Xuân Hùng - Viết nhân ngày 27/7: Số phận người thương binh miền Nam sau cuộc chiến.

  • Bởi Sapphire
    22/07/2015
    1 phản hồi

    Xuân Hùng


    Một Thương Phế Binh VNCH sau cuộc chiến

    Chiến tranh Việt Nam (1954- 1975) là một cuộc nội chiến, chứ không phải là một cuộc chiến tranh giải phóng như tuyên truyền. Ngày nay, tài liệu về chiến tranh Việt Nam rất phong phú, cho phép chúng ta nhìn nhận lại hầu hết mọi khía cạnh của cuộc chiến. Miền Nam nhận hổ trợ của khối tư bản, có sự tham chiến trực tiếp của Mỹ, miền Bắc nhận sự giúp đỡ của khối cộng sản, có sự tham gia của hàng vạn cố vấn, binh lính Trung Quốc, Liên Xô. Cuộc chiến đó đã gây ra một vết thương rất sâu và rất dài cho dân tộc Việt Nam.

    Ngày 27/7 hàng năm, khắp cả nước, nơi nào cũng có nhiều việc làm để tri ân những thương binh, tưởng nhớ các liệt sĩ, những người ngã xuống cho đất nước độc lập thống nhất. Còn những người thương binh bên thua cuộc thì sao, họ bị lãng quên ?.

    Chiến tranh là mất mát, là đau thương, người mẹ lính bên nào mà không đau lòng khi nghe tin con mình chết trận, trên chiến trường viên đạn xuyên qua tim một người lính, ngày mai, khi tin về, viên đạn sẽ xuyên qua tim một người vợ trẻ đang chờ chồng. Cuộc chiến chỉ chấm dứt khi có một bên thắng, một bên thua, vì đất nước phải thống nhất. Nhưng những việc làm của bên thắng cuộc đối với bên thua cuộc sau chiến tranh thật không công bằng. Nhất là đối với các tử sỉ, thương phế binh. Họ dường như bị loại ra khỏi lịch sử, bị coi là tội đồ, là ngụy là tay sai cho ngoại bang đế quốc, những trang sách viết về họ nào là ác ôn, nào là tàn bạo, những đóng góp của họ cho lịch sử dân tộc bị phủi sạch.

    Khắp cả nước nơi nào cũng có đền, đài, để vinh danh chiến thắng trong cuộc nội chiến ấy, các ngày lễ cũng được tổ chức long trọng. Trong khi những người ngã xuống vì cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 -1984, bảo vệ Biển đảo thì lại bị lãng quên.

    Người lính bên thua cuộc nằm xuống không nghĩa trang, không đài tưởng niệm. Mộ phần nơi an nghỉ cũng không được yên, hầu hết nghĩa trang đều bị đập phá, san bằng. Hành động này không khác gì những hành động của vua chúa ngày xưa, thật không nên, vì nó chỉ reo thêm hận thù vào lòng những người bên kia chiến tuyến.

    Khi vào miền Nam nơi nào tôi cũng thấy có nhiều người cụt tay, cụt chân, mù mắt thậm chí có người bị cụt cả hai chân, xin ăn, đàn hát, bán vé số ở các bên xe, chợ, quán ăn...khi hỏi mới biết đó là những người thương binh VNCH. Điều này tôi không hề được biết khi còn đang ở miền Bắc, vì không ai kể, sách báo cũng không viết về họ.

    Dù chiến tranh đã đi qua 40 năm, nhưng người thương binh miền Nam vẫn còn bị chính quyền phân biệt, kỳ thị. Nhìn họ, tôi lại nghĩ tới những người thương binh miền Bắc, được nhà nước trả công cho những hi sinh của mình trong chiến tranh, có chế độ, được chăm lo khi bệnh tật, con cái học hành cũng được ưu tiên, nghĩ mà thấy bất công cho những người thương binh miền Nam. Họ bị coi là ngụy quân, lính đánh thuê, quân bán nước, bị dồn vào các "trại chăn nuôi", đẩy đi các vùng kinh tế mới. Thậm chí có người còn kể, khi mới vào Sài gòn người ta đã đuổi những thương binh miền Nam ra khỏi Bệnh viện khi vết thương con đang rỉ máu.

    Họ, những thương phế binh Miền nam, sống thoi thóp, bị phân biệt, kỳ thị và chết đi trong uất hận căm hờn. Qua nhiều câu chuyện kể của những nhân chứng còn sống ta có thể hình dung được sự phân biệt đối sử đó tàn bạo và để lại hệ quả như thế nào. Có nhiều người không chịu nổi cái khổ, cái nhục, không muốn tấm thân tàn phế của mình làm gánh nặng cho gia đình đã tìm đến cái chết. Tất cả những bất công đó chỉ do họ là thương binh bên thua cuộc.

    Mặc dù bị phân biệt đối xử, sống cuộc đời khốn cùng nhưng những thương binh miền Nam vẫn an ủi, giúp đỡ nhau sống. Những người chiến hữu của họ định cư ở nước ngoài cũng gửi tiền về giúp đồng đội của mình. Sự thiếu thốn về vật chất và bị đầy đọa về thể xác nhưng tinh thần họ vẫn tự do. Là lính họ vẫn còn tình đồng đội, họ cũng có quyền tự hào về những vị tướng, về binh chủng mà mình từng phục vụ.

    Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, theo thời gian vết thương nào rồi cũng được hàn gắn. Bên thắng, bên thua cũng điều là người Việt, cùng chung cuội nguồn, chung lịch sử, người nằm xuống cũng đã xanh cỏ, người còn thì nay cũng đã ở cái tuổi xưa nay hiếm. Rồi đây đất nước là của những thế hệ kế cận, họ không liên quan tới cuộc chiến, vậy tại sao cứ mãi gieo rắc hận thù vào thế hệ trẻ để lòng người một nước mãi ly tán.

    Các vị lãnh đạo Đảng khi nào cũng hô hào "Hãy quên đi quá khứ, đoàn kết lại để xây dựng đất nước", nhưng việc làm của họ lại không đi đôi với lời kêu gọi nên tất cả điều vô nghĩa. Thế hệ chúng ta là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử ấy, không thể cải tạo lịch sử vì nó đã là quá khứ. Vì vậy hãy đấu tranh cho thực tại để có một tương lai tốt đẹp, vì một nước Việt Nam phồn vinh, thịnh vượng.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    số phận chung của những Thương Phế Binh Miền Nam.

    Bài viết sau đây của ký giả Yoshigata Yushi của Nhật Bản đề cập về số phận chung của những Thương Phế Binh Miền Nam.

    “Hãy quên quá khứ, đoàn kết lại để xây dựng đất nước” là câu nói thường được các nhà lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam nhắc lui nhắc tới kể từ khi quốc gia này áp dụng chính sách “đổi mới” vào năm 1986 dưới thời ông Nguyễn Văn Linh. Ngày 30 tháng 4 vừa qua tại Việt Nam, các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam cũng lập lại câu này trong những buổi lễ tổ chức mừng “Chiến thắng 30/4″.
    Bất cứ chuyện gì được coi là đúng khi lý thuyết phải phù hợp với thực tế. Lời kêu gọi phải đi đôi với việc làm còn không thì tất cả đều vô nghĩa. Kêu gọi người ta hãy quên quá khứ thì chính mình cũng phải hòa đồng, cởi mở, đối xử công bằng với tất cả mọi người chứ không được kỳ thị. Ở đây tôi muốn nói đến số phận chung của người thương binh miền Nam hiện nay vẫn còn bị chính quyền kỳ thị cho dù chiến tranh đã kết thúc đúng 30 năm. Họ đang là nạn nhân của một xã hội bị phá sản mọi thứ tại Việt Nam và đang cần, rất cần sự giúp đỡ của mọi người trong chúng ta.
    Từ khi áp dụng chính sách “đổi mới”, chính quyền Hà Nội đã hé cửa cho một số hội đoàn thiện nguyện (NGO) nước ngoài vào Việt Nam làm công tác từ thiện, giúp đỡ những người đang ở trong hoàn cảnh khó khăn. Tôi đã được một người trong tổ chức NGO hướng dẫn đến trung tâm trị liệu phục hồi cho người tàn tật ở Cần Thơ. Tại đây tôi được gặp ông N. V. Công (73 tuổi, một thương phế binh của Việt Nam Cộng Hòa) khập khểnh bước đi bằng đôi nạng gỗ đã quá cũ mèm mà ông ta sử dụng từ năm 1973 đến bây giờ. Một người thương phế binh khác là ông N. C. Hùng (53 tuổi) cụt cả hai chân mà chẳng có một phương tiện nào khác để di chuyển ngoại trừ hai bàn tay. Muốn đi phải dùng hai bàn tay chống để lết. Cả ông Công và ông Hùng chẳng được một cơ quan nào của nhà nước giúp đỡ phải tự kiếm sống bằng những công việc như đan thúng, đan giỏ…
    Người nhân viên NGO này cho biết lý do tại sao tổ chức NGO của ông ta lại quyết định chọn con đường giúp đỡ những người thương binh miền Nam. Lý do Sài Gòn là nơi đầu tiên họ được đặt chân đến để hiệp tác cho chương trình xóa đói giảm nghèo mà chính quyèn Hà Nội kêu gọi. Sau khi đi tham quan nhiều nơi tại miền Nam, phái đoàn của tổ chức NGO này ra Hà Nội để tiếp tục cuộc tham quan. Tại Hà Nội và nhiều nơi khác ở miền Bắc, họ cũng được gặp nhiều thương binh bộ đội miền Bắc có người thì ngồi xe lăn. Có người thì đi bằng chân giả hay chống nạng. Người thương binh đã mất đi một phần thân thể của mình cho đất nước thì chính phủ ít ra phải lo cho họ có những thứ đó để giảm bớt trở ngại trong cuộc sống hàng ngày là chuyện đương nhiên.
    Nhìn những thương binh miền Bắc, chúng tôi không khỏi ngậm ngùi cho hoàn cảnh của những thương binh miền Nam mà chúng tôi đã gặp tại Sài Gòn, hay những vùng Lục Tỉnh… là họ đã bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn. Đó là lý do chính để tổ chức NGO chúng tôi quyết định công việc giúp đỡ thương phế binh miền Nam. Người nhân viên NGO này còn cho biết thêm là họ được chính quyền Hà Nội chấp thuận cho làm công việc giúp đỡ này nhưng với điều kiện là phải đặt dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Chúng tôi đã đến nhiều quốc gia làm việc thiện nguyện, nhưng chẳng có một quốc gia nào đặt ra điều kiện kỳ quái như thế, nhưng họ đành phải chấp nhận để mong sao giúp đỡ được những người cần được giúp đỡ.
    Nhóm NGO này còn kể tôi nghe rằng họ đã trao tặng các trung tâm trị liệu phục hồi cho người tàn tật nhiều xe lăn, chân giả, nạng gỗ và nhiều thứ khác. Vì thấy mức độ tàn tật quá nặng của ông Hùng cần đặc biệt phải giúp đỡ nên tổ chức chúng tôi tặng riêng cho ông Hùng một chiếc xe lăn.

    Tặng xong, họ yên chí là từ đây ông Hùng không còn quá nhọc nhằn như trước mỗi khi muốn di chuyển vì đã có phương tiện. Tháng sau họ trở lại gặp ông Hùng thì vẫn thấy ông ta lết đi bằng hai tay. Hỏi xe lăn đâu thì ông Hùng trả lời rằng đã bị nhà cầm quyền địa phương tịch thâu vì cơ quan cho xe không qua trung gian chính phủ, bắt phải đóng tiền phạt mới được nhận xe. Mà ông Hùng lấy đâu ra tiền để đóng phạt. Cuối cùng họ lại phải bỏ tiền túi đóng phạt để nhận xe lăn cho ông Hùng.

    Nghe xong câu chuyện về ông Hùng nói trên, tôi không thể hiểu nổi một chính quyền cứ ra rả nói về ‘quên đi quá khứ’ mà lại có những hành động vô nhân đạo đối với những người đã thua cuộc cách nay 30 năm. Rõ ràng là về mặt ý thức, chiến tranh Việt Nam chưa chấm dứt. Bởi vì nếu bảo rằng đây là hành động sai phạm có tính cách cá biệt của những quan chức chính quyền địa phương thì cũng đáng buồn cho Việt Nam vì tại đất nước này ngay đến người tàn tật, bần khốn tận cùng cũng không tránh khỏi nạn bóc lột. Tôi rất chia sẻ vì sao sau 30 năm, người Việt Nam vẫn tiếp tục đấu tranh cho sự tự do, dân chủ và nhân quyền được tôn trọng tại Việt Nam.