Luật sư Vũ Đức Khanh - Ông Trọng sẽ thảo luận gì với ông Obama?

  • Bởi Trà Mạn
    05/07/2015
    5 phản hồi

    Luật sư Vũ Đức Khanh

    Tòa Bạch Ốc hôm 3/7 vừa ra thông cáo cho biết Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ tiếp Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng tại Phủ Tổng thống vào ngày 7/7 sắp tới.


    Đây sẽ là một cuộc gặp lịch sử, sau 20 năm ngày hai quốc gia cựu thù bình thường hóa bang giao, sau 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, và là lần đầu tiên một Tổng bí thư ĐCSVN đến Hoa Kỳ.

    Thông cáo trên cho biết Tổng thống Obama trông đợi thảo luận với nhà lãnh đạo ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng về các phương cách củng cố thêm Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt cùng các vấn đề khác như Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), hợp tác quốc phòng song phương, và nhân quyền Việt Nam.
    Trong khi đó truyền thông quốc tế tại Hà Nội cũng cho biết ông Trọng mong muốn trong chuyến công du này sẽ có “thảo luận cởi mở và thẳng thắn với phía Hoa Kỳ để giúp hiểu biết lẫn nhau, xây dựng sự tin cậy giữa hai nước, cũng như để thảo luận về những phương cách thắt chặt quan hệ song phương”.

    Đã 20 năm có quan hệ song phương ở cấp Đại sứ, với biết bao nhiêu cuộc thăm viếng của bao thế hệ lãnh đạo các cấp của hai chính quyền mà vẫn chưa hiểu biết lẫn nhau, chưa thu hẹp được khoảng cách khác biệt, chưa xây dựng được niềm tin giữa hai quốc gia, đó chẳng phải là một thất bại sao? Chẳng nhẽ từ trước giờ hai bên chưa bao giờ nói chuyện “thẳng thắn” với nhau sao?

    Điều gì đã cản trở quan hệ Việt-Mỹ? Hoa Kỳ thực sự muốn gì ở Việt Nam? Và, Việt Nam cần gì ở Hoa Kỳ? Đâu là những vấn đề song phương còn tồn đọng chưa giải quyết được?

    Nhân quyền, cái gai trong quan hệ Mỹ – Việt

    Đương kim Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius từng khẳng định rằng, “Mục tiêu của Hoa Kỳ rất rõ ràng: Chúng tôi muốn Việt Nam trở thành một quốc gia vững mạnh, thịnh vượng, độc lập, tôn trọng pháp luật và nhân quyền”.
    Ông cũng chia sẻ rằng “Hoa Kỳ sẵn sàng chấp cánh cho Việt Nam bay cao và xa” hơn nữa nhưng bay cao và xa tới đâu thì tùy thuộc vào Việt Nam và theo ông nhận định thì nhân quyền là chủ đề mà ông gọi là “hóc búa nhất”, là rào cản trở chính trong quan hệ Mỹ-Việt hiện nay.

    Nhân dân Việt Nam hơn bất cứ người dân nào khác trong khu vực hiểu rõ sự hưng vong của Việt Nam cũng như hòa bình, an ninh, thịnh vượng của khu vực Á Châu - Thái Bình Dương sẽ tùy thuộc rất nhiều vào sự ổn định, hòa bình và thịnh vượng chung của toàn khu vực, trong đó vai trò đặc biệt của Hoa Kỳ như là một tác nhân chính sẽ là một trong các yếu tố quyết định.

    Với bề dày quan hệ với một nước láng giềng như Trung Quốc, người dân Việt Nam chắc chắn sẽ hoan nghênh sự hiện diện tích cực của Hoa Kỳ trong khu vực như một đối tác quan trọng có trách nhiệm.

    Họ thừa biết rằng liên minh với Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời giúp phát triển kinh tế Việt Nam thịnh vượng, kiến tạo đời sống sung túc, ấm no, hạnh phúc cho người dân Việt Nam.

    Nhưng vấn đề ở đây không phải là người dân Việt Nam mà là lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam. Chính họ đang là rào cản cho tiến trình “liên minh” đó. Họ thà chấp nhận mất nước hơn là mất Đảng chỉ vì họ sợ rằng một liên minh với Hoa Kỳ tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền sẽ khai tử chế độ cộng sản của họ.
    Đó cũng chính là lý do mà Tổng thống Obama quyết định lịch sử mời ông Trọng đến Tòa Bạch Ốc để cam kết rằng “một Việt Nam tôn trọng nhân quyền” sẽ là một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ, vững mạnh và thịnh vượng; sẽ là một đồng minh đáng tin cậy của Hoa Kỳ, một đối tác khả tín của cộng đồng quốc tế và khu vực.

    Hợp tác kinh tế, an ninh và quốc phòng

    Như thông cáo của Tòa Bạch Ốc có đề cập, trọng tâm thảo luận giữa ông Obama và ông Trọng ngày 7/7 sắp tới sẽ là: (1) Tăng cường hợp tác kinh tế sâu rộng, đặc biệt với việc sớm kết thúc đàm phán TPP; (2) mở rộng khuôn khổ sự tiếp cận cảng Cam Ranh của Hải quân Mỹ; và (3) năng cấp hợp tác quốc phòng thông qua việc tiến tới hủy bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam.

    Cả ba chủ đề trên, ông Trọng chắc chắn sẽ có cơ hội “thảo luận cởi mở và thẳng thắn” với ông chủ Tòa Bạch Ốc nhưng ông Trọng cũng cần hiểu rằng người Mỹ rất quý trọng thời gian và họ sẽ không đủ kiên nhẫn để chỉ nói mà không có hành động thực tiễn đi kèm mặc dù họ sẵn sàng chấp nhận cho Việt Nam hưởng một số quy chế đặc biệt để có thể theo kịp 11 quốc gia còn lại trong khối TPP.

    Với đạo luật “Quyền đàm phán nhanh” (TPA), Tổng thống Obama sẽ cam kết để Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng ông Trọng cũng cần phải cam kết tuân thủ triệt để các điều khoản của TPP, đặc biệt về sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân cũng như các điều khoản về quyền lập hội, tự do tổ chức nghiệp đoàn độc lập, quyền đàm phán chung của người lao động, những quy định như cấm sử dụng mọi hình thức lao động cưỡng bức, cấm khai thác lao động trẻ em, cấm không phân biệt đối xử trong lực lượng lao động.

    Tham gia TPP, Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều kinh tế nhưng Việt Nam phải chấp nhận hy sinh «đổi mới chính trị».

    Về vấn đề quân cảng Cam Ranh, phía Mỹ từng khẳng định rằng họ không có nhu cầu xây dựng căn cứ quân sự ở đây. Cái mà Hoa Kỳ mong muốn hợp tác với Việt Nam là quyền tiếp cận bến cảng này.

    Việt Nam có quyền tự do giao lưu với tất cả các nước và cho phép các quốc gia có nhu cầu sử dụng quân cảng Cam Ranh được quyền tiếp cận. Tuy nhiên, điều Hoa Kỳ quan ngại là sự tiếp cận của bên thứ ba có thể làm tổn hại đến quyền lợi của Hoa Kỳ, thí dụ như trường hợp gần đây, Hoa Kỳ đã chính thức gửi công điện tới chính phủ Việt Nam phản đối việc Nga đã dùng quyền tiếp cận căn cứ Cam Ranh để thực hiện các hoạt động quân sự có thể làm tăng căng thẳng trong khu vực.

    Chắc chắn, Tổng thống Obama sẽ nhân cơ hội này làm ông Trọng hiểu rõ rằng «Việt Nam không thể kết bạn với những kẻ thù của Hoa Kỳ».
    Về vấn đề hiện đại hóa quốc phòng Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ tái cam kết sớm xem xét việc bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Hoa Kỳ lưu ý Việt Nam cần nghiêm túc hơn nữa về tình trạng nhân quyền. Mọi tiến bộ về nhân quyền sẽ là tiến bộ tỷ lệ thuận với việc hủy bỏ lệnh cấm vận này. Đó là điều mà ông Obama sẽ không ngần ngại tái khẳng định với ông Trọng.

    Tự do hàng hải, hàng không và an ninh Biển Đông

    Một vấn đề khác quan trọng cũng nằm trong chương trình nghị sự của hai ông Obama và Nguyễn Phú Trọng hôm 7/7 là Biển Đông.

    Bảo vệ tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông không chỉ có tầm quan trọng đối với hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong khu vực mà còn vì lợi ích của toàn thế giới, nơi mà hàng năm có trên 40% tổng lưu lượng hàng hóa trên thế giới được di chuyển qua khu vực này. Đây cũng là nơi điểm xuất phát của hai nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba trên thế giới (Trung Quốc và Nhật Bản).

    Hoa Kỳ luôn khẳng định có quyền lợi quốc gia trong việc bảo vệ an ninh, hoà bình và sự tự do hàng hải và hàng không trong khu vực Biển Đông.

    Tuy không đứng về phía nào trong các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông nhưng vì quyền lợi quốc gia, Hoa Kỳ sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam tìm kiếm giải pháp hòa bình, thông qua đàm phán ngoại giao, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực luật pháp quốc tế.

    Tổng thống Barack Obama hồi đầu tháng 6 vừa qua cũng đã lên tiếng kêu gọi các bên trong khu vực tôn trọng luật pháp và ngừng những hành động gây hấn như cải tạo đất trên Biển Đông, đồng thời tuyên bố sẽ tiếp tục điều máy bay và tàu quân sự đến khu vực căng thẳng để bảo vệ quyền tự do hàng hải và hàng không.

    Chắc hẳn chúng ta sẽ không lấy làm ngạc nhiên khi đọc một đoạn văn tương tự như trên trong Tuyên bố chung Mỹ – Việt sau buổi hội đàm Obama – Nguyễn Phú Trọng (nếu có).

    Tương lai Việt Nam

    Ở một chừng mực nào đó, cuộc viếng thăm Tòa Bạch Ốc của TBT Nguyễn Phú Trọng sẽ được ghi nhận như một sự kiện lịch sử vì đây là lần đầu tiên một lãnh đạo CSVN, một thể chế thù nghịch với Mỹ bước vào Tòa Bạch Ốc, cơ quan quyền lực bậc nhất của Hoa Kỳ và thế giới.

    Tuy nhiên, nếu dừng tại đây thì nó chỉ có giá trị mang tính biểu tượng và sẽ chóng bị lãng quên. Nhưng nó sẽ có giá trị nhiều hơn nếu như chuyến công du này thực sự mang lại một luồng sinh khí mới cho Việt Nam thông qua những cam kết cụ thể của hai nhà lãnh đạo của hai quốc gia.

    Hoa Kỳ với cam kết giúp đỡ “Việt Nam trở thành một quốc gia vững mạnh, thịnh vượng, độc lập, tôn trọng pháp luật và nhân quyền”. Và TBT Nguyễn Phú Trọng sẽ nhân danh ĐCSVN cam kết “đổi mới chính trị, tôn trọng nhân quyền” để có thể sát cánh cùng Hoa Kỳ trong công cuộc kiến tạo hòa bình, an ninh và thịnh vượng cho khu vực Á Châu – Thái Bình Dương.

    Từ khi Thủ tướng Phan Văn Khải lần đầu tiên bước vào Tòa Bạch Ốc năm 2005 cho đến nay, hễ mỗi lần có một lãnh đạo cấp cao CSVN đến thăm nơi này thì truyền thông độc quyền nhà nước Việt Nam thường có những bài viết hoài niệm về một nỗi niềm nuối tiếc nào đó cho những cơ hội vàng đã bỏ lỡ trong quan hệ của hai nước kể từ năm 1945.

    ĐCSVN có thể quy đổ trách nhiệm đó cho người Mỹ và cho rằng Hoa Kỳ không hiểu người CSVN nhưng lần này thì người CSVN không thể trách là người Mỹ không hiểu họ.

    Với tất cả những gì người Mỹ đã làm từ 20 năm qua và đặc biệt trong chuyến bay đưa ông Trọng từ Hà Nội đến Washington để vào Tòa Bạch Ốc, có một cựu Tổng thống Mỹ, Bill Clinton, người của 20 năm trước đã can đảm mở đường bang giao với Hà Nội giữa muôn vàn khó khăn, đi tháp tùng. Đó không thể là một thông điệp không rõ ràng hơn được về sự quan tâm trân trọng của chính phủ Hoa Kỳ đối với Việt Nam.

    Liệu ông Trọng sẽ mang thông điệp gì đến Washington và quan trọng nhất vẫn là sau khi rời Tòa Bạch Ốc, ông Trọng và những người đồng chí của ông sẽ làm gì để “Việt Nam trở thành một quốc gia vững mạnh, thịnh vượng, độc lập, tôn trọng pháp luật và nhân quyền”?

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Trở lại chuyện Cam Ranh.

    Nếu căn cứ qua những bài viết, câu nói của những chính khách, lời đồn etc... để tin rằng Cam Ranh quan trọng với Mỹ hoặc Mỹ rất cần Cam Ranh, dễ làm đại đa số người Việt tin là thật.

    Chính bản thân từng là nạn nhân. Thủa ấu thơ nghe nhiều về Cam Ranh, nào là Cam Ranh có độ sâu lý tưởng, vị trí chiến lược tuyệt vời etc... Thủa đó, đa số những người nói về Cam Ranh chưa từng đến Cam Ranh, và chỉ hoàn toàn thấy carrier qua hình ảnh.

    Qua hành động (action) dễ bộc lộ hình ảng thực tế và rõ ràng hơn.

    Mỹ đã bỏ nhiều tỉ đô để xây dựng Subic Bay thành một căn cứ hậu cần (logistic) tầm cỡ cho hải quân. Carrier trong đoàn fleet của Mỹ luôn ghé Subic Bay mỗi khi đi vô vùng biểng ĐNÁ. Chỉ cái búng tay, Mỹ nói sayonara. Tại sao? Một trong lý do chính, tất cả những tiếp liệu (supply) như dầu, lương thực etc..., Mỹ dư khả năng làm những việc này ngay tại trên biển khi vẫn tiếp tục thẳng tiến theo hải trình. Bên cạnh, Mỹ có Nhật, Nam Hàn trợ lực (support).

    Để giải quyết tình trạng căng thẳng binh sĩ sau những chuyến hải hành xa đầy stress, Mỹ có Thái Lan, Hong Kong, Singapore etc... Những nơi đây, carrier ko cần cảng (harbor) để đổ quân. Những chú carrier HOÀN TOÀN đậu ngoài khơi.

    Khi Mỹ xử dụng Cam Ranh, Mỹ đã làm gì? Mỹ ko biến Cam Ranh thành một căn cứ Hải Quân (Naval Base). Mỹ dùng Cam Ranh thành một Air Base, căn cứ Không Quân là chính.

    Thời cực thịnh của Liên Xô, Mỹ đã ko quan ngại sự có mặt của Liên Xô tại Cam Ranh. Chẳng lẽ bỗng dưng Mẽo lại rét với anh Putin túi rách? Plus, địa bàn đương đầu với Putin nằm ở Đông Âu, ko phải Asia.

    Hải quân của Putin cứ vô tư chốt chân tại chỗ ở Cam Ranh.

    Chính trị Mĩ độc đáo, châm biếm và thực tế, Obama lại là bậc thầy, biết lịch trình sắp gặp Xếp Trọng nên Ông ta gặp Điếu Cày trước...1 khoảng thời gian quá ngắn , sự tương phản này chỉ làm bỉ mặt Tổng Bí Thư Việt Cộng mà thôi.
    Buổi gặp gỡ này sẽ ngắn ngủi, lảng nhách và trong câu chuyện, Obama sẽ khéo léo bảo rằng tôi cũng vừa tiếp Anh Nguyễn văn Hải Điếu Cày ở Nhà Trắng, người mà Ông bỏ tù ...hì hì ...
    Hy vọng tên thông dịch không cắt 1 chử nào ...

    What Should the United States Do about Cam Ranh Bay and Russia’s Place in Vietnam?

    By Phuong Nguyen

    *Ms. Phuong Nguyen is a Research Associate with the Sumitro Chair for Southeast Asia Studies.

    Camh Ranh Bay, 1969. Source: JeriSisco’s flickr photostream, used under a creative commons license.

    The revelation on March 11 that Washington expressed concern to Hanoi about Russia’s use of Cam Ranh Bay to assist its bomber flights in the Asia Pacific has again prompted a debate on the role of the port in quickly-warming U.S.-Vietnam defense ties. It became clear that Washington feels uncomfortable about the role Russia still occupies in Vietnam, an increasingly important U.S. partner in Southeast Asia, when Commander of the U.S. Army Pacific General Vincent Brooks confirmed that Russian planes circling Guam recently were refueled by tankers at Cam Ranh Bay.

    Realistically, it makes the most sense for the United States to focus on forging its own well-established security ties with Vietnam rather than taking on Russia’s position in Vietnam at this time.

    Cam Ranh Bay is a deep-water harbor in central Vietnam alongside the South China Sea and home to a massive U.S. base during the Vietnam War. Former secretary of defense Leon Panetta said during his visit to the port in 2012 that, “access for United States naval ships into this facility is a key component,” of U.S.-Vietnam relations.

    Following Russia’s departure from Cam Ranh Bay in 2002, Hanoi announced that the military section of the base would not be opened for foreign use again. The then-Soviet Union had leased Cam Ranh Bay after Hanoi’s war with the United States ended in 1975, and turned it into the largest Soviet naval base abroad.

    Yet since 2010, U.S. officials have watched as Russia has been accorded increasingly special treatment at Cam Ranh Bay. Russia is in the process of building a submarine fleet for Vietnam’s fast-expanding navy, with Russian experts reportedly stationed at the base to help train the Vietnamese submarine crew. Russian personnel and ships have been upgrading the naval facilities at Cam Ranh Bay and building a new submarine facility there.

    In November 2014, the two countries signed an agreement that would facilitate the docking of Russian warships at Cam Ranh Bay. According to the agreement, Russian ships would simply need to give prior notice to Vietnamese authorities before calling on Cam Ranh Bay, while other foreign navies, including that of United States, would be limited to only one annual ship visit to Vietnamese ports.

    The United States dispatches naval ships to the port of Danang, north of Cam Ranh Bay, annually for joint exchanges with the Vietnamese navy, Talks on increased U.S. port calls or limited U.S. access to Cam Ranh Bay, which holds a central role in Vietnam’s South China Sea strategy, have not gone forward because Vietnam says it lacks the capacity to take on greater naval engagement with the United States or handle large numbers of foreign ships visiting its ports.

    This has led some U.S. officials to lament that Russia seems to getcarte blanche at a facility as crucial as Cam Ranh Bay even though the United States has recently become Vietnam’s most important security partner, a trend that will likely carry forward in coming decades. Coupled with the fact that Russia’s air force activities have increased in the Asia-Pacific region amid U.S.-Russia tension over Moscow’s actions in Ukraine, U.S. anxiety over Russian use of Cam Ranh Bay seems justified.

    However, U.S. pressure on this issue puts Vietnam in a bind, and has the potential to stall or reverse the significant progress that has been made in normalizing ties between the two militaries.

    From Hanoi’s perspective, Russia remains Vietnam’s largest arms supplier and its largest source of military technological transfer thanks to ties dating back to the Cold War. The United States, meanwhile, only partially lifted its arms embargo on Vietnam last year. From the perspective of many Vietnamese officials who fought against the United States during the war, Moscow helped train generations of Vietnamese leaders and supported Hanoi during its decades of international isolation.

    Because of this, Vietnamese officials will not dislodge Russia even as they embrace partnerships with the West and liberal free-trade agreements such as the Trans-Pacific Partnership. Hanoi has been publicly silent since Washington privately expressed its concerns about Russian use of Cam Ranh and as the story went public a few days later.

    Although the United States and Vietnam have held extensive defense talks since 2008, the two sides have yet to develop a self-sustaining level of mutual trust. The perception among some Vietnamese elites that Hanoi is but a pawn in the U.S. rebalance to Asia and Washington’s great power calculus is real.

    Few things are more vital to Vietnam than an independent foreign policy. Given Vietnam’s complex history, its leaders do not want their country to be caught between major powers again. Anything that resembles U.S. interference in Vietnam’s dealings with Russia could unnecessarily aggravate this fear.

    While the United States should leave Russia and Vietnam to sort out their bilateral defense cooperation, Vietnam should take actions to grant the U.S. Navy more frequent port visits, including at Cam Ranh Bay. It makes little strategic sense to deny the United States access to Cam Ranh, as a greater U.S. naval presence on the western flank of the South China Sea is in the interest of both countries.

    Equally important, Vietnam should clarify soon what military hardware it plans to acquire from the United States. Now that the U.S. ban on lethal arms sale has been relaxed, establishing a defense procurement relationship is the next logical step in trust building between the two militaries.

    Given the laudable progress the two countries have made in recent years, this episode over Russian use of Cam Ranh Bay should not be allowed to morph into a wider misunderstanding. To continue moving U.S.-Vietnam relations forward requires U.S. respect for Vietnam’s history and a realistic understanding of where bilateral relations currently stand.

    Tác giả có nói về cảng Cam Ranh. Không có ý nói tác giả nhận định rằng Cam Ranh quan trọng đối với Mỹ. Tuy nhiên nhiều người Việt nghĩ rằng Mỹ rất cần Cam Ranh.

    Nói về cảng Cam Ranh, với Mỹ, chỉ là bãi tắm biển (beach), ko phải 1 căn cứ hải quân chiến lược đối với Mỹ.

    Cuối thập niên 80', Mỹ đã say bye với Subic Bay khi Phi làm chảnh. Vài chục năm sau, Phi quì gối vái Mẽo quay lại. Những vùng hải quân chiến lược, Mỹ đã tính từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Hơn 30 trước, dự tính của Mỹ đã hoàn thành. Thời 60s khi chiến tranh VN tăng tốc, Cam Ranh có thể có phẩn quan trọng tương đối nào đó với Mỹ. Hiện tại, Cam Ranh chỉ là một bãi tắm biển.

    Trên đường Hạm Đội (fleet) Mỹ tiến vào vùng Trung Đông, có 1 hòn đảo nhỏ (ko nhớ tên và lười check) là kho đạn chiến lược khổng lồ của Mỹ. Tại đảo này, Hàng Không Mẫu Hạm (Carrier) sẽ chuyển (load) vũ khí, bom, hỏa tiễn lên tàu TRƯỚC khi tiến sâu vào vùng Vịnh (Persian Gulf). Khi trở ra, carrier sẽ chuyển (unload) vũ khí lên đảo lại.

    Nếu có ai được may mắn chứng kiến tận mắt cảnh carrier load hàng khủng lên tàu, thường dễ nói thầm: "Chớ dại chọc giận anh Hai."

    Đó là Vùng Vịnh, ngay tại ĐNÁ, sau VN và gần hông Tàu Bựa, Mỹ cũng có 1 đảo vũ khí chiến lược tương tự (cũng lười check và ko nhớ tên). Nếu nhớ ko lầm, đảo này do Ăng Lê làm chủ nhưng Mỹ toàn quyền xử dụng.

    Tàu Bựa rất am tường thực lực của anh Hai. Nhưng kể cả cấp Đảng viên, ko tính thường dân, mấy ai hiểu được Cam Ranh chỉ là một bãi cát đối với Mỹ.

    US, wooing Vietnam, readies red carpet for communist chief
    GRANT PECK, The Associated Press
    Published: July 5, 2015, 1:20 am Updated: July 5, 2015, 2:10 am

    FILE - In this July 3, 2015 file photo, Vietnamese Communist Party General Secretary Nguyen Phu Trong gestures during a meeting with the Western press in Hanoi, Vietnam. Trong doesn't hold an official government post, but it's not surprising that hell meet with U.S. President Barack Obama on his visit to the United States. Trong called his trip on Tuesday, July 7, 2015 a historic visit. He said he expects Obama to make his first visit to Vietnam later this year, though the White House has not confirmed the trip. (AP Photo/Tran Van Minh, File)
    HANOI, Vietnam (AP) — Vietnamese Communist Party chief Nguyen Phu Trong doesn’t hold an official government post, but it’s not surprising that he’ll meet with President Barack Obama on his visit to the United States this week. He is the de-facto top leader of his country.
    More telling is one of Trong’s other engagements — a dinner reception hosted by the U.S. Chamber of Commerce, bastion of American free enterprise. Economic imperatives drove the U.S. and Vietnam to normalize postwar relations 20 years ago, and they remain a major incentive to boost ties.
    President Bill Clinton announced the normalization of relations between the U.S. and Vietnam on July 11, 1995, following up on the lifting of punitive economic sanctions imposed after the Vietnam War ended in 1975 with a communist victory.
    The bitterness on both sides gave way to pragmatism. Vietnam’s socialist planners were running the economy of the newly unified nation into the ground, and needed a helping hand. American businesses saw opportunities that might otherwise be seized by Asian and European competitors.
    Trong called his trip on Tuesday “a historic visit.” He said he expects Obama to make his first visit to Vietnam later this year, though the White House has not confirmed the trip.
    U.S. officials are eager to take relations with Vietnam — currently friendly but hardly intimate — to a new level. Vietnam could be a linchpin in Obama’s “pivot” toward Asia, playing a strong geopolitical and economic role. As a front-line country nervous about Chinese expansionism in the South China Sea, Vietnam also would not mind the U.S. directing at least a little hard talk at Beijing.
    “We believe that as one of the world’s leading major powers and a member of the (U.N. Security Council), the U.S. has a great interest and responsibility in maintaining peace and stability in the world, particularly in the Asia-Pacific,” Trong said Friday in a written response to questions submitted by The Associated Press.
    In careful diplomatic language, he said he hoped “that the U.S. will continue to have appropriate voice and actions to contribute to peaceful settlement of disputes in the (South China Sea) in accordance with international law in order to ensure peace and stability in the Asia-Pacific and the world.”
    U.S. ambitions to remain a Pacific power hinge in large part on projecting its power by drawing a line with China.
    Popular sentiment in Vietnam is generally hostile toward China’s assertive maritime territorial claims, but the country’s leaders are loath to antagonize their much bigger neighbor. The practical perils of proximity are one matter, but more doctrinaire communists such as Trong are uneasy about casting their lot with the democratic West instead of their old communist kin in Beijing.
    In Washington’s view, however, wooing a hard-line skeptic such as the 71-year-old Trong is key to achieving the two countries’ goals.
    While Trong’s trip is a sign of how far the U.S.-Vietnam relationship has come in the 40 years since the end of the war, that doesn’t mean an alliance is in the works, said Walter Lohman, director of the Asian Studies Center at the Heritage Foundation in Washington.
    “They want to have eggs in the American basket to balance off what they’ve got in the Chinese basket, all in the service of Vietnam’s interest and strategic vision,” he said.
    Trong emphasized the importance of Vietnam’s relationship with the U.S.
    “Vietnam would like to be a friend and reliable partner of all countries in the world,” he wrote in his response. “In this effort, we attach great importance to the relations with the U.S. as one of the most important partners in our foreign policy.”
    What Washington has to offer Hanoi are economic benefits, particularly under the yet-to-be finalized multilateral Trans-Pacific Partnership. It can point to a solid track record: Since 1995, annual U.S.-Vietnam trade has increased from less than $500 million to $35 billion last year. Vietnam has now surpassed Malaysia and Thailand as Southeast Asia’s top exporter of merchandise to the U.S. .
    Trong’s visit “is part of the discussion in Hanoi about the nation’s future … how to balance the economic and political links with China against the lure of U.S. markets and security assurances,” said Frank Jannuzi, a former Senate Foreign Relations Committee staffer who now works at the Washington-based Mansfield Foundation, which aims to promote U.S.-Asia relations.
    Jannuzi pondered whether the trade pact’s economic benefits and U.S. guarantees on South China Sea security would carry the day, or if Vietnam’s communist government would stick to the model of their Chinese comrades “and follow the path of resilient authoritarianism, with state control of key sectors of economy and strict controls on power-sharing.”
    Human rights remains a sticky issue, with Vietnam’s repression of dissidents undercutting political support in the U.S. Congress for sweetening any deals with Vietnam, such as acceding to Hanoi’s desire to be allowed to purchase lethal weaponry.
    The Obama administration “deserves credit for continuing to pressure Vietnam on political prisoners, labor rights and religious liberty. The problem is, it’s not working,” said John Sifton, Human Rights Watch’s Asia advocacy director in Washington.
    The U.S. says prosecution of dissidents has decreased and the number of political prisoners has dropped from more than 160 two years ago to around 110 — progress it attributes to Hanoi’s desire to join a U.S.-backed trade pact of Pacific Rim nations. But Sifton said the reduction was due to people serving out their terms, not early releases. Human Rights Watch estimates there are still about 150 political prisoners being held.
    Trong acknowledged differences with the U.S. on issues of democracy, human rights and trade. But he added: “We should maintain dialogues in an open, candid and constructive manner to increase mutual understanding, narrow differences and make best use of our cooperation potentials. We should work to make sure such differences do not hinder bilateral relations.”
    ___
    Associated Press writer Matthew Pennington in Washington contributed to this report.