Văn Uyên - Món nợ của hậu thế

  • Bởi Admin
    26/06/2015
    0 phản hồi

    Văn Uyên

    Bài báo “Món nợ với giáo sư Trần Đức Thảo“ đăng trên Vietnamnet ngày 15/10/2013 đã mở đầu bằng câu: ”Giáo sư triết học Trần Đức Thảo thuộc một thế hệ vàng một đi không trở lại “. (*)

    Vị giáo sư triết học cao tuổi Nguyễn Đình Chú, trường đại học sư phạm Hanoi, nguyên là học trò của giáo sư Trần Đức Thảo viết:

    ”Trần Đức Thảo là triết gia Việt Nam duy nhất trên trường quốc tế, người sáng lập Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhân bản, người khai sinh bộ môn lịch sử tư tưởng triết học cho giáo dục Việt Nam“. Ông cho rằng: ”Một đất nước hùng cường, sánh với năm châu không thể không có triết học“. Ông đồng thời cho rằng điều này không dễ dàng vì đòi hỏi người làm (triết học) phải có trình độ tiếng Pháp, đặc biệt là tiếng Đức thật giỏi, có trình độ hiểu biết nhất định về triết học thế giới, có hiểu biết về khoa học tự nhiên như vật lý học hiện đại, sinh vật học, khoa học nhân văn và quan trọng nhất là phải năng lực tư duy trìu tượng khoa học, mà thế mạnh của người Việt lại là tư duy cụ thể.

    Một con người thuộc thế hệ vàng như vậy, vì sao bị loại ra khỏi một đất nước đang có tham vọng trở thành hùng cường, sánh với năm châu, như ông Hồ Chí Minh đã từng tham vọng?

    Cách đây 59 năm, vào năm 1956, sau khi Trần Đức Thảo cho đăng 2 bài báo “Nỗ lực phát triển dân chủ“ và “Nội dung xã hội và hình thức tự do“ trên báo Nhân văn số 3 ngày 15/10/1956 và trên Giai phẩm mùa đông tập 1 năm 1956 (**), sóng gió đã ập đến cuộc đời ông. Ông bỗng nhiên được phong tặng danh hiệu “Lãnh tụ tinh thần của phong trào Nhân văn – Giai phẩm, phản cách mạng một cách nguy hiểm“.

    2 bài báo đó đã nói gì?

    Trong bài thứ nhất, Trần Đức Thảo viết: Chúng ta phải nỗ lực mở rộng dân chủ, phát triển phê bình trong nhân dân. Đảng chỉ đường vạch lối nhưng không thể làm thay. Tự do không phải là cái gì có thể ban ơn. Người trí thức hoạt động văn hóa cần tự do như cần khí trời để thở. Có tự do thì mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật...

    Trong bài thứ hai, Trần Đức Thảo viết: Tự do của quảng đại quần chúng là một nội dung chân chính mà chế độ ta cần thực hiện về căn bản và có điều kiện để phát triển không ngừng – nhưng lại bị lũng đoạn bởi những căn bệnh nặng nề như quan liêu mệnh lệnh, giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân. Ở cương vị lãnh đạo thì nó có điều kiện để gây tai hại lớn cho nhân dân... Sai lầm trong cải cách ruộng đất và chấn chỉnh tổ chức là một trường hợp điển hình nhưng thực ra trong mọi vấn đề khác như kiến thiết kinh tế, văn hóa cũng đã phải chờ đến khi có tai hại lớn mới bắt đầu rút ra bài học kinh nghiệm. Rõ ràng phương pháp phê bình thông thường trong nội bộ tổ chức không đủ để sửa sai kịp thời những sai lầm hết sức quan trọng. Vì thế Đảng phải được sự xây dựng của nhân dân. Người lãnh đạo không có quyền tự đặt mình lên trên nhân dân...

    Đầu năm 1958, một cuộc đấu tố nhà triết học Trần Đức Thảo đã được tổ chức tại đại giảng đường 35 Lê Thánh Tôn suốt 2 ngày liền. Người đấu gồm giáo sư, giảng viên, trợ lý (từng là học trò của giáo sư Thảo) và sinh viên của trường đại học sư phạm và trường đại học tổng hợp Hanoi. Đến dự có Bộ trưởng giáo dục Nguyễn Văn Huyên, 2 thứ trưởng Hà Huy Giáp và Nguyễn Khánh Toàn cùng nhiều quan chức khác. Nội dung đấu là đủ tội, nhưng tội chính của triết gia Trần Đức Thảo vẫn là “Vai trò lãnh tụ tinh thần của nhóm Nhân văn – Giai phẩm“, với 4 tội lớn: (***)

    1- Dám phê bình trung ương đảng lao động Việt Nam về triết học là duy tâm chủ quan, sai với tinh thần của Marx, đã đặt quan hệ sản xuất lên trước lực lượng sản xuất.

    2- Dám phê bình ĐLĐVN sau ngày giành được chính quyền đã tạo dựng một bộ máy quan liêu

    3- Dám chê Mao Trạch Đông là dốt, chê Mâu thuẫn luận và Thực tiễn luận của Mao là sai học thuyết Marx

    4- Dám đòi hỏi tự do dân chủ một cách vô chính phủ.

    Sau cuộc đấu, nhà triết học Trần Đức Thảo lên phát biểu rất ngắn: ”Khi viết các bài báo đó là tôi có suy nghĩ. Nay các vị bảo tôi sai. Tôi sẽ suy nghĩ lại“. Lời phát biểu này không được chấp nhận, bị cho là không thành khẩn.

    Tiếp theo là xử lý kỷ luật. Giáo sư Trần Đức Thảo bị tước chức vụ Phó giám đốc trường đại học sư phạm, bị cấm giảng dạy, sau đó lên nông trường Ba Vì 3 tháng. Có người nói nhà triết học bị lao động cải tạo ở đó, rồi ông bị cô lập với mọi người xung quanh.

    Tại sao đây là món nợ đối với hậu thế?

    Sự nghiệp triết học của triết gia Trần Đức Thảo đã bị dang dở vì ông lên tiếng cho nền tự do dân chủ ở Việt Nam…

    Triết gia Trần Đức Thảo đã như con chim báo bão, đi trước hiện thực hôm nay hơn nửa thế kỷ. 4 tội lớn mà người ta gán cho ông từ năm 1958, tới nay đều là sự thật, đã và đang diễn ra trên đất nước chúng ta và Trần Đức Thảo hồi đó phê phán là hoàn toàn đúng.

    Hồi đó vì sợ guồng máy chuyên chính vô sản, một số người đã chịu bán mình cho quỷ. Phạm Huy Thông là giáo sư – giám đốc trường đại học sư phạm, bạn thân với Trần Đức Thảo hồi ở Pháp, đã đấu và vu ông là phần tử Trốt-kít. Sau này, giảng viên Hoàng Thiếu Sơn kể lại, cụ Chấn Hưng, thân sinh Phạm Huy Thông đã trách Thông: ”Tôi không ngờ anh lại đối xử với bạn anh như thế!”. Nguyễn Lân, giám đốc giáo dục Liên khu 10 đã viết bài trên báo Nhân Dân 18/5/1958: ”Trường đại học sư phạm đã nhổ được cái gai là Trần Đức Thảo“. Sau này lại chính Nguyễn Lân đã viết: ”Hồi đó tôi là Chủ tịch công đoàn ngành giáo dục, được tổ chức phân công cuộc họp phê phán ông Trần Đức Thảo, một nhà triết học rất uyên bác. Là nhiệm vụ trên giao, tôi không thể không thực hiện mà trong lòng thấy ân hận vô cùng“ (****). Một số không ít học trò của thầy Trần Đức Thảo đã phản thầy, bịa chuyên, lên đấu, sau này xấu hổ không dám nhìn mặt. Một số khác vì sợ liên lụy, gặp thầy Thảo không dám chào hỏi. Tuy vậy vẫn có những học trò giữ được nhân cách, như Đoàn Mai Thi, thường xuyên lui tới săn sóc thầy Thảo trong lúc hoạn nạn (***).

    Chính vì thế, trong cuộc Hội thảo quốc tế ngày 7/5/2013 do trường đại học sư phạm Hanoi tổ chức với đề tài: ”Tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo“, lớp hậu sinh của giáo sư – triết gia Trần Đức Thảo đã nhắc tới “món nợ“ mà ngày hôm nay họ cần phải trả.

    Phó Giáo sư Phạm Thành Hưng nói Giáo sư Trần Đức Thảo đã làm sáng danh đất nước nhưng cũng đã gặp bi kịch suốt cuộc đời làm triết học trong hoàn cảnh phi triết học ở nước ta. Ông cũng đã đúc kết 2 bài học của giáo sư Trần Đức Thảo để lại là bài học về phương pháp tư duy và bài học nữa không kém phần quan trọng mà dễ học nhất là bài học về nhân cách của người trí thức, mà cũng là bài học làm người./.

    (*) Xem:” Hội thảo về nhà triết học Trần Đức Thảo “ do trường đại học sư phạm Hanoi tổ chức ngày 7/5/2013, đăng trên Vietnamnet
    (**) Xem: Trần Đức Thảo – Bách khoa toàn thư < www.vi.wikipedia.org >
    (***) Xem: Triết gia Trần Đức Thảo, những ngày ấy – Giáo sư Nguyễn Đình Chú
    (****) Xem: Nguyễn Lân – Bách khoa toàn thư < www.vi.wikipedia.org >

    * * *

    Cảm nghĩ sau khi đọc cuốn: “Trần Đức Thảo – Những lời trăng trối“

    Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, tác giả cuốn “ Trần Đức Thảo – những lời trăng trối “ là nhà báo có lương tâm với đất nước, với đồng bào và với giới trí thức trong nước.

    Nhưng do tác giả sống nhiều năm ở Pháp, có lẽ rất thông thạo tiếng Pháp nhưng đã quên tiếng Việt ít nhiều, nên người đọc có thể cảm thấy không phải tác phẩm của một nhà báo chuyên nghiệp, cũng không phải của nhà văn chuyên nghiệp. Rải rác trong tác phẩm này có những đoạn văn trùng lặp, nhất là ở chương 8 ; dùng chính tả Việt ngữ không chính xác, chẳng hạn dùng rất nhiều dấu chấm than và rất nhiều tiếng cười “ha!ha!ha! “... không đúng lúc, không đúng chỗ, nên trở thành vô nghĩa, làm giảm tính chân thực và sinh động của lời văn

    Tác phẩm được cho là thuật lại những buổi phỏng vấn triết gia Trần Đức Thảo. Có thể do tác giả không có dịp trải nghiệm về thời kỳ chuyên chính vô sản khủng khiếp trong nước VNDCCH từ sau ngày tiếp quản Hanoi năm 1954 đến năm 1991 khi triết gia trở lại Pháp, nên có những đoạn giữa lời thoại của triết gia Trần Đức Thảo và bối cảnh xã hội chưa gắn được chặt chẽ.

    Về tư tưởng trung tâm của tác phẩm mà triết gia muốn nói với mọi người là “ Chính Marx đã sai “ thì ở tác phẩm này, tuy chưa kết luận được dứt khoát ( vì cuốn sách triết gia còn viết dở dang ), nhưng đã dẫn giải được đến kết luận này.

    Từ tin tưởng rằng “Marx vẫn đúng, chỉ môn đồ của ông là sai“, đến nhận ra rằng chính Marx sai; triết gia Trần Đức Thảo đã phải trải qua một quá trình dài ngu tín (như triết gia đã tự nhận), rồi qua trải nghiệm cuộc cách mạng và cuộc sống của dân tộc và của chính mình, nghiên cứu lại tư tưởng Hegel, nghiên cứu lại tư tưởng Marx, đến trước khi ông mất không lâu, Trần Đức Thảo mới có được kết luận “Marx đã sai“ (xem đoạn Cuốn băng ghi âm cuối cùng).

    Quả thực, triết gia đã ngu tín đối với lý luận của Marx một thời gian dài (xem Hồi ký triết học Trần Đức Thảo viết ngày 20/4/1989). Điều này không đáng ngạc nhiên vì Trần Đức Thảo tốt nghiệp Thạc sĩ triết học ở Pháp trong bối cảnh cực thịnh của phong trào cộng sản quốc tế. Ở Pháp, sau thế chiến 2, thời de Gaulle, Maurice Thorez, tổng bí thư đảng cộng sản Pháp đã trúng cử, giữ chức Phó thủ tướng nước Pháp. Triết gia ngả hẳn về tư tưởng Marx.

    Chỉ đến năm 1952, về nước, thâm nhập thực tế cuộc cách mạng trong nước, Trần Đức Thảo mới thấy độ vênh đến mức như đối lập giữa lý luận của Marx và hiện thực. Vì như Trần Đạo viết “ Trần Đức Thảo sống mà không biết bán mình “ nên ông đã bị guồng máy chuyên chính vô sản trong nước đàn áp (xem bài Cuộc đấu Trần Đức Thảo tại trường đại học sư phạm), đến mức như triết gia kể lại, phải câm lặng, giả khùng, giả mất trí, để giữ tính mạng, chờ dịp nói ra sự thật. Mà có vậy, ngày nay chúng ta mới được biết triết gia Trần Đức Thảo kết luận là chính Marx đã sai.

    Chỉ những ai đã trải nghiệm qua thời kỳ này mới thông cảm được với triết gia và đồng bào trong nước hồi đó. Vì thế, tác giả chưa nên vội kết luận về triết gia Trần Đức Thảo như ở chương 16: “Bộ óc thông thái đó, lúc nên vùng dậy để bênh vực con người và những giá trị văn minh văn hóa, ngăn chặn tội ác, uốn nắn cách mạng theo hướng thiện thì không làm. Đến lúc hoàng hôn của cuộc đời, hối hận, hành động thì đã quá trễ. Cái chết không cho ông chuộc lại tội lỗi đã uổng phí cuộc đời“.

    Lê Hải Ba

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi