Trần Kiên - Quyền Im Lặng và Sự Trưởng Thành của Nhà Nước

  • Bởi Admin
    18/06/2015
    0 phản hồi

    Trần Kiên

    Từ chối công nhận quyền im lặng sẽ tạo ra một hình ảnh thiếu tích cực về Việt Nam trong con mắt cộng đồng quốc tế. Một mặt, nó hàm ý rằng Việt Nam không chấp nhận và tôn trọng một trong những quyền con người căn bản nhất. Mặt khác, nó cũng phần nào phản ánh rằng các cơ quan nhà nước có liên quan chưa thật sự trưởng thành; chưa thật sự sáng suốt, bản lĩnh, và dám chịu trách nhiệm.

    Từ Tố Tụng La Mã đến Quyền Con Người Phổ Quát

    Giáo sư Nguyễn Đăng Dung đã có lần lập luận rằng, nếu để ý kĩ sẽ thấy phải đến bẩy trong số mười Tu chính án hợp thành bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Hoa Kỳ có mục đích bảo vệ bị can, bị cáo đặc biệt là trong các thủ tục tố tụng do Nhà nước thực hiện.[1] Trong số đó, Tu chính án thứ 5 xác quyết và bảo vệ quyền im lặng của bị can, bị cáo như một nhân quyền hiến định. Giờ đây, có lẽ đây là một trong những quyền được cá nhân biết đến nhiều nhất và thuộc nhất, không chỉ ở Hoa Kỳ[2] thông qua ngôn từ của Cảnh báo Miranda nổi tiếng mà mọi viên chức thực thi pháp luật đều phải đọc cho người bị bắt nghe ngay tại lúc bắt.[3]

    Có một điều nên chú thích ngay, mười tu chính án này, bao gồm cả quyền im lặng đã được Hoa Kì ban hành từ hơn 200 năm về trước.[4] Quan trọng hơn, nó cũng không phải là một sản phẩm tức thì, phát sinh tại thời đại đó. Trái lại, đó là một sự đúc kết và khai sáng lớn lao qua lịch sử đấu tranh hàng ngàn năm của nhân loại. Đối diện với một thực tiễn tố tụng nặng về xét hỏi và buộc tội, các luật gia La Mã đã vận động cho nguyên tắc nemo tenetur se ipsum accusare Không ai bị buộc làm chứng chống lại chính mình để bảo vệ các cá nhân trước oan sai. Từ một ngoại lệ, họ có thể không ngờ rằng cả ngàn năm sau đó, nguyên tắc này lại trở thành cốt yếu để bảo vệ những cá nhân và nhân loại tiến bộ trước các tòa án luật pháp và dị giáo bảo thủ của Vương quốc Anh thế kỉ 16, 17 trước khi được người Mỹ hiến pháp hóa, xiển dương để bảo vệ con người trong tinh thần cách mạng chống lại Đế quốc Anh thế kỉ 18. Đến thể kỉ 20 nó đã trở thành quyền con người phổ quát được toàn thế giới thừa nhận, trung tâm của khái niệm phiên tòa công bằng quy định trong Công ước châu Âu về quyền con người như Tòa án châu Âu về Quyền con người đã phán quyết.

    Thúc Đẩy Tinh Thần Trách Nhiệm và Tính Hợp Pháp

    Không chỉ là một quyền cần được thừa nhận và bảo vệ, sâu xa hơn việc thừa nhận hay không quyền im lặng còn phản ánh cách thức tiếp cận, năng lực, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như tính hợp pháp của các thủ tục tố tụng. Không khó để nhận ra rằng tình trạng bức cung, nhục hình hiện nay ở một số cơ quan điều tra, truy tố của Việt Nam có nguyên nhân một phần từ thái độ thiếu tôn trọng, và thiếu vắng quyền im lặng. Phải khai, nếu không khai thì bị coi là cản trở quá trình điều tra phá án có lẽ không chỉ bắt nguồn từ sự nôn nóng muốn phá án nhanh chóng của các điều tra viên, kiểm sát viên. Nó còn là kết quả trực tiếp của thái độ coi im lặng là tội, là sự chống đối, đáng bị coi là tình tiết tăng nặng cần phải trừng phạt. Hậu quả của thái độ và sự thiếu vắng này như thế nào thì xã hội đã được chứng kiến. Án oan, sai, bức cung nhục hình đã đủ nhiều, đủ lớn, đủ nghiêm trọng để Quốc hội phải có hẳn luật bồi thường cho cá nhân bị hàm oan, để phải lập các đoàn kiểm tra giám sát.

    Trong bối cảnh này có thể thấy thừa nhận và bảo vệ quyền im lặng sẽ góp phần thúc đẩy trách nhiệm và cả năng lực của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, cũng như tính hợp pháp của thủ tục tố tụng. Nó sẽ đảm bảo rằng trong khi sai sót là điều khó tránh khỏi trong mọi thủ tục tố tụng thì sự sai sót đó không phải bắt nguồn từ nguyên nhân chủ quan của các cơ quan nhà nước. Không phải bắt nguồn từ những biện pháp điều tra như bức cung, nhục hình mà tự thân nó cũng có thể bị coi là hành vi phạm tội. Tố tụng, khi đó sẽ là con đường công chính thật sự để tìm ra sự thật, để minh oan người vô tội và trừng phạt thích đáng kẻ có tội.

    Lựa Chọn Bản Lĩnh

    Đã có những lập luận thuyết phục khác được nêu ra để giải thích tại sao quyền im lặng là cần thiết; để minh họa cho chúng ta thấy nhu cầu chính đáng phải bảo vệ các cá nhân nhỏ bé trước bộ máy tố tụng khổng lồ của nhà nước, quyền mà có lẽ Việt Nam hiểu hơn ai hết qua lịch sử đấu tranh chống lại chế độ cai trị, bắt giữ, truy tố, giam cầm bất hợp pháp, phi nhân tính của đế quốc thực dân trong thế kỉ 19 và 20.[5] Dân tộc ta đã có bản lĩnh đứng lên đấu tranh đòi lại những quyền này thì không có lý do gì chính quyền Việt Nam trong thế kỉ 21 lại không đủ bản lĩnh để thừa nhận và bảo vệ nó. Từ chối công nhận quyền im lặng sẽ tạo ra một hình ảnh thiếu tích cực về Việt Nam trong con mắt cộng đồng quốc tế. Một mặt. nó hàm ý rằng Việt Nam không chấp nhận và tôn trọng một trong những quyền con người căn bản nhất. Mặt khác, nó cũng phần nào phản ánh rằng các cơ quan nhà nước có liên quan chưa thật sự trưởng thành; chưa thật sự sáng suốt, bản lĩnh, và dám chịu trách nhiệm.

    (Đây là bản gốc bài đăng trên tạp chí Pháp Luật Bốn Phương, số 6, ngày 15/06/2015)

    [1] Quả thật, ngoài bốn tu chính án liên quan trực tiếp đến quyền của bị can, bị cáo trong thủ tục tố tụng hình sự (Số 4, 5, 6, 8) thì ba tu chính án khác cũng có thể được sử dụng để bảo vệ những cá nhân khi can dự vào các thủ tục tố tụng khác (Số 3, 7, 9).

    [2] Tác giả có thể xác nhận rằng cảnh sát Scotland cũng đưa ra Cảnh báo tương tự cho người bị bắt ngay trước khi thẩm vấn.

    [3] Phiên bản phổ biến của Cảnh báo Miranda là: “Bạn có quyền giữ im lặng, mọi điều bạn nói hoặc làm có thể được sử dụng là bằng chứng chống lại bạn trước tòa. Bạn có quyền mời luật sư bảo vệ trước hoặc trong khi trả lời thẩm vấn của cảnh sát. Nếu bạn không có điều kiện thuê luật sư riêng, và mong muốn được luật sư bảo vệ chúng tôi sẽ mời luật sư cho bạn. Nếu bạn quyết định trả lời thẩm vấn ngay bây giờ mà không cần có luật sư, thì sau đó bạn vẫn có quyền dừng trả lời thẩm vấn và yêu cầu được có luật sư tư vấn. Sau khi đã biết và hiểu về các quyền của mình qua sự giải thích của tôi, bạn có sẵn sàng trả lời thẩm vấn bây giờ mà không cần có luật sư không?”

    [4] Ban hành năm 1789. Thông qua năm 1791

    [5] Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh như Yêu sách của nhân dân An Nam hay Tuyên Ngôn Độc Lập là các bằng chứng mạnh mẽ nhất cho nhu cầu thừa nhận bảo vệ các quyền này cũng như sự xâm phạm nó của chính quyền thực dân, vồn là cơ sở của việc đòi lại độc lập cho Việt Nam.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi