LS Trần Đức Hoàng - Thách thức đầu tiên dành cho Việt Nam sau khi TPP đạt được thỏa thuận cuối cùng

  • Bởi CM
    05/08/2015
    7 phản hồi

    Ls Trần Đức Hoàng


    Nếu TPP đạt được thỏa thuận cuối cùng và thông qua, một trong những thách thức đầu tiên mà Chính phủ Việt Nam sẽ phải đương đầu là việc đảm bảo thực thi cam kết. Như Ezlaw đã phân tích tại các bài trước, TPP là một thỏa thuận quốc tế thế hệ mới, việc đảm bảo thực thi các nghĩa vụ của thỏa thuận này sẽ được coi là quan trọng và khắt khe nhất, nhằm phát huy tối đa lợi ích của các thành viên của hiệp định. Điều này càng đúng hơn khi mà tại TPP, các nhà đầu tư nước ngoài luôn có thể kiện chính phủ các nước thành viên, bao gồm Việt Nam, thông qua hệ thống ISDS khi các chính phủ không thực hiện các nghĩa vụ của mình và gây ra tổn thất cho các nhà đầu tư. (Xem thêm về hệ thống ISDS tại đây).


    Tổng thống Obama đã từng nói: “không đáp ứng TPP, Việt Nam sẽ bị loại”

    Thách thức này sẽ bao gồm nhiều vấn đề khác nhau và việc giải quyết nó là không hề đơn giản.


    Đầu tiên, TPP bao trùm nhiều lĩnh vực cả thương mại lẫn phi thương mại, nên việc thực thi các cam kết chắc chắn sẽ phải trải rộng trên nhiều khía cạnh, liên quan tới nhiều lĩnh vực, đòi hỏi các biện pháp khác nhau nhưng vẫn đồng nhất về kết quả và mục đích. Như sẽ phân tích về sau, hầu hết các bộ ngành sẽ bị ảnh hưởng.


    Thứ hai, Việt Nam sẽ phải thiết lập và vận hành những cơ quan/cơ chế mới chỉ dành riêng cho việc đảm bảo thực thi TPP. Các cơ quan mới sẽ bao gồm các đầu mối liên lạc, các ủy ban đặc biệt hoạt động dưới Bộ công thương, và cũng có thể là các tổ chức đặc biệt trực thuộc các bộ ngành khác nhau. Mô hình, chức năng, lộ trình của những tổ chức, cơ chế mới dành riêng cho TPP thường sẽ được thực hiện theo các quy định, cam kết cứng (tức không thể thay đổi) giữa các nước thành viên. Sẽ có những cơ chế do từng nước thành viên vận hành riêng, nhưng cũng sẽ có những cơ chế do tất cả các nước thành viên cùng tổ chức và vận hành.


    Thứ ba, các cơ quan/cơ chế đang tồn tại có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới các nghĩa vụ TPP cũng sẽ phải được điều chỉnh và thay đổi. Do phạm vi ảnh hưởng của TPP là rất lớn và trải rộng nên có thể nói rằng cả bộ máy đang hoạt động của chính phủ Việt Nam sẽ bị tác động. Hướng đi và mục đích của các chính sách liên quan tới mọi vấn đề trong kinh tế, xã hội cũng vì thế mà thay đổi.

    Ngoài ra, các chính sách mới chắc chắn cũng sẽ phải đảm bảo không trái với các cam kết của TPP về quy tắc nội dung, thủ tục và trình tự.


    Hầu hết các cam kết thành lập cơ quan/cơ chế mới và điều chỉnh cơ chế cũ đều phải thực hiện ngay hoặc sau một thời hạn ngắn khi TPP đi vào hiệu lực, nên Chính phủ Việt Nam sẽ phải đương đầu với thử thách đi tìm nguồn lực mới với năng lực và chất lượng cao. Đây sẽ là cơ hội cho các nhóm du học sinh từ nước ngoài trở về.


    Thứ tư, không những các chính sách mới phải đảm bảo quy tắc cam kết giữa các nước thành viên, mà những chính sách, pháp luật hiện hành cũng phải được điều chỉnh để không đi trái lại với các quy tắc này. Điều đó có nghĩa rằng hệ thống pháp luật của Việt Nam bao gồm nội dung, thủ tục sẽ phải được rà soát và điều chỉnh đồng bộ lại. Chính phủ Việt Nam sẽ phải lập một cơ quan hay một nhóm những nhà luật gia tốt nhất để phối hợp cùng các bộ ngành thực hiện vấn đề này.


    Thứ năm, Việt Nam sẽ phải thực hiện một cơ chế công khai thông tin tốt hơn. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ sử dụng triệt để hệ thống ISDS để đảm bảo quyền lợi của mình tại các nước thành viên, vì vậy, nhiều thông tin liên quan đến các vấn đề xuất nhập khẩu sẽ phải được tạo điều kiện cho công chúng tiếp cận, đồng nghĩa với việc các cơ quan nhà nước không còn là các tổ chức độc quyền có được những thông tin này.

    Có thể thấy rằng, việc đương đầu và xử lý với những thách thức đảm bảo thực thi các cam kết thỏa thuận tại TPP không hề đơn giản. Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải chuẩn bị và đề ra hướng thực hiện ngay từ bây giờ. Đây không chỉ là một biện pháp phòng vệ, mà còn là một biện pháp bảo đảm quyền lợi của Việt Nam như một thành viên của TPP.

    Thông tin về luật sư Trần Đức Hoàng:


    Luật sư Trần Đức Hoàng là một trong những công dân Việt Nam hiếm hoi có may mắn được học luật tại Mỹ dưới chương trình Juris Doctor (tiến sĩ luật). Tập trung vào mảng luật quốc tế và luật thương mại, Hoàng hiện đã có bằng luật sư tại bang Massachusetts và New York. Ngoài ra, Hoàng còn là một nhà khởi nghiệp trong giới công nghệ thông tin. Sắp tới Hoàng sẽ về Việt Nam để chính thức điều hành startup đầu tay của mình và những người bạn, Ezlaw.
    Địa chỉ Facebook: www.facebook.com/cafepho

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Trademark Infringement

    công ty khởi nghiệp của "tiến sĩ luật" Trần Đức Hoàng mượn ý tưởng kinh doanh của công ty ezlaw và "mượn" luôn cả doanh hiệu "ezlaw" !

    Các bác kiều Mỹ có thể vào đây để Do It Yourself Legal Forms :
    http://blogs.lawyers.com/tag/ezlaw/

    Đây là sự cố luật sư Việt du học Mỹ vi phạm Trademark, và vi phạm Intellectual property law/Intellectual rights của luật sư Mỹ !

    - Các khóa học luật từ trình thấp nhất (JD) đến cao nhất (PhD in Law) tại đại học luật hàng đầu của Mỹ:

    Yale Law School offers five degree-granting programs:

    The J.D. program is a three-year course of study.
    Learn more about academic requirements and applications.

    The LL.M. is a one-year course of study for students who have completed their law degree and are interested in law teaching.
    Learn more.

    The J.S.D. program is open to Yale Law School LL.M. graduates.
    Learn more.

    The M.S.L. program is a one-year course of study intended for experts in other disciplines who want to explore how the law relates to their fields.
    Learn more.

    The Ph.D. in Law is designed to prepare J.D. graduates for careers in legal scholarship through three years of supervised study.

    http://www.law.yale.edu/academics/jdprogram.htm

    - Harvard Law (hạng 2) và Stanford Law (hạng 3) không có PhD in Law.

    - nếu có nhận thức sẽ thấy được rằng JD [a post graduate 1st law degree], tương đương về trình luật với LLB [Bechelor of Laws/Cử nhân Luật (an undergraduate 1st law degree) ở những nước theo hệ common law như Anh, Úc,v.v.], nhưng "sang" hơn LLB vì người muốn học JD thì trước đó phải có bằng cử nhân của ngành khác.

    Trust me, I'm a doctor of law
    http://www.economist.com/blogs/johnson/2013/03/professional-titles

    A LAWYER, a professor, and a physician walk into a bar. As they (predictably) begin to argue over drinks, the lawyer leans over the table and pulls out his trump card: “I'm right. Trust me, I’m a doctor.” The professor and physician are left speechless.
    The lawyer isn’t wrong, strictly speaking. The American law degree is the Juris Doctor, literally “doctor of law”. The change from LLB (bachelor of laws) and LLM (master of laws) reflected a different approach to legal education stateside. As the modern incarnation of an older European doctorate, the new JD was intended to provide only professional preparation as a follow-up to a primary degree, usually from a liberal arts program. JDs were confined to the United States until about 15 years ago. JD programs have been popping up in other countries since.
    The translation of the degree name is clear, but more sticky is whether a lawyer can properly refer to himself as a doctor. In America, “doctor” is commonly reserved for medical doctors and academics who hold a PhD (doctor of philosophy) degree. Holders of EdD (doctor of education) or PsyD (doctor of psychology) degrees might also be addressed as doctors. Some prefer the use of “doctor” to be limited to those with MD (doctor of medicine) degrees. Still, it’s standard American practice to call professors and physicians doctors. It’s rare to hear a lawyer addressed the same way.
    The American Bar Association (ABA), which publishes model rules on professional ethics for lawyers, is unclear about whether lawyers can use the title Dr. There is a general prohibition on misleading potential clients, but the rules don’t address the specific “doctor” question. Some state ethics committees have stepped in where the model rules haven’t. Given the patchwork of state and national rules, lawyers intent on calling themselves doctors must check their local rules. For example, in Texas, lawyers couldn’t call themselves “doctor” until nine years ago. The state ethics committee reversed course in 2004, allowing the use of “doctor” as long as it wasn’t misleading—as, say, in an advert for medical malpractice law.
    But if potential clients don’t know that JD degrees denote doctors of law, any use of Dr without an MD or PhD degree could be misleading. More important, calling lawyers doctors is silly and pedantic. Some argue that lawyers don’t “deserve” the title of doctor because their course of study is shorter and less rigorous than those of physicians or academics—or even SJD (doctor of juridical science) recipients. That misses the point. American lawyers are indeed a sort of doctor by degree, but the title Dr carries a specific meaning that is common and well-understood. The title Esq (esquire), if a bit stuffy, does the job without misleading anyone. Ethics boards might be flexible, but common sense is less so.

    Vì bài viết liên quan đến một người tốt nghiệp ngành Luật tại Mỹ, Trần Đức Hoàng, thiết tưởng nên tập chú vào sự đào tạo trong ngành Luật tại Mỹ.
    Có 3 cấp:
    1) Juris Doctor: Đây là cấp "căn bản" (first law degree) để có thể hành nghề Luật (sư) tại Mỹ. Học trình thường là 7 năm. 4 năm tại bất cứ Đại Học nào và bất cứ ngành học nào miễn là qua được kỳ thi vào các trường Luật. 3 năm chuyên ngành Luật trong một trường Luật. Hoàn tất sẽ được cấp bằng Juris Doctor. Cuối cùng nếu muốn hành nghề thực thụ, cần qua một kỳ thi gọi là " the bar exam" nơi tiểu bang mình muốn hành nghề.

    2) Master of Law: Sau khi đã hoàn tất cấp căn bản về luật ( J.D.) sinh viên có thể tiếp tục theo chương trình Master of Law. Học trình chỉ cần 1 năm và học về một ngành đặc biệt nào đó, chẳng hạn Luật Môi Trường, Luật thuế Vụ, Luật Nhân Quyền v.v...
    Đây cũng là một cơ hội giúp cho các sinh viên nước ngoài theo học để có thể hành nghề Luật tại Mỹ, dĩ nhiên trước đó họ đã có "first law degree" tại xứ sở cuả họ và bằng cấp đó được công nhận tại Mỹ.

    3) Doctor of Judical Science: Đây là cấp bằng cao nhất về Luật tai Mỹ. Học trình thường là 3 năm (toàn thời gian) sau khi đã hoàn tất Juris Doctor hay Master of Law, những người theo đuổi cấp này thường là để trở thành Giáo Sư tại các trường luật hay đi vào lãnh vực nghiên cứu về luật (các hệ thống luật trên thế giới...).

    Cũng như ngành y khoa, ở Mỹ không có trường đại học nào dạy chuyên ngành luật ở cấp cử nhân. Nói cho rõ, không có cấp bằng Bachelor of Medicine, cũng không có cấp bằng Bachelor of Law.

    @"Tiến sĩ Luật"

    Xin ngài Tiến Sĩ vào 1 trong 2 điạ chỉ (trên mạng) sau để biết Juris Doctor (J.D.) và Master of Law (L.L.M) là gì, sự khác biệt... và...để biết ai "misleading".
    (Nếu cần dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt sẽ có người ...giúp.) :
    * www.Isac. org/llm/degree/jd-llm-difference
    * classoom.synonym.com/difference-between-master-law-juris-doctorate- degree-2342 html

    "Juris Doctor" là bằng luật cho người đi học luật nhưng đã có bằng cử nhân ngành khác.

    "Bachelor of Law" - Cử nhân Luật - là bằng luật cho người học xong trung học và đi học luật; sau đó muốn học cao hơn thì học Master of Law - Thạc sĩ Luật - và cao hơn nữa là PhD in Law - Tiến sĩ Luật.

    Cho nên, "Juris Doctor" mà "chuyển ngữ" là "Tiến sĩ Luật" thì có vẻ như "misleading"

    Chính quyền VN đã thương lượng từ 7 năm qua để VN gia nhập TPP, nên họ biết rõ hơn luật sư mới ra trường về các thách thức cải cách sau khi TPP hoàn tất. Nhưng việc hoàn tất TPP trở nên xa vời sau thất bại của vòng đàm phán ở Hawaii.