáo, thật là một kết luận chính xác tuyệt vời, tuy có vẻ mang tính áp đặt nhưng không thể bác bỏ được. Đề nghị bạn LOTO xem lại ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN sẽ thấy tác giả thật tuyệt vời.
    d) "...chính thể chuyên chế làm cho pháp luật trở thành con số không với các điều luật loại trừ nhau, theo đó các điều luật công bằng bị vô hiệu hoá bởi các điều luật xiêu lệch hoặc các điều luật bất công. Hãy làm một phép toán đơn giản để hiểu biết được đúng đắn sự thể đó: a – a = hoặc a + (– a) = , từ đó suy ra rằng chính thể chuyên chế không có pháp luật hoặc pháp luật không thể tồn tại được với chính thể chuyên chế."
    Bạn LOTO đã trích dẫn BỚT XÉN 2 công thức: a – a = và a + (– a) = , làm cho cả 2 công thức đều bị mất số 0. Tôi cảm thấy kiểu TRÍCH DẪN thế này chỉ LÀM HẠI mọi năng lực sáng tạo. Tôi long trọng kính đề nghị Bạn LOTO bước xuống mặt đất để phê bình bằng cung cách tử tế.
    Tóm lại, riêng tôi cảm thấy bài viết này rất hay, lập luận chặt chẽ theo chủ ý chính trị rất rõ ràng để người đọc tránh xa Nho giáo mà đến với các tư tưởng khai sáng, xây dựng dân chủ cho nước nhà Việt nam đang rên xiết dưới xiềng xích Nho giáo và Cộng sản. Phải tận dụng cơ hội tốt từ việc siêu cường Mỹ xoay trục sang Á châu – Thái bình Dương mà THOÁT TÀU. Mọi tác phẩm đều được tạo ra bởi bàn tay con người nên không tránh khỏi thiếu sót. Mong tác giả cân nhắc vài ý kiến khiêm tốn ở đây mà rút kinh nghiệm cho những bài viết sau.
    Mong lắm thay!

    LOTO viết:
    Trước hết là tôi cảm ơn tác giả đã dành nhiều thời gian cho loạt bài viết này. Trong quỹ thời gian hạn hẹp, tôi chỉ có thể đọc được nửa bài viết và xin góp ý vài lời. . .

    Xin đưọc chia sẻ ý kiến của bác khách LOTO. Mới đọc khúc mở đầu, thấy tác giả dịch Confucianism là "nho giáo" tôi đã không thấy thoải mái, bởi vì nho giáo mang tính tôn giáo, một sự đơn giản hoá triết lý Khổng Giáo để phục vụ số đông. Nhưng tôi chỉ có chút ít hiểu biết về triết lý của Khổng Tử nên không giám lạm bàn.

    Tôi có cảm giác bài viết thể hiện một xu hướng của nhiều người hiện nay là bất cứ cái gì dính dáng đến Trung Hoa/Trung Quốc đều xấu cả, và cần đả phá. Triết lý khổng Tử là một phần quan trọng của triết học Á đông, và một số quan điểm của khổng tử có thể lạc hậu, nhưng nó vẫn còn có những cái mà người ta có thể học hỏi (không có nghĩa là chấp nhận). Đó là lý do tại sao Confucianism vẩn là một chuyên ngành trong Asian Studies ở các đại học ở Mỹ.

    Theo thiển ý của tôi, thái độ chống lại bất cứ những gì liên quan đến Trung Hoa/Trung Quốc chỉ vì VN hiện nay có những bất đồng về chính trị với nước này thể hiện chủ nghĩa dân tộc cực đoan (extreme nativism). Nó không khác chi các chính sách của Trung Quốc trong thời kỳ cách mạng văn hoá, hay chính sách cải tạo văn hoá của chính quyền CSVN. Chính những chính sách này mới là nguy hiểm.

    Trước hết là tôi cảm ơn tác giả đã dành nhiều thời gian cho loạt bài viết này. Trong quỹ thời gian hạn hẹp, tôi chỉ có thể đọc được nửa bài viết và xin góp ý vài lời.

    1. Về tiêu đề và ý chính, tôi nghĩ không nên cho Nho giáo là "nguy hiểm", chỉ nên gọi là "lạc hậu" nếu muốn. Khi đem các hệ tư tưởng xưa phán xét dưới góc độ của người thời nay, đặc biệt là chỉ xoáy sâu vào các điểm bất cập, thì cái nào cũng "nguy hiểm" cả. Nói một cách lạc quan, tư tưởng con người tiến bộ/thay đổi qua từng thời kỳ, việc đánh giá một hệ tư tưởng nào cũng nên dựa vào hoàn cảnh đương thời của hệ đó, chứ đem tư tưởng dân chủ của Mỹ ngày nay mà soi Nho giáo của Tàu hồi xưa thì tránh sao được những sự không tương thích.

    2. Về mặt lý thuyết, đạo giáo nào cũng hướng tới mục tiêu "cao cả, tốt đẹp". Người Cộng Sản ngày xưa cũng chủ trương xóa bỏ Nho giáo, xây dựng xã hội "tự do bình đẳng không giai cấp". Nay tác giả lại đánh đồng CNXH = chuyên chế Nho giáo, cổ xúy tư tưởng dân chủ phương Tây, cũng nhắm đến mục tiêu "tự do bình đẳng", xem ra mục tiêu việc làm cũng không khác Cộng Sản ngày xưa.

    3. Chủ đề bài viết là về Nho giáo, nhưng phân nửa dành cho phân tích các thể chế chính trị, phê phán CNXH, ca ngợi tam quyền phân lập, thiết nghĩ hơi lạc đề.

    4. Có quá nhiều chi tiết mơ hồ và lập luận gượng ép, xin lấy ví dụ:
    a) "“Nho” có nghĩa là người cần thiết cho việc gì đó hoặc người cần được dùng vào việc nào đó. Từ đó suy ra rằng, “Nho” có nghĩa là con người công cụ hoặc con người được dùng làm phương tiện (cho người khác sử dụng). "
    Tại sao không thể hiểu "Nho" là hệ tư tưởng "cần thiết cho con người" (chứ không phải "con người là cần thiết cho vật gì"?). Bộ "nhân" trong chữ "Nho" ý lấy con người làm gốc, làm chủ của từ.

    b) "Ở Việt Nam hiện nay có khoảng từ 60% đến 70% dân số theo Nho giáo"
    Không biết tác giả lấy thống kê ở đâu, hay là tự bịa ra?

    c) "Bản tính vị kỷ biểu hiện thành xu hướng tâm lý lấy mình làm mục đích đồng thời lấy mọi thứ kháclàm phương tiện để thoả mãn mình; xu hướng đó biểu hiện thành ba phẩm chất cơ bản: ích kỷ, tư lợi và tham lam. Nho giáo không bao giờ thấy được cái sự thật hiển nhiên như thế. Không thấy được cái sự thật hiển nhiên ắt sẽ không tránh khỏi sự mê lầm dối trá. Không tránh khỏi sự mê lầm dối trá đương nhiên phải trở thành một hệ tư tưởng vong thân, tức là cái hệ tư tưởng làm cho người ta bị mất mình."
    Tôi nghĩ tác giả suy luận quá đà, mà kiểu lập luận lại rất "Nho"!!! Từ một cái chỗ hở của Nho giáo (mà tác giả tự đặt ra chứ không chứng minh được), tác giả luận đến chỗ suy đồi của cả hệ tư tưởng, thật là một kết luận vội vàng mang tính áp đặt.

    d) "...chính thể chuyên chế làm cho pháp luật trở thành con số không với các điều luật loại trừ nhau, theo đó các điều luật công bằng bị vô hiệu hoá bởi các điều luật xiêu lệch hoặc các điều luật bất công. Hãy làm một phép toán đơn giản để hiểu biết được đúng đắn sự thể đó: a – a = hoặc a + (– a) = , từ đó suy ra rằng chính thể chuyên chế không có pháp luật hoặc pháp luật không thể tồn tại được với chính thể chuyên chế. "
    Tôi cảm thấy kiểu hành văn thế này chỉ dành khi viết cho các độc giả nhỏ tuổi nên mạo phép đề nghị tác giả bước xuống mặt đất để viết văn tử tế hơn.

    Tóm lại, cá nhân tôi cảm thấy bài viết rất rườm rà, lập luận lỏng lẻo và gượng ép theo chủ ý chính trị của người viết, văn phong tùy tiện không nghiêm túc. Mong tác giả cân nhắc vài góp ý thiển cận trên mà rút kinh nghiệm cho những bài viết sau.

    Pages