Nguyễn Thông - Nhớ lại thời kỳ “tiền đổi mới” mang dấu ấn Nguyễn Văn Linh

  • Bởi Admin
    04/07/2015
    7 phản hồi

    Nguyễn Thông

    Giở lại chút lịch sử vắn tắt của Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn - TP.HCM, thấy có điều đặc biệt: Ông Nguyễn Văn Linh đã 7 lần là người đứng đầu Đảng ở địa bàn chiến lược này, từ năm 1947 - thời kỳ đầu cuộc kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp, đến năm 1986 - đêm trước của thời kỳ đổi mới. Có lẽ đó là một thứ kỷ lục tồn tại mãi, sẽ không có trường hợp thứ hai.

    Nhắc thế để gợi rằng đó là con người đặc biệt gắn bó với vùng đất đặc biệt. Là đứa con đất Bắc (Hưng Yên) nhưng dường như cả cuộc đời, ông Nguyễn văn Linh dành cho miền Nam, nhất là Sài Gòn - TP.HCM. Và thường là những khi khó khăn nhất.

    Tôi có chút kỷ niệm đối với buổi giao thời đổi mới, mang đậm dấu ấn Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh, với tư cách một người chứng kiến, trải qua, chiêm nghiệm.

    Đầu năm 1977, tôi khăn gói ba lô chui vào khoang tàu biển chở khách Thống Nhất làm chuyến hành trình 48 tiếng đồng hồ từ Hải Phòng vào TP.HCM. Trong túi có đúng 45 đồng tiền miền Nam sau khi ra tận Ngân hàng nhà nước TP.Hải Phòng gần bến Bính để đổi. Tỷ giá 100 đồng miền Bắc ăn 90 đồng miền Nam. Gom góp mãi, tôi chỉ có 50 đồng đưa cho cô nhân viên ngân hàng. Cô ấy nhìn tôi ái ngại, ngán ngẩm. Bước chân lên bến Nhà Rồng, chỉ sau vài ngày bỡ ngỡ, tôi dần dần nhận ra những điều khác biệt ở thành phố phương nam ồn ào náo nhiệt bậc nhất này. Cũng may là còn kịp nhìn thấy, chứng kiến một vài "tàn dư" ưu việt của cách làm ăn tự do, cởi mở của Sài Gòn cũ so với nền kinh tế bao cấp, hoạch định gò bó ở miền Bắc. Tuy nhiên, chả được bao lâu. Sau đó những gì tôi từng chứng kiến hai mươi mấy năm qua lại xuất hiện y chang trên đất Sài Gòn. Và càng ngày càng tệ. Thay đổi đi xuống từ những điều rất nhỏ.

    Chả thể quên cũng cái quán hủ tiếu trên đường Nguyễn Chí Thanh, Q.5 mà tôi và mấy anh bộ đội đi học thỉnh thoảng ra ăn. Hồi chưa bị quốc doanh quản lý, mình chưa ngồi xuống đã có người hỏi han ân cần, chỉ vài ba phút là nhận ngay tô hủ tiếu nóng hổi, giá cả bình dân dù lương thực đang rất khó khăn. Nhưng năm 1979 chính quyền đứng ra quản lý tất, kể cả quán hủ tiếu, tiệm cắt tóc, chụp hình, sửa xe... Muốn ăn hủ tiếu phải xếp hàng mua phiếu, có một cô kế toán mặc trang phục quốc doanh đến ghi số kiểm đếm doanh thu, chờ phờ râu sùi mép cũng không thấy hủ tiếu đâu. Chủ hàng thấy kiểu cách vậy nên chán nản chả muốn bán, còn khách hàng bực bội không chịu được cũng thưa thớt dần. Cả một nền sản xuất, dịch vụ u ám thê lương như đám ma. Kéo dài suốt bao năm gây khổ cho biết bao người. Đại loại nền kinh tế bao cấp, ngăn sông cấm chợ là vậy.

    Sau giải phóng, ông Nguyễn Văn Linh giữ cương vị Bí thư Thành ủy TP.HCM năm 1975 - 1976, còn cái thời tôi vừa kể lúc bấy giờ do ông Võ Văn Kiệt kế nhiệm cầm trịch. Thực ra Bí thư Võ Văn Kiệt cũng rất muốn xé rào nhưng lúc bấy giờ dường như chưa thể làm gì hơn bởi bộ máy vận hành theo kiểu cũ và tầm ảnh hưởng của chính quyền trung ương vẫn còn quá mạnh. Phải thừa nhận rằng, để có một TP.HCM chuyển mình mạnh mẽ, thay đổ quyết liệt, cởi trói, mở bung cánh cửa vào thị trường tự do, đồng nghĩa với việc áp dụng một nền kinh tế thị trường linh hoạt, người dân tiếp cận hạnh phúc, no ấm là nhờ công của dàn lãnh đạo thành phố mà người đứng đầu là Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh từ năm 1981 đến 1986.


    Ông Nguyễn Văn Linh gặp gỡ những nhà quản lý kinh tế, nhà khoa học năm 1987. Người đứng kế bên ông Linh, phía trái ảnh, là ông Nguyễn Quang Lộc, Tổng giám đốc Tổng công ty Bột giặt miền Nam, Giám đốc Công ty Bột giặt Viso, người có rất nhiều táo bạo, xé rào phá bỏ bộ máy quan liêu bao cấp. Tôi từng đến dạy bổ túc văn hóa cho công nhân của ông Lộc suốt mấy năm, gặp ông nhiều lần. Sau này, ông Lộc bị thất sủng, nghỉ việc nhà nước, ra làm ngoài, cố vấn hương liệu cho Nguyễn Văn Mười Hai, xảy ra vụ án NVMH, bị đi tù. Một số phận tiêu biểu thời gọi là đổi mới.

    Dấu ấn Nguyễn Văn Linh, phong cách Nguyễn Văn Linh, tư duy Nguyễn Văn Linh..., lúc bấy giờ người dân, báo chí, dư luận nhận xét, ca ngợi như vậy. Các cửa hàng bán gạo đã đủ gạo bán cho dân, không còn cảnh xếp hàng có khi mất hẳn nửa ngày để chỉ mua được mét vải hoặc vài bao thuốc lá. Chợ búa nhộn nhịp sinh sắc hơn, thực phẩm nhiều hơn làm giảm bớt sự đăm chiêu cau có bao năm thường trực trên khuôn mặt bà nội trợ. Các nhà máy, xí nghiệp cũng như được tái sinh. Tiếp theo sự mở lối, động viên của Bí thư Võ Văn Kiệt thì giờ đây là chủ trương đổi mới mạnh mẽ, bung sức sản xuất, phá bỏ cơ chế kìm hãm của Bí thư Nguyễn Văn Linh. Tận mắt chứng kiến những đổi thay của Sài Gòn thời ấy, tôi và những người như tôi nghĩ rằng, công đầu thuộc về Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh. Người dân TP.HCM rất biết ơn ông, không bao giờ quên những đóng góp của ông với thành phố này trong những năm gian khó đó.

    Đổi mới mang dấu ấn Nguyễn Văn Linh in đậm trong cuộc sống của cả xã hội cũng như từng cá nhân. Tôi còn nhớ, hồi ấy chỉ có nhà nước được độc quyền mua bán. Vàng như hàng quốc cấm. Anh nào lôi thôi cho vào tù. Năm 1980 tôi lập gia đình nhưng không tài nào mua được chiếc nhẫn cưới, mãi mấy năm sau mới nhờ ông em họ làm bên tín dụng mua giùm chiếc nhẫn 2 chỉ đầu tiên trong đời. Vợ không dám đeo, cất giữ làm của đến bây giờ. Tiền ít, không dám mua bên ngoài, sợ quản lý thị trường vớ được thì mất toi, nên cứ phải vào cửa hàng của ngân hàng nhà nước. Giá bao nhiêu cũng phải chấp nhận. Cắt cổ cũng phải cười.

    Sau nhiều năm, thỉnh thoảng tôi có gặp lại thủ trưởng cũ của tôi hồi ấy, tiến sĩ Nguyễn Văn Năm, Hiệu trưởng Trường Dự bị đại học TP.HCM. Thầy trò thường ôn lại chuyện cũ. Nhớ có lần, năm 1979, thiếu gạo, giáo viên đói quá, không còn sức mà lên lớp. Thầy Năm bàn với Ban giám hiệu, liều đánh một chuyến xe REO (xe vận tải quân sự Mỹ mà trường đang sử dụng) chở giáo viên xuống tỉnh Tiền Giang cách Sài Gòn 8 chục cây số âm thầm mua gạo, mỗi người vài chục ký. Về đến trạm kiểm soát Tân Hương vốn nổi tiếng gắt gao thì bị ngăn lại, bị tịch thu hết bởi vi phạm quy định quản lý hàng hóa của nhà nước. Giáo viên vẫn đói. Lại liều làm chuyến nữa, nhưng ít người theo xe thôi, xe vượt trạm trong tiếng súng M16 bắn đì đùng của nhân viên gác trạm, nhưng cuối cùng họ không thèm đuổi.

    Tiến sĩ Nguyễn Văn Năm bảo: “Cũng may mà ông Nguyễn Văn Linh lên, ông ấy xông xáo đổi mới, tháo bỏ cơ chế kìm kẹp kinh tế, chứ nếu không, chỉ kéo dài thêm vài năm nữa, chắc dân Sài Gòn chết đói hết".

    Nghĩ lại mà thấy rùng mình.

    Nguyễn Thông

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Khách Trần Huy Định phân tích về công lao người "đổi mới" có phần có lý nhưng vẫn chưa đủ và chưa thật chính xác. Phần cứu nền kinh tế quan liêu báo cấp, xóa bỏ lối làm ăn "sản xuất theo kế hoạch" sang kinh tế thị trường, (nên gọi chính xác là kinh tế tư bản) thì trước đây ở miền Bắc trước khi vaò tay CS thì đã có rồi, phải đâu phải học tập mấy ông miền Nam dưới chế độ cũ. "Đổi mới" thực chất là quay về cái cũ, bỏ làm ăn tập thể của chế độ CS mà quay về làm ăn theo kiểu tư bản, để cho tư nhân tham gia (nay gọi sai là xã hội hóa).
    Khách Định quên một điều là ở miền Bắc trước "đổi mới" là áp dụng kinh tế thời chiến mang màu sắc CS, nghĩa là dùng lương thực (và các hàng hóa thường dùng khác) như một vũ khí đối với dân. CS vừa dùng chính sách phân phối lương thực để thực hiện việc tuyển lính đưa ra chiến trường đánh nhau, (ở nông thôn cũng như cả ở thành thị, nếu thanh niên không đi bộ đội thì nhà nước cắt lương thực, nhiều nơi đói quá, ngay cả người vị thành niên cũng khai tăng tuổi để đi bộ đội hoặc thanh niên xung phong để đỡ phải ở nhà chết đói, chính quyền thì vì thành tích tuyển quân nên sẵn sàng cho người ta khai tăng tuổi, mặt khác để số người ấy đi bộ đội thay cho con cái quan chức cấp cơ sở), vừa tịch trữ lương thực để chuyển vào cho CS miền Nam. Mặt khác dùng lương thực và hàng hóa theo chế độ phân phối còn có tác dụng đề phòng miền Nam cho quân ra miền Bắc ém lại ở đâu đó, không có lương thực thì chết hết, chẳng cần đánh nhau.
    CS gây ra chiến tranh một cách tổng lực, dùng cả quân đội và dùng cả lương thực, hàng hoá...Dùng lương thực đối phó với dân là chủ trương phổ biến của tất cả các nước trong phe CS. Kết quả cuối cùng thì sách này gây phản ứng ngược lại làm cho cả nền kinh tế CS cứ trượt theo dốc. Chỉ có áp dụng kinh tế tư bản, tự do buôn bán (CS lại sợ tự phát tiến lên CNTB) thì mới cứu vãn nổi. CS kỵ cụm từ "kinh tế tư bản" nên đổi thành "kinh tế thị trường", rồi còn đổi tên nhà tư bản thành "doanh nhân", từ này dịch ra tiếng Anh, hay tiếng Pháp là "entrepreneur" thì đúng nghiã là "tư bản" rồi. Hồi Pháp thuộc thì từ này chỉ những ông chủ thầu, là người bỏ vốn ra đấu thầu công trình nào đó.
    Có một điều này hiện rõ từng ngày mà không thấy ai nêu ra, đó là trong quá trình xây dựng CNXH thì càng có bề dầy thời gian thì CS lại xích gần với thế giới tư bản. Rồi ngày mốt, ngay hai, cụ TBT Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ thì sẽ lại phấn đấu đặt quan hệ chiến lược với "đế quốc Mỹ" cho mà xem, cũng như đã đặt quan hệ chiến lược với Hàn quốc và Nhật Bản là những nước phe Mỹ.
    Cuối cùng CS đánh Mỹ làm chết bao nhiêu đồng bào mình rội lại đặt quan hệ bắt tay với Mỹ, trong khi đó miền Nam đặt quan hệ với Mỹ thì CS lấy cớ đánh "đế quốc Mỹ xâm lược" để chiếm miền Nam, nay còn bỏ tù cả những người miền Nam đã theo Mỹ trước CS 50 năm.
    Thực ra thì góp ý kiến trên Dân luận cho vui thôi, chứ vận mệnh nước mình thì từ lâu đã do nước ngoài định đoạt cả rồi, nhân sự mấy đại hội Đảng lần trước đều do bàn tay sắp đặt của ngoại bang, đại hội XII này rồi cũng vậy cả thôi. Trước kia Đảng CS dạy dân "đả đảo đế quốc Mỹ", nay ai còn hô thế thì vaò tù.
    CS CHỈ NHẬN RA SAI LẦM SAU VÀI BA CHỤC NĂM, lúc CS đang làm sai, ai nói ra thì CS bỏ tù. Sau này thấy họ nói đúng cũng chẳng giải oan cho họ. Trí thức mình đâu có dốt, nhưng phải cái bệnh hèn. Ở dưới gót sắt của CS, ai không hèn thì chết. Chết ở chiến trường thì dễ nhưng chết trong hoà bình thì ai cũng sợ.

    Huynh X Bau viết: "giới lãnh đạo cộng sản VN chịu đựng để cho Tàu cộng mắng chửi như mắng đứa con hoang. Chưa bao giờ VN ta nhục như ngày nay."
    Nếu khách này ở miền Bắc thì biết Trung quốc làm cho ta nhục một thì đảng ta lầm dân ta nhục mười. Rõ nhất là thời kỳ tem phiếu lúc ông Hồ còn sống và cả sau khi ông ngoẻo gần 20 năm.: nhân phẩm không bằng thực phẩm, lương tâm không bằng lương thực.
    Người dan xứ Nghệ quê hương Bác kể rằng có cụ già từ Nghẹ ra Hà Nội vào gặp Bác và hỏi:"Thưa bác, mối tháng người dân được mua có nửa lít nước mắm và nửa cân cá thì ăn thế nào đủ cả tháng?"
    Bác liền lôi một con cá gỗ từ ba lô còn giữ trong hồi ở rừng và nói:
    - Đây là cái truyền thống của quê ta, ta đã giữ gìn và nhờ đó mới được lên làm chủ tịch nước. Nay ta giữ gìn truyền thống ấy và phổ biến ra toàn quốc chứ. Nay ta mới thực hiện được ở nửa nước, thế hệ kế tiếp ta sẽ thực hiện trên phạm vi toàn quốc và sẽ khuếch trương ra cả thế giới đại đồng.
    Không những nhục ở trong nước mà ra nước ngoài còn nhục hơn nữa nhiều lần vì mang cách phong Việt cộng ra nước ngoài. Trước kia Đảng dạy ta tự hào "một cái áo tơi rách, một mo cơm văt, một tấm lòng cộng sản". Không tự hào về điều ấy thì nay còn cái đéo gì đáng tự hào?

    Theo tôi, công đổi mới nền kinh tế và giúp Việt Nam thoát nghèo chẳng phải của các chuyên gia kinh tế, càng nhất định không phải của những người cộng sản, và dứt khoát không phải của ông NVLinh. Công đó là của người dân miền Nam, doanh nghiệp tư nhân miền Nam. Vâng, chính người dân và doanh nghiệp tư nhân miền Nam đã tìm cách xoay xở trong điều kiện bị bao vây tứ bề, họ phải dùng các mối liên hệ với các nước trong vùng để xuất khẩu hàng hoá và nông sản, họ thành lập doanh nghiệp để tăng cường năng lực buôn bán. Chính họ đã giúp nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi sụp đổ. Những người cộng sản chỉ là lực cản làm cho nền kinh tế không phát triển, họ chẳng có công cáng gì cả. Phải khẳng định rõ ràng như thế.

    Ai có công ?
    Từ năm 1986 , cụm từ “ Đổi mới “ được các nhà lãnh đạo ĐCSVN và giới truyền thông nhà nước lạm dụng quá nhiều mà chưa ai phân tích ý nghĩa thực chất của cụm từ đó là thành công hay thất bại để từ đó quy công cho đúng .
    Vì vậy , ta hãy ôn lại tình hình kinh tế – xã hội ở miền bắc và ở miền nam sau ngày 30/4/1975 đến ngày “ đổi mới “ vào năm 1986 .
    Lúc đó ĐLDVN thực hiện những nguyên lý cơ bản của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa , ghi trong bản tuyên ngôn đảng cộng sản do Marx và Engels công bố tại Anh năm 1848 là “ xóa bỏ tư hữu “ và “ xóa bỏ buôn bán “ . Để xóa bỏ tư hữu và xóa bỏ buôn bán , ĐLDVN đã dồn toàn bộ nông dân miền bắc vào các hợp tác xã để làm ăn tập thể ( định làm cả ở miền nam nhưng không làm được ) ; kiểm kê , tịch thu , trưng thu , trưng mua tư liệu sản xuất và tài sản của các nhà tư sản dân tộc công nghiệp và thương nghiệp ; tổ chức lại nển kinh tế , với các cơ sở quốc doanh , công tư hợp doanh và các hợp tác xã . Hậu quả là : trừ các quan chức bậc trung trở lên , toàn dân kham khổ nhận sự phân phối ít ỏi các vật phẩm cần cho sinh sống hàng ngày , thông qua chế độ tem phiếu . Toàn quốc ngăn sông cấm chợ , từng địa phương tự cung tự cấp . Vòng xoáy chôn ốc về lao động và hưởng thụ là ăn ít thì làm ít rồi làm ít thì lại được ăn ít … dẫn đến toàn xã hội xác xơ , đình đốn , tâm lý xã hội căng thẳng , chế độ đứng trước vực thẳm sụp đổ , làm các nhà lãnh đạo đảng buộc dù muốn hay không , phải tìm ngay lối thoát , cứu nguy cho nền kinh tế khỏi rớt xuống vực và đảng không sụp đổ .
    Nhưng thoát bằng lối vào và ai cứu . Rõ ràng ông Trường Chinh và toàn bộ cấp dưới của ông ở miền bắc , không ai biết gì ngoài hệ thống kinh tế kế hoạch tập trung đã học từ Liên Xô nên không biết thoát lối nào và do đó không cứu được . Ông Nguyễn Văn Linh và cấp dưới của ông vừa trong bưng ra , lâu nay chỉ quen đánh nhau , không biết gì về quản lý kinh tế , nên cũng không biết thoát lối nào và cũng không cứu được . Vậy thì ai đã cứu nguy ở thời điểm đó và thoát ra lối nào .
    Xin thưa : Người cứu nguy ở thời điểm đó chính là những chuyên gia kinh tế của chế độ cũ Việt Nam Cộng hòa đã ở lại sau ngày 30/4/1975 , đề xuất giải pháp với ông Võ Văn kiệt ( xem câu chuyện giữa ông Nguyễn Trọng Văn và ông Võ Văn Kiệt , trong chương 9 , cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức ) và những nhà quản lý xí nghiệp đã được đào tạo bài bản từ các nước tư bản phương tây ( của các Công ty , các Hãng ở Saigon ) ở lại sau ngày 30/4/1975 , tiếp tục làm việc cho chế độ CHXHCNVN ( như ở công ty bột giặt Viso , hãng xà bông Trương Văn Bền …) .
    Có người cho rằng các vị lãnh đạo ĐLDVN đã học và áp dụng kinh nghiệm đổi mới của Trung Quốc . Không phải . Trung Quốc “ đổi mới “ trước Việt Nam hàng chục năm . Khi Trung Quốc mời Hoa Kiều ở Mỹ về , trao trả nhà máy cho họ và mời họ trở lại làm chủ nhà máy trước đây đã tịch thu của họ thì ĐLDVN phê phán ĐCSTQ đã phản bội chủ nghĩa Marx Lenin , nhất định không bắt chước .
    Có ý kiến quy công cho Nguyễn Quang Lộc , Giám đốc công ty bột giặt Viso là người từ miền bắc vào đây , là người đột phá công cuộc đổi mới bằng sáng kiến “ Tam giác xuất khẩu “ . Cũng không phải . Tác giả cho biết đã từng dạy bổ túc văn hóa cho công ty Viso , thời ông Lộc làm Giám đốc , ắt phải biết tường tận về sáng kiến này . Ông Lộc nguyên là kỹ sư Hóa chất ( học tại chức ĐHBK Hanoi ) ,Trưởng phòng thí nghiệm của nhà máy xà phòng Hanoi , được học lớp đào tạo giám đốc xí nghiệp , chương trình lai giữa Việt Nam và XHCN Đông Âu , tại trường quản lý xí nghiệp Bộ công nghiệp nhẹ ở Hanoi , rồi được điều vào miền nam , làm giám đốc công ty bột giặt Viso . Ông Lộc không được đào tạo về quản lý xí nghiệp trong nền kinh tế thị trường nhưng ông Lộc biết khôn ngoan học cách quản lý và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường từ ông Trần Văn Khôi là người quản lý cũ của Hãng Viso trước 30/4/1975 .
    Công nghệ sản xuất bột giặt Viso khá đơn giản . Nguyên liệu chủ yếu là một loại hóa chất phải nhập từ nước ngoài bằng đô-la . Có loại nguyên liệu đó cộng với phụ gia là thạch cao có sẵn trong nước là sản xuất được bột giặt . Ông Lộc được ông Linh và ông Kiệt rất ủng hộ ( nhưng không bảo lãnh ) và tác động tạo thuận lợi cho ông Lộc đứng ra vay đô-la của Ngân hàng ngoại thượng để nhập hóa chất về sản xuất bột giặt . Nhưng ông Lột không đánh giá đúng những trở ngại trong việc kinh doanh theo cơ chế thị trường mà hệ thống kinh tế XHCN còn tồn tại đang gây ra . Yếu tố lao động chưa được coi là hàng hóa . Cơ chế giá vẫn là cơ chế áp đặt từ phía nhà nước . Đồng tiền trong nước chưa thể chuyển đổi sang đô-la . Vay đô-la để sản xuất nhưng bán thành phẩm đi lại không thu đô-la về được để trả nợ . Cái sáng kiến “ Tam giác xuất khẩu “ của Nguyễn Quang Lộc thực ra chỉ là sự mong muốn , không thể thực hiện trên thực tế . Lãi mẹ đẻ lãi con . Nguyễn Quang Lộc trở thành con nợ đô-la ngày càng lớn của Ngân hàng ngoại thương và cuối cùng vỡ nợ . Không ai cứu được ông Lộc , kể cả ông Linh , ông Kiệt và cấp chủ quản là Tổng cục hóa chất ( ngay từ đầu , Tổng cục hóa chất đã không đứng ra bảo lãnh để ông Lộc vay đô-la ) . Đây là sai lầm chính . Cộng thêm một lỗi thuộc về phẩm chất cán bộ . Ông Lộc đã phải nhận án kỷ luật cách chức của Tổng cục hóa chất và kết thúc sự nghiệp Tổng giám đốc Công ty bột giặt miền nam .
    Chỉ đến khi toàn hệ thống kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường , Tổng Công ty bột giặt miền nam cũng như các công ty khác mới làm ăn suôn sẻ .
    Trở lại câu hỏi ai có công . Trước hết việc từ bỏ những nguyên lý cơ bản trong Tuyên ngôn đảng cộng sản của Marx và Engels , chấp nhận cách làm ăn theo cơ chế kinh tế thị trường , không xóa bỏ tư hữu , không xóa bỏ buôn bán , tức là từ bỏ con đường XHCN , là một thất bại , đâu phải là thắng lợi mà nhận công về mình .
    Nếu trả công cho người đã chỉ ra lối thoát cho nền kinh tế ( nói hẹp trong phạm vi bài này ) thì đó là công của các chuyên gia kinh tế , các nhà quản lý xí nghiệp của chế độ cũ ( Việt Nam Cộng hòa ) ở lại sau 30/4/1975 tiếp tục làm việc cho chế độ CHXHCNVN và hiến kế cho ông Kiệt , ông Linh . Ông Chinh là người ở khâu cuối cùng , đã can đảm tiếp nhận để ra quyết định lịch sử , chịu uống thuốc đắng chữa bệnh cho khỏi chết , cứu cho đảng khỏi sụp đổ . Chỉ việc ra quyết định lịch sử này ở Đại hội 6 là phần công lao của ông Chinh , đối với đảng ( chứ không phải ông Linh ) . Quy công từng khúc như vậy mới là công bằng và tôn trọng sự thật lịch sử .
    Trần Huy Định

    Nói một cách khách quan là thế này: Không một người lãnh đạo cộng sản nào đáng được vinh danh và tuyên dương. Từ ông Hồ, ông Lê Duẩn, đến Nguyễn Văn Linh và những người sau này, chẳng ai đáng được vinh danh. Chỉ xin kể ra vài sai lầm, hay nói đúng hơn là những tội lỗi nổi bậc của họ:

    1- Cái tội lớn nhất của thế hệ cộng sản đầu tiên là họ đem cái chủ nghĩa ngoại lai về giày xéo & tiêu diệt nền văn hoá dân tộc. Cho đến nay, hệ quả của cái chủ nghĩa đó là một nền văn hoá lai căng và xuống cấp trầm trọng. Kinh tế xuống cấp còn có thể phục hồi, nhưng một nền văn hoá suy thoái thì cần cả thế kỷ để phục hồi.

    2- Họ không có công gì trong việc giành độc lập cho đất nước. Ngược lại, họ đặt đất nước vào vòng nô lệ của Liên Sô và Tàu cộng. Cho đến nay, Việt Nam vẫn lệ thuộc vào Tàu cộng một cách đáng sợ. Lệ thuộc đến độ nhục nhã, giới lãnh đạo cộng sản VN chịu đựng để cho Tàu cộng mắng chửi như mắng đứa con hoang. Chưa bao giờ VN ta nhục như ngày nay.

    3- Họ điều hành đất nước bằng cách giật lùi sự phát triển đất nước vài chục năm. Những kẻ như Lê Duẩn, Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh đã đánh tan nền tảng kinh tế của miền Nam. Cho đến nay, Việt Nam vẫn là một nước nghèo nhất thế giới và phân hoá nhất thế giới. Miền Nam từ một nước phát triển tương đối khá ngày nay đi sau các nước láng giềng cả 30 năm. Những kẻ đó phải được xem là tội phạm với dân tộc.

    4- Họ cướp quyền tự do của người dân. Ngày xưa họ dựng chiêu bài tự do dân chủ để thu hút nhân tâm. Khi cướp được chính quyền, họ cướp luôn quyền tự do của người dân. Những kẻ nhẹ dạ chạy theo họ, giờ đã sáng mắt ra là bị lừa. Những người như Le Hiếu Đằng và đồng chí của anh đã từng một thời sát cánh với những kẻ lừa gạt và chết cũng vì những kẻ lừa gạt đó. Những kẻ cướp đó phải được xem là tội đồ dân tộc, chứ sao được vinh danh?

    5- Nhân cách của những người lãnh đạo cộng sản rất thấp và rất hung bạo. Hầu hết họ đều xuất thân từ thành phần thất học, du côn du đảng, nên khi cướp được chính quyền họ cũng hành xử như thời cơ hàn. Hồ Chí Minh chưa bao giờ học xong trung học, suốt đời chôm chỉa danh ngôn của người khác, chớp được cuốn sách của Lenin là mừng húm. Lê Duẩn cũng chưa bao giờ xong trung học, xuất thân là một kẻ du thủ du thực, và nhờ mưu mẹo và tàn ác mà leo lên chức bí thư. Nguyễn Chí Thanh cũng xuất phát từ thành phần nông dân, nên rất ghanh tỵ với Võ Nguyên Giáp. Đỗ Mười là một kẻ dốt đến tận cùng và bị bệnh tâm thần. Nguyễn Văn Linh cũng là một kẻ dốt nát, tính tình thì nhỏ nhen và tỵ hiềm với ông Võ Văn Kiệt. Trước đó, những Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập toàn là những người ít học và thành phần cuồng tín, lưu manh trong xã hội.

    Kết luận: Chẳng có ai trong họ đáng được vinh danh hay khen thưởng cả. Họ là những người có tội lớn với dân tộc.

    "Tiền đổi mới" là do đã nhiều lần ĐỔI MỚI TIỀN làm cho dân nghèo đi. Thời ĐỔI TIỀN MỚI chính là thời nhà nước này có chủ trương bần cùng hóa toàn dân, cố tình bắt dân phải khổ.
    “Cũng may mà ông Nguyễn Văn Linh lên, ông ấy xông xáo đổi mới, tháo bỏ cơ chế kìm kẹp kinh tế..." Ông Nguyễn Thông nêu lên thế naỳ là ông đã kết tội những người tiền nhiệm ông Linh rồi. Sao chưa thấy những kẻ đẻ ra cơ chế kìm kẹp kinh tế ra chịu tội trước dân? Những kẻ đó là ai? Tên cụ thể như thế nào?
    Nói nửa sự thật là nói dối, còn vai trò của ông NVL thế nào trọng vụ mất đảo Gạc Ma NĂM 1988 và Hội nghị Thành Đô?
    ĐỔI MỚI CHỈ LÀ QUAY VỀ CÁI CŨ MÀ THÔI. ÔNG NVL ĐÃ LÀM CHO THÀNH PHỐ HỒ IHÍ MINH QUAY VỀ SÀI GÒN HỒI TRƯỚC. LẼ RA PHẢI KẾT TỘI NHỮNG KỂ LẦM CHO SÀI GÒN MẤT PHONG CÁCH SÀI GÒN TRƯỚC KIA.