Trần Văn Tuấn - 'Đại tướng quân', anh có bằng tiến sĩ chưa?

  • Bởi Trà Mạn
    05/06/2015
    5 phản hồi

    Trần Văn Tuấn

    Lâu lắm nữa, xã hội ta mới sống đúng theo những gì mình có. Khi đó sẽ có nhiều người ngẩng cao đầu cùng câu nói: Xin lỗi, tôi không phải là tiến sĩ!

    Mất gì cũng được, không thể mất mặt

    Trong truyện ngắn “cụ Chánh Bá mất giầy” của Nguyễn Công Hoan, có một chi tiết khá thú vị, đó là khi xong chầu tổ tôm, cụ Chánh thấy bỡ ngỡ đôi chút khi phát hiện ra đôi giày mà mình đang xỏ nó quá mới so với đôi mà cụ vẫn đi, nhưng cụ vẫn thản nhiên xỏ tiếp và ra về trước cái thở phào nhẹ nhõm của chủ nhà.


    Ngày nay, con cháu vẫn có nhiều người tiếp tục biết nhầm mà không thắc mắc như cụ, nhưng không phải nhầm một đôi giày Nam Định, mà là nhầm về chức danh hay học vị theo xu thế cao hơn những gì họ thực có.

    Trong các cuộc hội thảo hay các diễn đàn quan trọng, nơi phần lớn người tham gia là những lãnh đạo lớn hoặc học vị cao, đôi lúc ban tổ chức cảm thấy bất tiện khi giới thiệu một người nào đó không có chức danh cao hay học vị Tiến sĩ (TS) lên ngồi ghế nóng.

    Chính vì vậy họ thường chủ động gắn cho người đó cái học vị TS cho nó trang trọng. Cũng thực lạ là hình như có rất ít người chủ động đính chính chuyện họ không phải là TS. Thay vào đó, cũng giống như cụ Chánh Bá, họ lờ đi vì sự nhầm lẫn có lợi này.

    Không rõ tính háo danh của dân Việt ta có từ bao giờ nhưng có một nguyên nhân (được nhiều nhà nghiên cứu xã hội đồng tình) làm cho người Việt chúng ta thích “danh” hơn các dân tộc khác. Đó là do xã hội Việt Nam xưa kia đơn điệu và nghèo nàn quá nên có quá ít sự lựa chọn cho mỗi cá nhân trong việc tìm lấy cho mình một hướng đi phù hợp. Thay vào đó, mọi người đều có xu thế tranh giành nhau những thứ hữu hạn và ai cũng muốn mình có được phần nhiều hơn để có thể vươn lên và đứng trên người khác.

    Có lẽ ít có dân tộc nào coi trọng chữ “danh” hơn người Việt. Nhu cầu được chứng tỏ bản thân, mặc dù chỉ là trong một cộng đồng nhỏ, hẹp khiến nhiều người sẵn sàng làm mọi thứ để được biết tới hay “nở mày, nở mặt” với thiên hạ.

    Đặc biệt không có nơi đâu người ta bảo vệ “bộ mặt” cẩn thận như tại nước ta, nơi phần đông dân chúng luôn giữ vững nguyên tắc “mất gì cũng được chứ nhất quyết không chịu mất mặt”- một thứ vốn dĩ rất khó hình dung được một cách cụ thể và khó có thể lượng hóa!

    Trong vụ việc om sòm giữa Bộ GTVT và ông Trần Đình Bá, ông Bá hẳn biết và hiểu rõ mình không phải là TS và chắc ông này cũng không đến mức ngây ngô để không hiểu được là Bộ GTVT không có chức năng cấp cho ông cái bằng TS. Tuy nhiên ông vẫn tìm mọi cách chứng minh mình là TS rồi nhưng chỉ là chưa cấp bằng mà thôi.

    Có không ít người trong xã hội ta khoái được gọi nhầm hoặc đánh máy nhầm cái học vị như ông Bá bởi vì người ta không dễ gì từ bỏ cái danh mà mình đang có kể cả khi biết rất rõ nó ảo đến mức nào!

    Với phần đông dân chúng ngày trước, con đường để một ai đó có thể đổi đời và thành danh hầu như chỉ có một, đó là dùi mài kinh sử để thi đỗ làm quan. Cũng bởi vì trong danh có lợi nên công cuộc lều chõng ngày xưa đó không đơn thuần chỉ là ý chí của mỗi cá nhân, mà nhiều lúc nó gánh trên mình sự kỳ vọng của cả dòng tộc, làng xã hay thậm chí là cả châu, phủ.

    Nếu chẳng may, người được cả cộng đồng kỳ vọng đó không làm nên chuyện để được vinh danh trở về, thì rất có thể đang là một đứa con yêu, kẻ thất bại này nhanh chóng trở thành tội đồ, vì không thể làm rạng danh quê cha đất tổ.

    Do không có nhiều lựa chọn để phân định cao thấp về kiến thức, tài năng, người Việt thời trước thường dùng thước đo thứ bậc trong các kỳ thi ở mỗi cấp (Hương, Hội, Đình) như là tham chiếu cho việc so sánh người này với người kia. Mặc dù những gì họ thể hiện chỉ phản ánh một mảng năng lực của mỗi người mà thôi.

    Ông có bằng cấp chuyên môn không?

    Cách tiếp cận này đã dẫn đến một hệ quả xã hội đó là “bạn cứ nói thế nào kệ bạn, còn tôi vẫn sẽ không tin nếu bạn không chìa ra cho tôi xem bạn có bằng cấp gì và tốt nghiệp ở đâu”! Đây có thể được xem là điển hình của việc chuộng bằng cấp ở nước ta và vẫn còn diễn ra đến tận ngày nay.

    Một khi bằng cấp được sử dụng như là một thước đo của kiến thức, năng lực và kể cả độ tin cậy của một cá nhân, sẽ rất khó cho ai đó có thể thuyết minh, phản biện hay thực hiện những ý tưởng hoặc đề án khoa học mà không có bằng cấp chuyên môn phù hợp.

    Như vậy từ sự háo danh, người Việt đã dần dần coi bằng cấp như một chỉ số quan trọng và tất yếu để đảm bảo sự thành công. Với những ai có đam mê tìm tòi, sáng tạo và tâm huyết thử nghiệm những cái mới, cửa ải đầu tiên mà họ phải vượt qua để có thể biến những ý tưởng thành hiện thực đó là câu hỏi của cơ quan quản lý “ông/bà có bằng cấp chuyên môn không”?

    Những gì xảy ra với ông Hòa ở Thái Bình hay “Đại tướng Hai lúa” ở Tây Ninh và nhiều người dân đam mê khoa học trên khắp đất nước trong những năm qua đã phần nào chứng minh nhận định trên.

    Tính háo danh cũng góp phần tạo nên nhiều nghịch lý trong xã hội Việt Nam và khiến cho “nhân sinh quan của” nhiều người đôi lúc bị lệch chuẩn. Ít có nơi nào người ta hay sử dụng cụm từ “trọc phú” – chỉ những người giàu nhưng học hành ít, như trong các làng, xã Việt Nam.

    Tính háo danh lớn đến nỗi, mặc dù giàu có hơn nhiều ngươi khác, nhưng nhiều người bị coi là trọc phú này vẫn bị chi phối bởi tâm lý “mình tuy có giàu mà chưa có sang” vì chưa có được một cái “danh” cho nó tương xứng. Trong tầng lớp khá giả đó, những ai không có khả năng học tập để có được tấm bằng, họ sẽ chọn con đường dễ dàng nhưng tốn kém hơn – mua danh.

    Cũng chỉ vì háo danh nên nhiều người cứ hay cười trừ mỗi khi có ai gọi họ là TS nhưng cũng không sẵn sàng lên tiếng để nói với mọi người rằng: Xin lỗi, tôi không phải là Tiến sĩ!

    Trở lại câu chuyện ông Trần Đình Bá, khi quyết định xác minh tấm bằng TS của ông Bá, Bộ GTVT đã tự đưa mình vào hoàn cảnh khó khi sử dụng hình thức vốn bị coi là “chơi xấu” (sai nguyên tắc) trong các cuộc tranh biện – hạ thấp danh dự của đối thủ.

    Cho dù một lãnh đạo của bộ này đã lên tiếng chính thức xin lỗi, nhưng việc này cho thấy họ quá “nóng vội” trong xử lý khủng khoảng truyền thông.

    Nhìn cảnh các cháu học sinh vừa “tốt nghiệp đại học chữ to” cùng ước muốn (từ cha mẹ) cùng chụp ảnh khoe thành tích học tập với các anh chị cấp 3 ở Quốc Tử Giám, mới thấy tâm lý “sính” khoe sự học hành của dân ta thế nào.

    Có thể thấy rất lâu, lâu lắm nữa, xã hội chúng ta mới sống đúng theo những gì mình có. Khi đó, mỗi công dân sẽ tự hào vì những gì mình làm được và cống hiến, thay vì các giá trị ảo do bằng cấp tạo nên.

    Khi đó sẽ có nhiều người ngẩng cao đầu cùng câu nói: Xin lỗi, tôi không phải là tiến sĩ!

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Theo tôi thiển nghĩ, tính háo danh có nguồn gốc từ Khổng giáo.
    Hoàn toàn không liên quan gì đến kinh tế nông nghiệp lúa nước. Cả vùng ĐNÁ mênh mông trải từ lưu vực sông Dương tử bên Tàu xuống tận miền hải đảo cận xích đạo phương Nam, được xem là cái nôi của văn minh lúa nước. Nhưng ngoài Tàu và Việt, không thấy các nhà nghiên cứu nhân văn bảo rằng các dân tộc ĐNÁ khác, có thói háo danh, dù họ là dân lúa nước chính gốc.

    1) Tương truyền, Lão tử đã phê phán cái học Khổng tử vốn đề cao địa vị của quân tử, khiến lòng dân sinh háo danh, sinh tranh danh làm mầm loạn lạc . Lão học chủ trương "vô vi nhi vô bất vi", tức "không làm mà không gì không làm". Ấy là ông muốn nhấn rằng, hãy sống thuận theo tự nhiên, sinh hoạt tự nhiên mà không đặt nặng thành vấn đề giá trị của mọi việc. Không đề cao giá trị việc làm, thì không phân biệt việc sang hèn, người sang hèn. Nhờ "vô vi" mà khái niệm danh giá không phát sinh, lòng dân vô tranh mà thiên hạ thái bình. Bản thân Lão tử về sau mai danh ẩn tích biệt tăm không dấu vết.

    Đại lược là như thế. Nhưng tại sao Lão tử lại đưa ra học thuyết đó?

    Chúng ta cần nhớ, Lão tử vốn người nước Sở, là một quốc gia nằm cuối dòng Dương tử thuộc địa bàn cư dân lúa nước Bách Việt. Chính dân lúa nước Bách Việt ít tinh thần tranh danh đoạt lợi, và có những tư tưởng thoát tục cao khiết, mà Khuất Nguyên cùng tác phẩm Ly Tao thanh thoát của ông cùng với "Sở từ" (của dân Sở) là minh chứng đến nay trong văn học Trung quốc.

    Trái lại, Khổng tử người nước Lỗ ở miền Bắc đất khô trồng kê không thuộc văn hóa lúa nước. Khổng học trọng danh dự, đề ra thuyết "chính danh định phận" là lý tưởng lập thân của người quân tử. Quân tử lập thân bằng cách 8 bước tu tề trị bình, lấy đỗ đạt cân đai áo mão làm danh dự, lấy phụng sự quân vương làm sự nghiệp. Bản thân Khổng tử cũng chu du các nước, mong được các vua chư hầu cho làm quan , trước khi về dạy học.

    - Ở VN, nhà Nho Nguyễn công Trứ từng viết:
    "Đã mang tiếng ở trong trời đất - Phải có DANH gì với núi sông!"

    - Nhà Nho trào lộng Tú Xương cũng viết:
    "Nhập thế cục bất khả vô văn tự
    Chẳng hay ho cũng húng hắng lấy một vài (!)
    Huống THÂN DANH cũng đã đỗ tú tài....
    Ngày tết cũng phải một hai câu đối."

    Có thể nói không sợ sai, cái DANH luôn ám ảnh nhà Nho. Nếu hiển đạt là một danh dự, thì lúc hàn vi hoặc khi thất thế cũng ráng giữ tiếng thơm, gọi là PHƯƠNG DANH, "quân tử lưu phương, tiểu nhân lưu xú" (cọp chết để da, người ta chết để tiếng)
    "Tước hữu ngũ SĨ cư kỳ liệt - Dân hữu tứ SĨ vị chi tiên" (NCT)
    Địa vị kẻ sĩ được đặc biệt quan tâm. Áo gấm về làng là vinh quang tột bậc. "Rồng mây khi gặp hội ưa duyên, Đem quách cả sở tồn làm sở dụng", làm cho "vua biết mặt chúa biết tên" .v.v...

    2) Tại VN, miền Bắc là đất cũ lâu đời, chịu ngàn năm Bắc thuộc cùng Nho học, tiếp đến thời độc lập quân chủ từ thế kỷ 10 đến cuối Hậu Lê thì trung tâm quân chủ mới dời vô Huế. Óc háo danh do đó còn sâu đậm nhất so với Trung , Nam. Nhìn chung, người Bắc nhiều nhà Nho hơn trong Nam, nếp Nho phong thời tiền CS sâu rễ bền gốc hơn, nên bảo thủ hơn và ... háo danh hơn.
    Thời tiền chiến trong t/k 20, Hoàng Đạo viết "Mười điều tâm niệm" trên đất Bắc, trong đó kêu gọi thanh niên "cần sự nghiệp không cần công danh".
    Tại sao ông hô hào như vậy? Dĩ nhiên do TLVĐ nhìn rõ thói chuộng công danh, lắm lúc thế thời chỉ có bã hư danh cũng cắm cổ mưu cầu. Quan niệm ăn mày chữ nghĩa cốt để cầu công danh hầu như tràn ngập tâm hồn. Thời Nguyễn suy, phẩm tước triều đình được bán, người có tiền chen lấn mua cái bát phẩm cửu phẩm. Trong làng, mê chức lý trưởng, trương tuần. Ra đình, mâm trên chiếu rộng, miếng giữa làng bằng sàng xó bếp. Trắng da dài tóc, nắng không tới mặt mưa không tới đầu, thích được xưng ông xưng cô, ưa gọi người là con sen thằng xe ... . Làm được mấy bài vè sáo mòn ước lệ, thích được gọi là nhà thơ....đều là biểu hiện của thói háo danh lắm khi không biết ngượng.
    Nếp văn hóa di sản này đến thời CS ngày nay, cũng còn y đó.

    Càng xuôi vào Nam, văn hóa Khổng Đông Bắc Á chuộng danh càng phai dần, văn hóa ĐNÁ càng rõ nét. Ở miền Nam, do là đất mới mở, tiên hiền vốn đa số tầng lớp thứ dân xưa vì nhiều hoàn cảnh mà từ miền ngũ Quảng di vào. Thêm người Tàu phương xa giạt vào lưu cư, thảy đều ít nhiều gan dạ liều lĩnh và có óc thực tiễn. Nơi đây văn hóa chuộng danh không có điều kiện triển nở. Chưa bao lâu, người Pháp sang mang theo văn hóa thực tiễn của nền Tây học. Dân Nam ít chịu ảnh hưởng Khổng Nho nhất trong 3 miền, lại ảnh hưởng óc thực học Âu Mỹ, không chuộng danh hão phù phiếm bằng sự nghiệp cụ thể.
    Người Nam biết làm báo sớm nhất nước, nhưng lại ít "nhà thơ" ngâm vịnh, ngôn ngữ mộc mạc ít "lý luận" văn hoa kiêu kỳ hình thức.
    Người Nam, do vậy phong cách xuề xòa, ít hách dịch quan liêu cũng từ chỗ lòng họ ít coi trọng công danh địa vị ..... Giàu có không khoe dáng, làm to không kiêu căng, ít kỳ thị sang hèn giai cấp. Ít kỳ thị giai cấp, nên miền Nam không đấu tố địa chủ trong khi địa chủ nhiều ruộng gấp ngàn lần ngoài Bắc (có địa chủ sở hữu hàng ngàn hecta) ....v.v.........

    Tính thực tiễn trọng thực hơn danh, có lẽ là yếu tố làm nên "đại tướng quân" không cần có danh tiến sĩ!

    VN2006A viết:
    PS.:Háo danh là bản chất của văn hoá nông nghiệp, lúa nước: tự cung, tự cấp. 1 năm 2 vụ mùa, còn lại chỉ câu cá, thả diều, nên thích có danh kêu để phân biệt với đồng bọn. Chẳng riêng gì bọn trong nước. Cộng đồng NVHN cũng được nhận xét là mật độ các ông chủ tịch, bà hội đồng so với đầu người cao nhất thế giới (so với các sắc dân khác)

    Đọc lời còm của đ/c, thấy chí lý, nhưng đọc cái đoạn PS này thì không khác gì đang kéo thuốc lào nữa đường gẫy cánh, sặc.
    Thật chí lý khi đ/c biết "phải cắt cái đuôi XHCN đi" nhưng cà cuống đít bị sát ớt, nên đ/c lại đánh đồng chuyện này với các ông bà NVHH, nhớ nhé , các ông các bà NVHH đek phải mua bằng bán cấp, đek phải hôn đít thằng cáy nào để kiếm phân (fund), đek ngữa tay xin xỏ thằng nhà nước đồng nào, không ăn bám nhân dân, đek phải phản biện và phải đá giò lái để được gọi là DLV cờ đỏ hồng, hay đek phải là các đại biểu quốc hội mỗi năm phải phát biểu và phải có hiệu ứng tâm thần mới ấn tượng.

    Muốn bằng cấp đúng với giá trị của nó, thì kinh tế thị trường phải cắt cái đuôi XHCN đi!!!

    Tất cả sẽ tự điều chỉnh theo quy luật tự nhiên. Khi có thể thành công trong cuộc sống, không cần đến đồ "trang sức" thì tự nhiên ý nghĩa của nó giảm đi. Tại VN quá nhiều bọn ăn bám, không cần thực chất, nên mới sinh ra tình trạng dùng bằng cấp như đồ trang sức. 1 kiểu trưởng giả học làm sang.

    Thử tưởng tượng trong 1 nền kinh tế thị trường đúng nghĩa, gặp 1 đ/c tiến sỹ (loại bằng không biết từ đâu ra) thất nghiệp dài dài, nói: quý hoá quá, bác là tiến sỹ ngành nào vậy? Có khi đ/c ấy trả lời: không, tôi không phải là tiến sỹ ấy chứ?!

    PS.:Háo danh là bản chất của văn hoá nông nghiệp, lúa nước: tự cung, tự cấp. 1 năm 2 vụ mùa, còn lại chỉ câu cá, thả diều, nên thích có danh kêu để phân biệt với đồng bọn.
    Chẳng riêng gì bọn trong nước. Cộng đồng NVHN cũng được nhận xét là mật độ các ông chủ tịch, bà hội đồng so với đầu người cao nhất thế giới (so với các sắc dân khác)

    Tôi đọc đâu đó một bài của nhà khoa học Xô Viết phê phán âm mưu " tầm thường hóa giới quý tộc Nga " của Sitarin đó là cho mở ồ ạt các trường đạ học và cấp bằng cấp đại, học, phong học vị, học hàm vô tội vạ cho các đảng viên CS và công nhân xô Viết . Bằng cách này chỉ trong một thời giân ngắn, Xã hội Xô viết đẫ tràn ngập TS. GS. cử nhân. Và khi đó giai cấp quý tộc có học cũ bỗng dưng bị hòa tan vào đội ngũ trí thức XHCN Xô Viết.Đos gọi là thủ đoạn giết chết giới tinh hoa của Nga Hoàng.
    Không khó để thấy rằng xã hội VN sau khi rơi vào tay Đảng CS cũng như vậy. Từ thân phận, con sen con ở trong các gia đình địa chủ. tư sản, vì tham gia cách mạng và vào Đảng được đảng giáo dục, nhồi nhét để có cái danh TS, GS, những con sen con ở và sau này là con cháu chúng cũng khoác lên mình cái danh hão đó để ăn trên ngồi chốc thiên hạ. Kế hoạch của HN đào tạo 20.000 Ts là nằm trong âm mưu thủ đoạn " tầm thường hóa trí thức" theo kiểu " tao không cao bằng mày thì tao kê ghế lên cho bằng mày , thế là bằng nhau" . Cái khẩu hiệu " Trí.phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rẽ" chẳng phaỉ là thủ đoạn đó ư?.Đến nây thì công cuộc trí thức hóa toàn dân về cơ bản đã hoàn thành, thế nên mới có 174.000 cử nhân, thạc sỹ, Ts thất nghiệp. Cứ ra các bến tàu , bến xe , gặp các anh xe ôm thế nào trong 10 anh cũng có 5 anh là cử nhân hoặc cao học. Tin mới nhất là ngày hôm qua CA Hà Nội bắt vụ mua bán dâm mà kẻ bán là 2 nữ sinh viên cao học từ quê ra không đủ tiền đóng học đành đi bán dâm lấy tiền.
    Cũng nói thêm một chút là ngầy 4/6/2015 vừa qua gần 600 trí thức nghỉ hưu của cái Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam đã tụ tập nhau đại hội thành công dưói sự chứng kiến ( thực ra là giám sát) của Tổng Trọng. Thành công nghĩa là 600 ông già bầ lão tuổi ghấp ghé 70 cùng nhau tiêu gần 2 tỷ đồng ngân sách đẻ giơ tay bầu lại đúng 3 ông đương chức tiếp tục lãnh đạo giới trí thức KH&CN Việt Nam là GS.VS Đặng Vũ MInh ( Con BS. Đặng Vũ Hỷ), TS. Phạm Văn Tân Và TS. Phan Tùng Mậu. Độc giả nào chưa biết các ông này và cái cơ quan này thì xin vào Google đánh từ Trực Ngôn thì sẽ có 12 bài ca cái cơ quan xôi thịt này.
    Đó trí thức CS Việt Nam đó các ngài ạ! TỞM.

    Tất cả đều là một trình tự và toàn xã hội nó phải thế.

    Xa xưa, chỉ thời Pháp thuộc, khi cả nước nam trung bắc một nhà, người dân Việt không có gì khác biệt lắm giữa ba miền, sự học được coi trọng, từ nông thôn đế thành thị, học để có kiến thức, học để có một cái nghề vững chắc, học để có thể đổi đời, nhưng sự học không phải vì bằng cấp và bằng cấp được trao tặng cho người xứng đáng.

    Nhưng từ thời, anh bồi tàu trở thành nhà cách mạng tha phương xứ người tìm con đường giải phóng độc lập dân tộc, không một ngày đến trường nhưng thông thạo 29 ngôn ngữ, cái mầm mống láo, dối trá nó đã nẩy mầm từ đây.

    Từ ngày thống nhất lại đất nước, toàn thành phần trong rừng ra lãnh đạo, giầu thì có giầu nhưng cái bản mặt không che được cái dốt, phú quí thêm lễ nghĩa, nên phải dùng một anh có học thật phát động phong trào, trong 3 năm đào tạo 20000 thạc sĩ, tiến sĩ, đây là cách hợp thức hoá bằng cấp tiến sĩ cho anh y tá, tiến sĩ cho anh công chánh, hay nhà tư tưởng lớn của thời đại vv....

    Trình tự xã hội nó phải thế, chỉ có ngày cha già dân tộc được đem ra phán sét, hình tượng người hết còn được trên bệ thờ ngang hàng với Phật, ngày ấy, bằng cấp lại trở lại đúng vị trí của nó, bằng thật người thật và bằng không phải để làm quan nhưng có bằng để làm việc.