David Brown - Từ kẻ thù đến bạn đểu

  • Bởi Admin
    03/07/2015
    1 phản hồi

    David Brown | Foreign Affairs
    Lê Quốc Tuấn chuyển ngữ

    Tại sao Hoa Kỳ lại đang tán tỉnh Việt Nam

    Trong nhiều năm nay, vì cùng lo ngại về tham vọng của Trung Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam đã di chuyển gần hơn đến một hiệp ước thân thiện có tính chiến lược. Nhiều người ở Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ tìm cách khiến Việt Nam chống lại Trung Quốc. Nhưng quan điểm đó đã trúng mũi tên nhân quả ngược lại: Đó chính là cuộc tìm kiếm quyền bá chủ của Trung Quốc trên Biển Đông đã khuyến khích Hoa Kỳ và Việt Nam phải khôi phục mối quan hệ vốn dĩ rách nát của họ.

    Một dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ và Việt Nam nghiêm túc trong việc tăng cường mối quan hệ của mình là việc Tổng thống Barack Obama đồng ý gặp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam tại Washington vào đầu tháng Bảy. Việc một người chỉ đứng đầu một đảng phái lại được diện kiến trong Phòng Bầu Dục là điều rất hiếm hoi, nhưng có một số nguyên nhân vì sao Trọng được sự chú ý của Obama. Nguyên nhân quan trọng nhất là, vị tổng bí thư, người đã đích thân yêu cầu cuộc gặp này, từng nung nấu mối nghi ngờ về ý định của Mỹ đối với Hà Nội. Và mối lo âu này, cũng phản ánh nơi những đồng minh của ông giữa các phe phái trong Đảng Cộng sản, là trở ngại cuối cùng cho một quan hệ gần như liên minh giữa Việt Nam và kẻ thù của mình trong 40 năm trước đây.

    Những nghi ngại này bắt nguồn từ khuynh hướng tư tưởng của Trọng là một chuyên gia về chủ nghĩa Mác-Lênin, khiến ông cảnh giác với các nước dân chủ cùng động cơ của họ và đã đưa ông ta đến sự nghi ngờ rằng Washington có ý định xấu với chế độ Hà Nội. Trong những năm qua, Trọng và các đồng minh của ông đã tô vẽ hình ảnh của Hoa Kỳ như một cái gì xấu xa và không quan tâm đến mong muốn của Hà Nội. Mặc dù – căn cứ sự chia rẽ giữa các phe phái đằng sau mặt tiền đoàn kết Việt Nam - đó là sự tiến bộ (nói một cách tương đối) liên kết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người dường như đang có câu trả lời tốt hơn cho các vấn đề của Việt Nam, Trọng và những người bảo thủ khác vẫn còn chỉ huy các cơ quan đảng cầm quyền. Do đó, họ có thể làm hỏng các sáng kiến cải cách mà họ không thích. Họ cũng là những người cổ vũ những lời lẽ tiêu cực chống lại Hoa Kỳ.


    Tổng bí thư Đảng CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng, đang duyệt đội danh dự, 20/12/2014.

    Bốn mươi năm sau khi Sài Gòn sụp đổ, những lời lẽ tiêu cực ấy vẫn còn dẫn dắt học thuyết của đảng. Cán bộ các cơ quan an ninh nội bộ của Việt Nam khó có thể viết ra một đoạn văn về Hoa Kỳ mà không bao gồm những từ ngữ như "đập tan các âm mưu của kẻ thù" chống lại chính quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân. Phương tiện truyền thông của Đảng thường xuyên cảnh báo chống lại "kịch bản diễn biến biến hòa bình", một quan điểm cho rằng các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam (đặc biệt là những tổ chức được Washington hỗ trợ) sẽ lật đổ và kích hoạt những biến động như những gì từng lật đổ chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.

    Về vấn đề này, Trọng và các đồng minh của ông bước lạc điệu với dân chúng của mình và thậm chí cả với nhiều đảng viên. Công dân Việt Nam muốn nhìn thấy đất nước của họ sánh hàng với Hoa Kỳ hơn là với Trung Quốc. Trong sáu năm kể từ khi Bắc Kinh bắt đầu từng bước từng bước áp đặt quyền bá chủ của mình trên Nam Hải – khu vực rộng lớn mà Việt Nam kiên trì gọi là "Biển Đông của chúng tôi" – Đa số trong hơn ba triệu đảng viên cũng kết luận rằng, một lần nữa, Trung Quốc vẫn là mối đe doạ, như đã từng trong suốt mối quan hệ của Việt Nam với người láng giềng phương Bắc.

    Đối với Trọng và các đồng minh của ông, tránh dính vào sự đối đầu với Trung Quốc trong khi vẫn tham gia hợp tác với Trung Quốc ở tất cả các cấp chính quyền và cấu trúc đảng cầm quyền là cách tốt nhất để xoa dịu Bắc Kinh. Họ quan niệm rằng lợi ích của Mỹ ở Đông Nam Á mạnh hay yếu là phụ thuộc vào những gì khác đang khiến Washington bận tâm, còn "Trung Quốc vẫn luôn luôn ở đó," một hiện diện khó chịu ngay sát biên giới của Việt Nam.

    Bằng cách trả lời những lo ngại thực sự của phía Việt Nam, Obama có thể thuyết phục Trọng (và đồng minh của ông) tin rằng người Mỹ có thể là một đối tác tin cậy với những lợi ích tương thích [với lợi ích của Việt Nam]. Đối xử tốt với phe bảo thủ của Hà Nội có thể tạo một con đường vững chắc để xây dựng một hiệp ước Việt - Mỹ mà tưởng chừng khó có thể đạt được.

    Chiến lược đó đã ngày càng khó được chấp nhận, kể từ khi Bắc Kinh đòi chủ quyền trên hơn một triệu dặm vuông biển khơi, trải dài từ bờ biển phía nam Trung Quốc đến tận gần Singapore. Từ 2009, mỗi khi đến mùa khô, Trung Quốc ủng hộ tuyên bố của mình bằng cơ bắp quân sự và bán quân sự ở Biển Đông. Tuy nhiên, khi gió mùa hàng năm đến, Trung Quốc lại chuyển sang chế độ đàm phán.

    Mặc dù các nhà lãnh đạo đảng Việt Nam thường xuyên đi Bắc Kinh, hy vọng sửa chữa "mối quan hệ đặc biệt" và "xây dựng sự hiểu biết sâu sắc hơn," nhưng hành vi của Trung Quốc trong những năm gần đây đã khiến ngay cả Trọng và các đồng minh ý thức hệ của ông cũng phải phật lòng. Được biết, họ đã rất ngạc nhiên bởi việc năm ngoái Trung Quốc triển khai một giàn khoan nước sâu vào vùng biển rõ ràng, hợp lý thuộc về Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Không lâu sau đó, Trọng âm thầm cho biết rằng ông muốn đi thăm Washington.

    Một đảng viên bảo thủ khác, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, đã ở Washington trong tháng ba, chuẩn bị cho chuyến thăm đang chờ Trọng và đánh bóng các chính sách đối ngoại của ông trước Đại hội Đảng vào tháng Giêng năm 2016.

    Sau đó, vào đầu tháng Sáu, Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter và người đồng cấp Việt Nam đã ký một thỏa thuận tại Hà Nội vốn tạo dễ dàng hơn cho Việt Nam được Mỹ thông qua việc mua sắm các thiết bị quân sự. Cho rằng nó theo sát sau Shangri La hội nghị hàng năm của trưởng an ninh châu Á, chuyến thăm ngắn ngủi của Carter đã báo hiệu rằng Mỹ và lợi ích của Việt Nam trong vùng biển Đông đang có dấu hiệu song hành.


    Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Ashton Carter nói chuyện với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh vào 1/6/2015 tại Hà Nội.

    Cụ thể, Việt Nam muốn Trung Quốc ngừng thách thức chủ quyền của mình đối với các mỏ dầu và các đảo nhỏ phía ngoài bờ biển của mình. Còn Hoa Kỳ, như Carter đã nhấn mạnh một ngày trước đó tại Singapore, muốn "nước Trung Quốc đang vươn lên" phải chơi đúng luật. Ông giải thích, cả sức mạnh lẫn sự tổn thương trong quá khứ đều không thể lý giải cho việc Bắc Kinh áp đặt chủ quyền (ví dụ như, ngăn cản quyền đi qua không gây hại) lên những vùng lãnh thổ mà họ chưa bao giờ sở hữu trong thời quá khứ đế quốc của mình; và không phải vì quyền lợi riêng của mình mà nước nào cũng có thể bỏ qua những khuôn khổ giải quyết tranh chấp được luật pháp quốc tế tạo ra.

    Chắc chắn Trung Quốc đã lưu ý đến những chuyến viếng thăm này. Khi biết được chuyến đi sắp đến Washongton của Trọng, Bắc Kinh đã gửi đến Trọng một lời mời gần như ngay lập tức, mà ông chấp nhận. Do đó, trong bốn ngày đầu tháng Tư, Bắc Kinh đã trải thảm đỏ đón rước Trọng và đoàn tùy tùng của ông. Tuy nhiên, trong các lý giải về các cuộc gặp của họ, không có dấu hiệu gì cho thấy các cuộc đàm phán mang lại được bất kỳ kết quả cụ thể nào. Chỉ đơn giản là sự lặp lại của các công thức giờ đã mệt mỏi: lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình và Trọng hứa hẹn những "nỗ lực chung để kiểm soát các tranh chấp hàng hải, bảo vệ hòa bình và ổn định."

    Chuyến thăm sắp tới của Trọng đến Washington có thể chứng minh là nhiều thực chất hơn. Với Đại hội Đảng quan trọng sắp tới, chính trị Việt Nam đang thay đổi liên tục. Vì vậy, đây là thời điểm tốt cho Washington để có một cuộc đối thoại thân mật với Trọng. Bằng cách giải quyết các mối quan tâm thực sự của Việt Nam, ông Obama có thể thuyết phục Trọng (và rộng hơn: các đồng minh trong phe phái của Trọng) tin rằng người Mỹ có thể là đối tác đáng tin cậy với lợi ích tương thích. Cử chỉ đẹp với phe bảo thủ của chế độ Hà Nội có thể củng cố một lộ trình dẫn đến một hiệp ước Mỹ-Việt vốn cho đến nay vẫn tỏ ra là khó đạt được.

    Nguồn: From foe to frenemy, David Brown, Foreign Affairs

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    REMARKS ON THE 20TH ANNIVERSARY OF NORMALIZATION OF U.S.-VIETNAM DIPLOMATIC RELATIONS
    Remarks
    Charles H. Rivkin
    Assistant Secretary, Bureau of Economic and Business Affairs

    Thank you. When I heard that I would be speaking at the University of Economics, I was delighted. You attract the most talented students from every corner of Vietnam, as well as Laos and Cambodia.

    You are ranked as one of the best business schools in the world. So who could be better suited to hear about the depth and breadth of our economic engagement with Vietnam? Who could better appreciate its critical role in maintaining the 20 years of diplomatic and economic engagement that we celebrate this year?

    Today I am here to deliver a simple message: The economic engagement between our two nations has been the foundation behind its great success. That same engagement can and must be the platform for all future success – and there are no finer candidates than you to take that message and make it real.

    There’s another reason I consider you such an important audience. Vietnam is one of the younger nations in the world, with more than 40 percent of its population under the age of 25. As young people, you are not only the forthcoming custodians of the future. You also will be its longest beneficiaries, deep into this century.

    As future economists, academics, business people, policy makers and community leaders, you will be even more directly involved, at the front lines of our economic engagement. So, for you, there is nothing abstract about the economic engagement between our nations. Its success or failure will have enormous impact on your lives, from the decisions you make, to the families you raise, to the businesses you start up –or don’t.

    As I look around this room, I see that many of you are about the same age as my son and my daughter. About two weeks ago, in the United States, my wife and I went to our son’s university for his graduation.

    This was a day of mixed emotions. We knew we had done everything we could to support him and his sister, and we knew it’s now up to them to do the rest.

    But we also recognized that there are other factors above and beyond their control that will also determine how successful their futures – and yours – will be. Many of those factors are economic, and they are at the heart of our most threatening challenges, from lack of economic opportunity for young people, especially in developing and emerging economies, to the devastating and expensive consequences of climate change.

    It stands to reason, that we should work to create economic policies and strategies that not only address these challenges but also bring benefits to all of us – from my son and daughter to everyone in this room.

    The world is flatter and more connected than ever. Shared prosperity is no longer an abstraction. It’s a 21st century reality.

    So today, I want to outline how our economic engagement is working to underwrite our bilateral relationship, and helping more people take advantage of that prosperity and make their lives better. I also want to talk about a ground breaking multilateral trade deal that we believe will take that economic engagement to the next level.

    Over the past 20 years, business and investment ties between our nations have grown, and so has our political and diplomatic cooperation. This growth in our economic relationship has paved the way for us to cooperate in many other areas, like education and people-to-people exchanges; cooperation in the fields of the environment, science, and health; enhanced security cooperation and addressing climate change.

    Through the “Agreement on Economic and Technical Cooperation,” signed 10 years ago, we have a framework to address many challenges, from combating HIV/AIDS to disaster risk reduction. That framework also extends to our strong cooperation on addressing climate change, practicing sustainable development, and employing clean energy in the Mekong region – which is so important to the lives and livelihoods of the Vietnamese population and the entire sub-basin.

    In a year of many milestones for our relationship, we also celebrate the 15th year of our Bilateral Trade Agreement – or the BTA.

    Thanks in large part to the BTA, Vietnam exports more goods to the United States than to any other country. Our trade has grown dramatically, from $451 million in 1995 to $36 billion in 2014.

    Vietnamese entrepreneurs, the backbone of the economy, have benefitted greatly, exporting clothing, furniture, consumer electronics, and food to the United States.

    Of course, this also means we have created thousands of jobs in Vietnam and in the United States. Since normalization in 1995, Vietnam’s GDP was already growing at a rate of more than four percent every year. Since the signing of the BTA in 2000, that figure rose to more than five percent – each and every year. Ladies and gentlemen, a growth rate of more than five percent each year for 15 years is very impressive, by any standard.

    Since the signing of the BTA, and thanks to decisions made by the Government of Vietnam, the nation’s poverty rate has dropped from 60 percent to 17.2 percent. Domestic prices of imported goods have also decreased and given the Vietnamese people more consumer choices.

    These successes help to illustrate a very simple principle: When a country bustles with economic opportunity, people are inspired to become more productive. They see that starting a business does more than solve their immediate financial problems. It brings jobs to their communities. It contributes to economic growth.

    The better their economic situations, the greater their desire to advocate for bigger and better things.

    Those include a stronger rule of law; more robust intellectual property rights to protect their ideas and patents; better schools for their children; better healthcare for their families; better working conditions; better environmental standards; and, most importantly of all, universal respect for human rights.

    As a business culture, we believe our companies abroad must answer to higher ethical questions than merely profit margins. They must not only demonstrate due diligence in their awareness and transparency of their supply chains, they also should work to enhance the communities where they do business.

    Here in Vietnam, for example, the American agriculture company Cargill has been sharing new technologies and sustainable farming techniques with cocoa farmers in the Mekong Delta.

    American companies, including IBM, Coca-Cola and Boeing, are all doing their part, investing time and money – some to build schools, others to protect the environment or contribute to the health of their local communities.

    Some are donating computer equipment and software to schools. Others are sending out company representatives to speak with Vietnamese students – or helping employees learn critical skills.

    All are showing that they are committed to serving the peoples and communities where they operate for the long-term.

    I just came from Hanoi where I helped launch a public-private partnership between the State Department and the Asia Injury Prevention – or AIP – Foundation.

    As you know, many Vietnamese, including many children, die as a result of motorbike accidents. So we are asking for the help and support of American companies to distribute up to 25,000 child helmets and promote road safety awareness.

    I could share many more examples, but I believe the point is clear. As long as there is opportunity for economic engagement, our firms are eager to partner with Vietnam to build a shared and prosperous future.

    This brings me to the Trans-Pacific Partnership trade agreement – better known as TPP. This trade deal will allow 12 participating countries – which account for almost 40 percent of the world’s GDP – to trade and invest more freely, openly, and competitively in each other’s markets.

    TPP, when successfully concluded, will allow both our countries, and the 10 other partners, to open many more doors to opportunity.

    It will allow commerce to flow across a dozen borders without government protectionism and other barriers.

    It will set high standards for labor and the environment that will lay down a marker for the world.

    It will promote a free and open internet, protect intellectual property rights, and clarify regulations so that more businessmen and women can explore new markets and grow their businesses.

    This treaty will be transformative for both our countries, and according to some estimates, it may increase Vietnam’s GDP by as much as 30 percent in the next decade.

    It will support the Government of Vietnam’s stated goals to modernize the country, and its efforts to transform state-owned enterprises and important sectors of the economy like energy and banking.

    It will also help Vietnam attract greater investment, achieve more regional integration and, by extension, help build greater security across the Asia-Pacific.

    There is a Vietnamese saying. And please forgive my pronunciation. But it is something like this: Có chí thì nên. Essentially, it echoes a well-known expression in English, which is: Where there’s a will, there’s a way.

    In other words, when you are sufficiently determined to achieve something, there is no substitute for the power of the human will.

    If there’s one lesson that we can draw from our 20 years of normalization, I believe it’s the power of our economic engagement to support our greatest aspirations and needs.

    Look at what we have already done in these past two decades. I believe we can look forward to so much more, not only in terms of our shared prosperity but also in terms of our quality of life.

    By embracing TPP and its high standards, Vietnam can be a leader and model for others to follow. Together we can build a brighter, stronger future for our people, our nations, and the entire Asia-Pacific region. Thank you.