Đức Hoàng - Đồng tính và chính sách

  • Bởi Trà Mạn
    30/06/2015
    0 phản hồi

    Năm 1740, vua Càn Long ban hành luật trừng phạt với những mối quan hệ đồng tính. “Từ điển bách khoa giới tính thế giới” khẳng định rằng, đó là lần đầu tiên trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, điều này được luật hóa.

    Nửa thế kỷ sau, vào năm 1815, vua Gia Long ban hành bộ luật đầu tiên của nhà Nguyễn – Hoàng Việt luật lệ. Đó là một bộ luật mà theo sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược: “Nói là theo luật Hồng Đức nhưng kỳ thực chép của luật nhà Thanh và chỉ thay đổi ít nhiều mà thôi”.

    Nhưng có một điều rất thú vị là trong Hoàng Việt luật lệ, có một thứ mà vua Gia Long không "cóp” của Thanh triều: ông không có quy định nào về các mối quan hệ đồng tính.

    Sử liệu tất nhiên không còn đủ để lý giải cho quyết định này. Nhưng chi tiết đặc biệt này đã được lưu ý bởi các soạn giả của “Từ điển bách khoa giới tính thế giới” trong phần viết về Việt Nam, và nó cũng là điều tôi lưu tâm nhất khi đọc cuốn này.

    Dù không thể bàn luận chi tiết, nhưng có thể tuyên bố: Gia Long và các soạn giả của Hoàng Việt luật lệ không quy định về quan hệ đồng tính, bởi họ thấy không cần thiết. Đơn giản là vậy.

    Thực tế xã hội bây giờ cũng minh họa cho điều đó. Cho dù không được điều chỉnh bởi luật, các mối quan hệ đồng tính vẫn tiến triển tự nhiên. Họ yêu đương, vẫn sống cùng nhau. Tôi quen cả những cặp đôi đã thụ tinh nhân tạo và có một đứa con.

    Khi ở rất nhiều nơi trên thế giới, người ta bàn luận về quyết định hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính của Tòa án tối cao Mỹ, tôi nghĩ đến sự khác biệt trong chính sách của hai người cùng thời, là Gia Long và Càn Long. Một người quyết định điều chỉnh, người kia thì không. Câu hỏi đặt ra bây giờ là liệu những mối quan hệ đồng tính thời đại này có cần được điều chỉnh bởi luật pháp hay không?

    Họ vẫn sống theo cách mình muốn, thế thì luật pháp can thiệp ở chỗ nào? Chính là ở tính pháp lý của hôn nhân: khi họ sống chung, có tài sản chung, có cả những đứa con chung (bằng nhiều phương pháp như nhận con nuôi hay thụ tinh nhân tạo), thì những mâu thuẫn pháp lý sẽ phát sinh.

    Tôi nhận ra rằng, trong những cuộc luận bàn về hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, lập luận chủ yếu được đưa ra là theo kiểu “ủng hộ” và “không ủng hộ” một cách cảm tính. Tôi thấy rất khó hiểu về điều này. Chính sách hoàn toàn không thể xây dựng theo sự “thích” hay “không thích” của đám đông, nó chỉ nên được quyết định bởi sự “cần” hay “không cần” của xã hội. Bạn có thể thích màu hồng hay da cam, nhưng đèn hiệu thì vẫn phải là màu đỏ bởi nó có lợi nhất cho quan sát – đó là logic của chính sách. Việc ai đó thích hay không thích thứ này, thứ khác không liên quan gì đến quản lý nhà nước.

    Bây giờ là lúc đặt ra các lựa chọn. Lựa chọn đầu tiên là không làm gì cả, chính là lựa chọn của Việt Nam trong nhiều năm qua (từ thời Gia Long?). Những người đồng tính trên thực tế vẫn có thể đến với nhau nếu muốn, và giả định số lượng các vụ tranh chấp tài sản liên quan đến những mối quan hệ kiểu này quá nhỏ để xã hội phải bận tâm.

    Lựa chọn thứ hai, nếu cho rằng các mối quan hệ này có vấn đề, là cấm chúng, như vua Càn Long đã quyết. Không cho những người đồng tính sống cùng nhau nữa, đỡ rắc rối. Lựa chọn này có vẻ khá đắt tiền, nếu xét đến việc phải kiểm tra hành chính mọi nơi có hai người cùng giới đang ở chung, và xét nghiệm xem họ có quan hệ với nhau hay không để còn phạt.

    Lựa chọn cuối cùng, là hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, là điều đang được nhắc đến rất nhiều. Có nhiều lý do để tin rằng, các mâu thuẫn liên quan đến hôn nhân đồng tính đáng được can thiệp bởi luật, nếu xét đến tỷ lệ 3% hoặc 5% dân số toàn cầu là đồng tính, lưỡng tính hoặc chuyển giới.

    Có thể người ta vẫn sẽ tiếp tục lên tiếng, ủng hộ hay phản đối các mối quan hệ đồng tính theo cảm quan của họ trong nhiều năm nữa. Ngay cả ở Mỹ, quyết định của Tòa án tối cao nước này cũng đang gây ra tranh luận gay gắt. Nhưng vấn đề của chính sách, không phải là cảm tính. Câu hỏi của sự can thiệp, chỉ là cần hay không cần.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi