Ngô Giang - Khảo sát về chủ nghĩa xã hội kiểu Thụy Điển (P1)

  • Bởi Admin
    03/06/2015
    6 phản hồi

    Ngô Giang (Trung Quốc)
    Nguyễn Hải Hoành biên dịch và chú thích

    Lời giới thiệu của dịch giả: Từ lâu nhiều người chúng ta đã quan tâm tới vấn đề Việt Nam nên theo mô hình CNXH nào? Năm 1981 cụ Phạm Văn Đồng từng nói: “Sau khi suy nghĩ kỹ, tôi thấy ta không theo được Mô hình Xô Viết” (xem “Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm”, tr. 923, Trần Quốc Vượng). Lại nghe nói ông Vũ Oanh (nguyên UV BCT) có đề nghị nghiên cứu về mô hình CNXH Thụy Điển. Người Trung Quốc đã nghiên cứu nhiều, từ năm 2002 họ bắt đầu cho công khai đăng một loạt bài về mô hình này. Đảng CSTQ từ những năm 1980 đã cử các đoàn cán bộ sang Thụy Điển khảo sát và do đó có bài giới thiệu sau đây. Sau đó năm 2008 Chủ tịch Hồ Cẩm Đào chính thức thăm Thụy Điển. Hồi đó có dư luận Trung Quốc sẽ theo mô hình CNXH Thụy Điển. Nhưng cuối cùng thì phe phản đối đã thắng với lý do chủ yếu là làm như thế thì ĐCSTQ sẽ mất quyền lãnh đạo đất nước – đây là quyền lợi sống chết không thể để mất. Tuy nhiên, dù mô hình CNXH Thụy Điển vì thế vẫn là vấn đề “nhạy cảm”, nhưng là một thực tế cần được bàn đến vì lợi ích của dân tộc.

    Vương quốc Thụy Điển nằm ở đông nam bán đảo Scandinavia thuộc Bắc Âu. Vào năm 1889, khi thành lập Đảng Xã hội Dân chủ Thụy Điển,[1] vương quốc này còn là một trong những nước lạc hậu nhất châu Âu, người ta gọi là nước của cướp biển, phần lớn dân vốn là cướp biển và tội phạm bị các nước Tây Âu đày đến đây cùng các hậu duệ của họ. Kinh tế Thụy Điển ngày ấy còn lạc hậu rất nhiều so với nước Nga hồi Cách mạng Tháng Mười năm 1917. Từ năm 1920, khi Đảng Xã hội Dân chủ (XHDC) Thụy Điển bắt đầu nắm chính quyền cho tới nay, tuy có một số thời kỳ gián đoạn, nhưng Đảng này vẫn nắm quyền lãnh đạo đất nước lâu hơn cả. Trong thời gian đó (từ thập kỷ 20 đến thập kỷ 80, là thời gian được tác giả khảo sát), Đảng XHDC đã xây dựng Thụy Điển từ một nước lạc hậu trở thành một nước kinh tế phát triển,[2] đứng thứ hai trên thế giới về GDP đầu người (sau Thụy Sĩ); và thứ nhất thế giới về phúc lợi xã hội, chứng tỏ sự xã hội hoá phân phối đã đạt trình độ rất cao.

    Trên đây là tóm tắt nội dung chính của bài “Một số điểm chính trong bản Báo cáo khảo sát đến muộn” (sau đây viết tắt là Báo cáo Khảo sát). Tác giả báo cáo này là đồng chí Dương Khải Tiên, năm 1985 và 1988 từng hai lần đến Thụy Điển tiến hành khảo sát. Thu hoạch tổng quát của tác giả là: “Đối với chủ nghĩa xã hội (CNXH) kiểu Thụy Điển, nhiều năm qua, chúng ta chẳng những luôn luôn cho là đối lập với quan điểm chính thống, giữ thái độ phê phán nghiêm khắc, mà thậm chí cho tới ngày nay, trong suy nghĩ của mọi người nói chung vẫn khẳng định thì ít mà phủ định thì nhiều. Thực ra, như vậy là không công bằng. Nếu phân tích một cách thực sự cầu thị, ta sẽ không khó phát hiện thấy: ngoài những vấn đề chính trị còn tranh cãi, tạm thời chưa thể đưa ra một kết luận đa số chúng ta có thể đồng ý, thì thành tích của Thụy Điển về kinh tế là rất lớn, xét về những gì mà CNXH của Mác [Karl Marx] yêu cầu phải có, dù là về mặt thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống của nhân dân, hoặc là về mặt thực hiện công bằng xã hội, phân phối công bằng, bảo đảm quyền lợi nên có của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.”

    Bài Báo cáo Khảo sát này được đăng tải trên một tạp chí có số lượng phát hành nhỏ, và đầu đề ghi rõ là “đến muộn” (khảo sát vào thập kỷ 80 thế kỷ XX mà đến tháng 3/2002 mới được sửa chữa cho đăng). Điều đó nói lên, cho tới nay, vấn đề tiến lên mô hình CNXH kiểu Thụy Điển vẫn là một đề tài nhạy cảm. Theo tôi, Báo cáo Khảo sát đã đăng báo rồi, hơn nữa ngày nay xem ra vấn đề này thực sự không cần phải né tránh; thế thì ta hoàn toàn có thể thảo luận và bình phẩm bài báo đó một cách công bằng ngay thẳng, thực sự cầu thị, nhất là về mặt lý luận.

    Bối cảnh lịch sử và phác thảo lý luận về hai mô hình tiến lên chủ nghĩa xã hội

    Về lý luận, trước hết hãy nên bắt đầu nói về tình hình từ cách mạng Pháp 1848 – 1850 cho tới sau Công xã Paris. Như vậy, chúng ta sẽ phải ra ngoài đề một chút, sau đó mới trở lại vấn đề mô hình CNXH Thụy Điển.

    Trong một thời gian rất dài sau Cách mạng Tháng Mười Nga, các nhà lý luận Liên Xô bao giờ cũng đề cao quá mức Công xã Paris, coi nó là hình mẫu cách mạng XHCN của giai cấp vô sản. Thực ra không phải là như vậy. Trong một thời gian sau năm 1848, đúng là Mác và Ăng-ghen [Friedrich Engels] từng cho rằng đã xuất hiện tình thế cách mạng trong các nước phương Tây chủ yếu, do đó hai vị đã tích cực hoạt động vì sự nghiệp cách mạng này. Nhưng qua thất bại của cách mạng Pháp 1848-1850 và sau thực tế là các nước tư bản mấy lần bình yên vượt qua khủng hoảng kinh tế, sức sản xuất vẫn được phát triển khá, Mác và Ăng-ghen bắt đầu cảm thấy sự việc không như những gì hai vị đã dự kiến ban đầu, thời cơ cách mạng vẫn còn chưa chín muồi.

    Năm 1850, khi tổng kết kinh nghiệm cách mạng Pháp, Mác đã chỉ rõ: “Khi sức sản xuất xã hội của giai cấp tư sản đang phát triển mạnh với tốc độ có thể đạt được trong toàn bộ phạm vi quan hệ của giai cấp tư sản, thì chưa thể nói gì đến một cuộc cách mạng thực sự.” Trong cuộc chiến tranh Pháp-Phổ năm 1871, giai cấp công nhân Paris nhân cơ hội đánh trả bọn xâm lược và chống hành vi đầu hàng của giai cấp tư sản, đã vùng lên khởi nghĩa và áp dụng các biện pháp có tính chất XHCN (hai phái lãnh đạo chính cuộc khởi nghĩa này là phái Lat-xan và phái Pơ-ru-đông). [3] Khi đó Mác không tán thành cuộc khởi nghĩa này, cho rằng thời cơ chưa chín muồi. Nhưng sau khi công nhân Paris phát động khởi nghĩa rồi thì Mác không dội gáo nước lạnh lên họ, mà nhiệt tình ủng hộ và ca ngợi tinh thần dũng cảm của thợ thuyền Pháp, cho rằng Công xã Paris của giai cấp công nhân Pháp là người tiên phong vẻ vang của xã hội mới, sẽ mãi mãi được kính trọng. Đồng thời, Mác còn tổng kết sâu sắc các bài học kinh nghiệm của cuộc cách mạng công nhân đầu tiên này, đề ra không ít ý kiến chỉ đạo có ý nghĩa quan trọng.

    Cần vạch rõ là, khi tổng kết kinh nghiệm Công xã Paris, Mác từng nói một câu: “Không phải là giai cấp công nhân muốn thực hiện một lý tưởng gì, mà chỉ muốn giải phóng những nhân tố xã hội mới được ươm trồng trong chính cái xã hội của giai cấp tư sản đang sụp đổ.” Điều này cũng có nghĩa là thời cơ cách mạng của giai cấp công nhân đã chín muồi chưa, hoặc có thể thực hiện được xã hội XHCN hay không, vấn đề này hoàn toàn được quyết định bởi các nhân tố xã hội mới được uơm trồng trong xã hội tư sản (chủ yếu là sự phát triển cao của sức sản xuất, dân chủ hoá nền chính trị xã hội và toàn bộ nền văn minh đạt tới trình độ cần thiết).

    Sau Công xã Paris, Mác tập trung sức lực chủ yếu vào việc hoàn thành bộ “Tư bản” và tiếp tục nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội loài người. Phần lớn nhiệm vụ chỉ đạo thực tế phong trào cách mạng là do Ăng-ghen đảm nhiệm. Năm 1883, Mác từ trần. Trách nhiệm của Ăng-ghen càng nặng hơn. Không nghi ngờ gì nữa, “Chủ nghĩa Mác”, mà cho tới nay ta vẫn nói, là do Mác và Ăng-ghen cùng sáng lập nên. Sau Cách mạng Tháng Muời và sau khi Lê-nin qua đời, chúng ta lại tiếp thu từ Liên Xô cách nói “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin”. Cách nói này thực tế làm mờ nhạt vai trò của Ăng-ghen (tuy không phủ định Ăng-ghen). Tôi cho rằng, nếu Lê-nin còn sống cũng không thể tiếp thu cách nói ấy. Tác giả Báo cáo Khảo sát cho chúng ta biết, tác giả đã nghe thấy cách nói “Chủ nghĩa Mác Ăng-ghen” từ chính miệng những người của Đảng XHDC Thụy Điển. Tôi cho rằng cách nói đó là phù hợp với sự thật lịch sử. Không bao giờ được tách rời Mác và Ăng-ghen kia mà! “Chủ nghĩa Lê-nin” là một chuyện khác, vấn đề này ta sẽ bàn sau. Điều cần nói ở đây là, sau khi Mác qua đời, Ăng-ghen đã quán triệt chủ trương cách mạng của hai người vào phong trào công nhân quốc tế như thế nào. Đây là trang sử rực rỡ nhất trong cuộc đời Ăng-ghen. Trong những năm cuối đời, Ăng-ghen luôn gắn mình với số phận của phong trào xã hội dân chủ quốc tế.

    Như bạn tôi là ông Từ Lâm viết trong cuốn sách ông chủ biên Ăng-ghen và thời đại hiện nay, sau khi Công xã Paris 1871 thất bại, phong trào công nhân quốc tế từng có thời gian rơi vào thoái trào, tới cuối thập kỷ 1870, đầu thập kỷ 1880 phong trào này mới bắt đầu hoạt động hăng hái, chủ nghĩa Mác được truyền bá rộng rãi. Trên cơ sở đó, nhiều nước Âu Mỹ như Đan-mạch, Bỉ, Tây-ban-nha, Hà-lan, Ý, Na-uy, Áo, Thụy Điển, Hung-ga-ri, Đức, Pháp, Anh, Mỹ v.v… lần lượt thành lập các chính đảng công nhân. Lúc đó, các đảng này phần lớn lấy tên là đảng Xã hội dân chủ, đảng Xã hội hoặc đảng Công nhân (Công đảng), mà không lấy tên là đảng Cộng sản. Điều này có liên quan với quan điểm của Ăng-ghen. Trong một bức thư gửi cho bạn vào tháng 2.1894, Ăng-ghen viết: “Tôi cho rằng từ Chủ nghĩa Cộng sản hiện nay không thích hợp sử dụng phổ biến. Tốt nhất là lưu nó lại cho tới khi nào cần phải có sự biểu đạt một cách chính xác hơn hãy dùng. Cho dù tới lúc đó cũng cần phải chú thích thêm, vì trên thực tế, đã 30 năm nay không dùng từ này.”

    Vấn đề trên có một chút lai lịch, nay nhắc lại là không thừa. Tháng 7/1898, dưới sự đề xướng của Ăng-ghen, đảng XHDC Đức và đảng Công nhân Pháp đã triệu tập các đảng công nhân của 22 nước tham gia đại hội đại biểu những người XHCN quốc tế. Đó chính là tổ chức về sau được người ta gọi là “Quốc tế thứ II“. Thật ra tổ chức này rất lỏng lẻo, không lập ra bất cứ cơ quan lãnh đạo nào (trước đó, Hiệp hội Công nhân quốc tế về sau được gọi là “Quốc tế thứ I” có lập một Uỷ ban chung), ngay cả quy chế họp định kỳ cũng không có. Các đảng dự đại hội xác nhận lấy học thuyết Mác Ăng-ghen làm cơ sở tư tưởng, nhưng tiến hành hoạt động một cách độc lập tự chủ.

    Nói đến tư tưởng chỉ đạo ngày ấy, không thể không nhắc tới bài viết năm 1894 của Ăng-ghen (một năm trước ngày qua đời) “Lời nói đầu cuốn Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ năm 1848 đến năm 1850 của Các Mác”. Khi đề cập tới các sai lầm của Mác và Ăng-ghen trong dự kiến tình hình cách mạng từ 1848 trở đi, bài này viết: “Lịch sử cho thấy chúng tôi cũng từng sai lầm, để lộ ra cách nhìn của chúng tôi lúc đó chỉ là ảo tưởng.” “Lịch sử thể hiện rõ là tình trạng phát triển kinh tế ở đại lục châu Âu ngày ấy còn xa mới chín muồi tới trình độ có thể quét sạch nền sản xuất tư bản”, chủ nghĩa tư bản “còn có khả năng phát triển rất lớn”. Căn cứ vào điều kiện lúc đó, đặc biệt là kinh nghiệm mới nhất của đảng XHDC Đức, Ăng-ghen đã suy xét lại sách lược đấu tranh của giai cấp công nhân, nhấn mạnh đề ra chủ trương giai cấp công nhân nên lấy việc sử dụng quyền bỏ phiếu bầu cử làm “vũ khí mới – một trong những thứ vũ khí sắc bén nhất”, và nói rõ: “Từ lâu, Tuyên ngôn của đảng Cộng sản từng tuyên bố, giành lấy quyền bỏ phiếu, giành dân chủ, là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của giai cấp vô sản chiến đấu.” Đồng thời tuyên bố các đồng chí chúng ta tuyệt đối không vì thế mà “vứt bỏ quyền làm cách mạng (Ang-ghen nói rõ: dĩ nhiên, điều đó bao gồm quyền làm cách mạng bạo lực — chú thích của Ngô Giang). Cần biết rằng, quyền làm cách mạng bao giờ cũng là “quyền lợi lịch sử” chân chính duy nhất.”

    Sau khi Ăng-ghen qua đời, Lip-nếch,[4] một nhà lãnh đạo đảng XHDC Đức đánh giá Ăng-ghen như sau: “Người vừa là người chỉ đường, lại là người dẫn đường, vừa là lãnh tụ, vừa là chiến sĩ. Ở Người thể hiện sự kết hợp lý luận với thực tiễn.” Lịch sử chứng minh sự đánh giá này là hoàn toàn công bằng.

    Mấy chục năm trước và sau ngày Ăng-ghen qua đời, thế giới tư bản ở vào thời kỳ phát triển bình ổn. Phần lớn các đảng công nhân Âu Mỹ đều hoạt động công khai, có thể ra sức lợi dụng vũ khí bỏ phiếu bầu cử. Bước sang thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản lại rơi vào cuộc khủng hoảng mới, dẫn đến Thế chiến I. Cuộc chiến tranh này làm cho Quốc tế II bị chia rẽ mạnh – xuất hiện sự đối lập của hai phái, gọi là phái “bảo vệ tổ quốc” và phái “biến chiến tranh đế quốc thành chiến tranh cách mạng”. Lê-nin đề xuất chủ trương của phái thứ hai. Khi đó, ngoài nước Nga dưới sự lãnh đạo của Lê-nin đã tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Mười ra, các nước (hoặc vùng) Phần-lan, Đức, Áo, Hung, Italy cũng lần lượt bùng nổ cách mạng và giành được thắng lợi tạm thời, cục bộ, nhưng cuối cùng đều thất bại. Duy nhất chỉ có cách mạng XHCN Nga thành công. Do đó sinh ra tên gọi “chủ nghĩa Lê-nin” (việc này xảy ra sau khi Lê-nin qua đời), và có sự đối lập giữa “Quốc tế II” và Quốc tế III”. Từ đó có hai phái là phái “chủ nghĩa Lê-nin” và phái “chủ nghĩa xã hội dân chủ”. Kèm theo, xuất hiện hai loại mô hình tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Ở đây, ta không bàn về sự đấu tranh giữa hai phái trên (trong đó, chống chủ nghĩa xét lại là một nội dung chính), cũng không bàn về thành tích hoặc thất bại và các bài học kinh nghiêm của CNXH ở Liên xô và các nước XHCN khác cùng mô hình. Chúng tôi chỉ muốn nói khái quát về phong trào xã hội dân chủ ở Tây Âu, và cũng chỉ nói rất vắn tắt (vì ở đây cũng không bàn riêng vấn đề này, vấn đề đó cần một bài viết khác). Sau Thế chiến I, năm 1919, thành lập “Quốc tế III” (tức Quốc tế Cộng sản); năm 1923, “Quốc tế II” khôi phục hoạt động, và đổi tên là “Quốc tế đảng Xã hội”.[5] Từ đó trở đi, trong phong trào công nhân Tây Âu hình thành sự đối lập giữa hai thế lực nói trên (tức giữa một bên là các đảng Cộng sản với một bên là các đảng XHDC và các đảng Xã hội), nhưng ưu thế và ảnh hưởng chủ yếu là ở phía các đảng XHDC và đảng Xã hội, vì các đảng này không những chỉ lôi kéo được tuyệt đại đa số công nhân, mà lý luận và hoạt động của họ tương đối hợp với tâm lý của quảng đại các tầng lớp trung gian và trí thức ở các nước tư bản; giai cấp tư sản cũng tương đối có thể tiếp thu.

    Ở đây, ta chưa nói về tình hình phức tạp vừa đấu tranh vừa hợp tác giữa hai thế lực nói trên (trong thời gian chiến tranh chống phát-xít, hợp tác là chủ yếu), mà chính bản thân các đảng tham gia phong trào xã hội dân chủ trong phạm vi của Quốc tế Xã hội (các đảng XHDC và các đảng Xã hội) cũng rất phức tạp. Chủ trương của các đảng này không hoàn toàn nhất trí với nhau, ngoại trừ việc tất cả đều phủ định cách mạng bạo lực và nói chung đều tiếp thu CNXH dân chủ. Lúc đầu, nhìn chung còn tuân theo cương lĩnh của đảng XHDC Đức được soạn thảo dưới sự chỉ đạo của Ăng-ghen năm 1889, khi thành lập Quốc tế II. Về sau thì mỗi đảng đi một đường: có đảng tương đối cấp tiến; có đảng tương đối ôn hoà; có đảng tiếp tục giương ngọn cờ chủ nghĩa Mác; có đảng lại vứt bỏ ngọn cờ này mà chủ trương đa nguyên hoá tư tưởng chỉ đạo (trong đó có cả chủ nghĩa Mác), và chủ trương tư tưởng XHCN bắt nguồn từ nhiều con đường; có đảng vẫn coi mình là chính đảng của giai cấp công nhân, có đảng lại nói mình là đảng của nhân dân hoặc đảng của dân tộc; có đảng chủ trương hợp tác với đảng cộng sản trong nước mình; có đảng lại phản đối sự hợp tác đó, v.v… Một số đảng đã không dưới một lần cải tổ hoặc xây dựng lại, về khuynh hướng, cũng trước sau khác nhau. Nhưng nói tổng quát, bản tuyên ngôn công bố năm 1951, khi Quốc tế Xã hội [6] tổ chức lại, về đại thể có thể coi là một khuynh hướng có tính tiêu biểu.

    Tuyên ngôn này viết: “Dù là người của đảng Xã hội xây dựng niềm tin của mình theo phương pháp phân tích xã hội của chủ nghĩa Mác, hoặc theo các phương pháp khác, dù là họ tiếp nhận sự gợi ý của nguyên tắc tôn giáo hoặc của nguyên tắc nhân đạo, tất cả họ đều phấn đấu vì mục tiêu chung. Mục tiêu đó là một chế độ phân phối xã hội công bằng, đời sống tốt đẹp, tự do và thế giới hoà bình.” Ở đây chưa viết rõ mục tiêu phấn đấu là chủ nghĩa xã hội, thế nhưng “Tuyên ngôn thành lập Quốc tế xã hội” hồi thập kỷ 20 thế kỷ XX từng khẳng định mục tiêu này, và nói rõ: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là giải phóng mọi người ra khỏi sự lệ thuộc vào một thiểu số người chiếm hữu hoặc kiểm soát tư liệu sản xuất. Mục đích của nó là giao quyền kinh tế cho toàn thể nhân dân, tiến tới xây dựng một xã hội khiến cho mọi con người tự do đều có thể, với địa vị bình đẳng, cùng làm việc với nhau trong xã hội.

    Cho nên, nhìn chung, phải chăng có thể nói là: phong trào CNXH dân chủ Tây Âu (hoặc gọi là “phong trào xã hội dân chủ”, đều như nhau) hiện đang tìm kiếm một con đường khác để tiến lên CNXH (khác với con đường của Cách mạng Tháng Mười)? Hoặc nói là, phong trào này từng bước ươm trồng các nhân tố XHCN trong cái bào thai tư bản chủ nghĩa, để bằng cách tiệm tiến (từ tích luỹ thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất từng phần, rồi đến thay đổi về chất cuối cùng) sáng tạo nên một hình thái mới của xã hội XHCN? Theo tôi, có thể nói như vậy được. Dĩ nhiên, sự sáng tạo này thường có tính thử nghiệm, không thể bước đều nhau hoặc có xu thế tiến lên theo đường thẳng, mà tuỳ theo sự thay đổi tình hình hoặc biến đổi so sánh lực lượng có thể có lặp đi lặp lại, có lúc tiến lên, có lúc lại tụt lùi. Nhưng có một đặc điểm: khi đã tiến lên rồi thì dù cho lại tụt lùi, nhưng trận địa đã chiếm được thì thường là không bị mất toàn bộ (thí dụ: về thực hiện chính sách phúc lợi và chế độ bảo đảm đời sống). Ở đây, tôi xin nêu hai thí dụ có thể giúp nói rõ vấn đề: một là cuộc cải cách do Công đảng Anh tiến hành năm 1945, và hai là mô hình Thụy Điển.

    Trong bài này chỉ xin nói vài câu về cuộc cải cách (được đảng XHDC gọi là cải cách dân chủ xã hội chủ nghĩa) bắt đầu tiến hành tại Anh từ 1945. Đây là cuộc cải cách cơ cấu xã hội do Công đảng Anh lãnh đạo thực hiện trong tình hình tư bản Tây Âu bị tàn phá nặng nề sau Thế chiến II. Biện pháp cải cách chủ yếu là:

    • Thực hành quốc hữu hoá các ngành khai thác mỏ, ngân hàng phát hành, giao thông vận tải, các doanh nghiệp cung ứng địa phương và sản xuất thép, tức đưa các ngành kinh tế này vào sở hữu nhà nước tư bản, làm cho thành phần quốc doanh trong lĩnh vực kinh tế lên tới 20%;
    • Cải tiến thuế thu nhập theo một quy chế luỹ tiến khác biệt rõ ràng giữa các cấp bực, làm cho 2/5 tổng thu nhập quốc dân thông qua hình thức thu thuế được nhà nước thực hành tái phân phối;
    • Áp dụng phương pháp gọi là “phúc lợi toàn dân” nhằm thực hành chế độ bảo hiểm rộng rãi ốm đau, tai nạn, tuổi già, thương tật, thất nghiệp, sinh đẻ và chết đối với tất cả mọi người và thực hiện chữa bệnh không mất tiền cho toàn dân. Năm 1948, lãnh tụ Công đảng Anh là At-li [Clement Attlee, 1883-1967] tuyên bố: nước Anh đã trở thành “nhà nước phúc lợi”. Từ đó, cái tên “nhà nước phúc lợi” bắt đầu được sử dụng rộng rãi. Theo các tài liệu xác thực, ngày ấy, Stalin có nói chuyện với nhân vật phái tả của Công đảng Anh Rat-xki, thậm chí Stalin còn thừa nhận cuộc cải cách này có thể là một trong những con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (do đó mà năm 1951, đảng Cộng sản Liên xô từng giúp đỡ đảng Cộng sản Anh soạn thảo cương lĩnh quá độ hoà bình). Nhưng trên mặt khác, hoặc nói trên một mặt quan trọng hơn, cuộc cải cách này đồng thời lại làm ổn định trật tự tư bản chủ nghĩa từng bị phá tan (ghi chú: cuộc cải cách này hồi ấy được Mỹ kín đáo cho phép và tài trợ).

    Bây giờ ta có thể trở lại bàn về mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Thụy Điển được Báo cáo Khảo sát nói tới.

    (Còn tiếp phần II).

    _____________________

    Nguồn: Khảo sát về chủ nghĩa xã hội kiểu Thụy Điển: Nhân đọc “Một bản báo cáo khảo sát đến muộn”, Chủ nghĩa Mác và Hiện thực số tháng 3/2002, Tạp chí hai tháng một kỳ, tiếng Trung Quốc. Cơ quan chủ trì tạp chí: Cục Biên dịch thuộc Trung ương Đảng CSTQ.

    Tác giả Ngô Giang là giáo sư, nguyên Viện trưởng Học viện Chủ nghĩa xã hội Trung ương, thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

    Báo cáo mà tác giả đề cập là của Dương Khải Tiên, được viết sau chuyến khảo sát Thụy Điển hồi những năm 1980, khi Liên Xô còn đang vững mạnh.

    Nguyễn Hải Hoành lược dịch và làm toàn bộ các chú thích ở cuối trang và trong ngoặc.

    _____________________

    1. Đúng ra phải gọi là đảng Dân chủ xã hội (tiếng Anh: Social Democratic Party), nhưng VN ta quen gọi là Xã hội dân chủ (theo nguyên văn âm Hán-Việt theo cách dịch của TQ). Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học (NXB Tiến bộ Matxcơva và NXB Sự thật Hà Nội, 1986) dùng “chủ nghĩa dân chủ xã hội”, nhưng có chỗ dùng “đảng Xã hội dân chủ”, có chỗ dùng “đảng Dân chủ xã hội”. Đảng XHDC Thuỵ Điển chiếm 36,5% số đại biểu Quốc hội khoá bầu 9.1998; hiện Chủ tịch Đảng là ông Goran Persson đồng thời làm Thủ tướng chính phủ. (Trong bài này, toàn bộ các chú thích ở cuối trang và chú thích trong dấu [ ] đều là của người dịch).

    2. Số liệu năm 2001 về Thụy-điển: 449.964 km2; 8,875 triệu dân. Kinh tế năm 2000 tăng trưởng 4,3%. Năm 2000, GDP tính theo sức mua: 197 tỷ USD; GDP đầu người: 22.200 USD (so với 4000 USD của Nga năm 1998). Nông nghiệp chiếm 2,2% GDP, công nghiệp 27,9%, dịch vụ 69,9%. Xuất khẩu 95,5 tỷ, nhập khẩu 80 tỷ USD. Tỷ lệ lạm phát 1,2%, tỷ lệ thất nghiệp 6%. Ngân sách: thu 133 tỷ, chi 125,2 tỷ USD. Viện trợ ODA cho nước ngoài 1,7 tỷ USD (1999). Tuổi thọ trung bình 79,71 năm. Năm 1998 có 6 triệu điện thoại và 3,8 triệu điện thoại di động; 8,25 triệu radio và 4,6 triệu tivi, Năm 2000 có 4,5 triệu người dùng Internet. CIA Mỹ nhận định: Thuỵ Điển là nước “đạt được mức sống cao dưới chế độ chính trị kết hợp chủ nghĩa tư bản công nghệ cao với chế độ phúc lợi cao” (theo The World Fact Book 2001 của Cục Tình báo TƯ Mỹ CIA). Ở đây người dịch dùng số liệu năm 2001 cho sát với thời điểm tác giả Ngô Giang viết bài này.

    [3] Ferdinand Lassalle: xem chú thích 7. Pierre-Joseph Proudhon (1809-1865): “nhà chính luận Pháp, nhà xã hội học và kinh tế; nhà tư tưởng của giai cấp tiểu tư sản, một trong những người sáng lập về mặt lý luận chủ nghĩa vô chính phủ” (trích dẫn theo Tuyển tập Mác Ang-ghen, NXB Sự thật, Hà Nội 1981)

    [4] V. Liebknecht (1826-1900), nhà sáng lập đảng XHDC Đức, bạn của Mác và Ang-ghen

    [5] Bách khoa thư Xô viết (1987) gọi là Quốc tế 2 rưỡi (2 1/2).

    [6] Sđd1 gọi là Quốc tế XHCN, và nhận định là “tổ chức liên hiệp quốc tế của các đảng dân chủ-xã hội, thi hành đường lối cải lương.” Đại hội I của Quốc tế này họp ở Đức tháng 7.1951, ra tuyên ngôn “Về những mục tiêu và nhiệm vụ của chủ nghĩa XHDC” Tính đến 11.1977, Quốc tế XHCN có 38 đảng (và 16 đảng dự thính), hai tổ chức Phụ nữ và Thanh niên, 9 tổ chức có tính liên hiệp.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Phản hồi: 

    Thụy Điển có là XHCN?
    Sự trỗi dậy và sụp đổ của "Mô hình Thụy Điển"

    Thay cho lời bình (ND):
    "Vấn nạn của những người xã hội chủ nghĩa là đến một lúc nào đó họ không còn có nguồn tiền của người khác nữa." - Margaret Thatcher

    Trong giới cánh tả quốc tế thường xuyên nổi lên câu hỏi và thảo luận về Chính trị và Kinh tế của các nước Bắc Âu, đặc biệt là Thụy Điển, liệu xã hội ở đó có phải là một dạng của "Chủ Nghĩa Xã hội", hay nói cách khác, là một phiên bản thay thế cho Chủ nghĩa tư bản tân tự do.
    Bài viết của Per Olsson, thuộc Rättvisepartiet Socialisterna (Một nhánh của tổ chức SAV Thụy Điển)
    http://www.socialisterna.org/

    "Thụy Điển luôn là một nền kinh tế với một thị trường vững chắc", đó là câu viết đăng trên trang mạng của Chính phủ bảo thủ cánh hữu. Và điều đó chắc chắn là đúng. Thụy Điển chưa bao giờ là một Xã hội xã hội chủ nghĩa, được xây dựng trên nền tảng của sở hữu công cộng về phương tiện sản xuất, của quản lý và điều hành lao động, của bình đẳng xã hội và kế hoạch hóa sản sản xuất một cách dân chủ. Và Thụy điển cũng chẳng phải là một "nền kinh tế hỗn hợp", chẳng phải là đi con đường thứ ba - một thay thế khác cho CNTB và CNXH, nếu như có thể có một con đường như vậy.

    Tuy nhiên nhờ có sự phát triển bùng nổ của chủ nghĩa TB khắp mọi nơi trên thế giới và nhờ có phong trào công nhân trong nước vào những năm 60 và đầu những năm 70 một nhà nước phúc lợi đã được hình thành, và đã trở nên mô hình kiểu mẫu đối với phần còn lại của thế giới. Một hệ thống chăm sóc đời sống được tài trợ toàn diện về mặt tài chính thông qua những biện pháp công (qua chính sách thuế) đã đảm bảo cho một hệ thống giáo dục phát triển cao, một hệ thống chăm sóc sức khỏe tầm cỡ thế giới, một hệ thống chăm sóc trẻ em có một không hai, và hàng loạt các cơ quan phúc lợi và bảo hiểm xã hội khác. "Nhà nước phúc lợi" và sự hài hòa xã hội chiếm ưu thế trong giai đoạn này đã được biết đến với tên gọi "Mô hình Thụy Điển", cho dù khái niệm này đã từng được nói đến từ những năm 30.

    Tuy nhiên "Mô hình Thụy điển" này đã không còn tồn tại từ cách đây khá lâu. Kể từ những tháng ngày may mắn của những năm 70, khi mà "Mô hình Thụy Điển" còn đảm bảo phúc lợi cho mọi người từ lúc sinh ra cho đến khi từ giã cõi đời và trưng ra với thế giới như là một ví dụ của Hiện đại và tiến bộ thì thời gian trôi qua cũng đã nhiều rồi, đó chính là lời bình phẩm gần như đắc thắng của hãng thông tin CNN vào năm 2003.

    Mô hình tư hữu hóa mới

    Ngày nay hầu hết những nhà bình luận họ nói đến "Mô hình mới của Thụy Điển" về tư hữu hóa, về nới bỏ quản lý của nhà nước và về những "cải cách" khác phù hợp với thị trường. Họ cũng chỉ ra việc dường như Thụy Điển đã tránh được cuộc khủng hoảng tài chính đầu những năm 90. Theo đó, mô hình Thụy Điển đã nổi lên như là một thành công của CNTB, nó cho thấy Chủ nghĩa Tân Tự do có hiệu quả.

    "Ngày nay nếu nói rằng Thụy Điển là XHCN thì hoàn toàn sai lầm. Những cải cách tân tự do được thực hiện ở đây trong nhiều lĩnh vực còn sâu rộng hơn cả ở Hoa Kỳ. Thụy Điển đã trở thành môi trường thử nghiệm đối với việc tư hữu hóa", Brian Palmer, giáo sư nhân chủng học thuộc đại học Uppsala Thụy Điển đã bình luận như vậy. Olle Wästberg, người theo chủ nghĩa tự do và cựu tổng lãnh sự tại New York đã khoe rằng "trên nhiều lãnh vực chúng tôi (Thụy điển) có nhiều tài sản tư nhân hơn các quốc gia châu Âu khác và Hoa kỳ. Khoảng hơn 80% các trường học mới là trường tư, cũng như vậy đối với mạng lưới đường sắt và tàu điện ngầm.

    Sự kết thúc thời kỳ phát triển mạnh mẽ sau chiến tranh vào khoảng giữa những năm 70 cũng là sự kết thúc của mô hình Thụy Điển cũ. Tuy nhiên trước đó ít năm nền kinh tế đã ở trong tình trạng trì trệ. Song cũng phải nói rằng CNTB Thụy Điển hưởng lợi cực nhiều từ thực tế là lực lượng sản xuất của đất nước còn nguyên vẹn sau chiến tranh thế giới thứ hai - Thụy Điển trong cuộc chiến này không hề bị chiếm đóng và đã tuyên bố mình là trung lập. Giới tư bản đã có được số lợi nhuận chiến tranh khổng lồ và ngay từ đầu họ đã liên minh với Đức Quốc xã. Trong nhiều năm Đức là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Thụy Điển: Quặng sắt và vòng bi sản xuất tại Thụy Điển đã đóng một vai trò quan trọng đối với bộ máy chiến tranh của Hitler. Nhưng khi thấy rõ Quốc xã sẽ thất bại giới tư bản Thụy Điển liền quay ra tìm cách làm ăn với phe đồng minh để tiêu thụ hàng hóa và để được bảo vệ trước nước Nga của Stalin đang ngày càng tiến đến gần.

    "Thời hoàng kim" sau chiến tranh.

    Sau chiến tranh nhu cầu thế giới về các sản phẩm sắt thép, quặng sắt, gỗ rất lớn, như vậy các công ty của Thụy Điển có dịp làm ăn tốt và thu lợi nhuận nhiều. Đầu những năm 1950 Thụy Điển là nước giàu nhất châu Âu vượt xa các nước khác.

    Trong "thời hoàng kim" cùa CNTB, giai đoạn 1950-1970, khi mà sản lượng toàn cầu và thị trường tăng trưởng một cách chưa từng thấy, hàng năm Thụy điển tăng trưởng ở mức 4%. Tuy nhiên, từ lâu trước khi mức tăng trưởng của thế giới chững lại thì chủ CNTB Thụy Điển đã ở trong tình trạng trì trệ trong khi đó các nước tư bản khác vẫn tiến tới bắt kịp hoặc thậm chí vượt qua. Vào năm 1960 thị phần của Thụy Điển bắt đầu sút giảm. So với các đối thủ cạnh tranh chính, những năm 70 là những năm Thụy Điển có mức tăng trưởng tương đối chậm. Hàng loạt các cuộc khủng hoảng dây chuyền đã xảy ra đối với các xí nghiệp. Ngành đóng tàu Thụy Điển năm 1975 còn đứng hàng thứ hai thế giới, bị sụp đổ vào nhứng năm tiếp theo, đối với ngành dệt may cũng vậy. Trong suốt những năm 70 Thủy Điển lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ đã phải nếm mùi tăng trưởng hàng năm thấp hơn so với phần còn lại của Tây Âu.

    Mặc dù vậy, "nhà nước phúc lợi" trong những năm 70 vẫn tiếp tục được mở rộng. Điều này có nhiều nguyên nhân: do công nhân thức tỉnh trở lại trong việc đấu tranh, do trọng lượng của phong trào công nhân trong xã hội và quá trình cực đoan hóa chính trị khởi đầu sau các sự kiện ở Pháp năm 1968. Một lượng lớn lao động phụ nữ gia nhập vào lực lượng lao động đã làm cho phong trào công nhân trở nên sôi nổi và mạnh mẽ hơn. Và quả vậy "nhà nước phúc lợi" trong những năm này đã đạt đến đỉnh cao của nó. Giới tư bản bắt buộc chấp nhận phải có những cải cách tại nơi làm việc, và phải nới rộng nhiều quyền cho công đoàn. Ví dụ cho điều này là luật về việc thực hiên các quyết định kinh doanh và luật về điều kiện nơi làm việc, một điều luật mới về về an toàn lao động v.v... Ngoài những thứ đó hệ thống nuôi dạy trẻ công cộng cũng được thiết lập và những quy định tiến bộ về thời gian nghỉ đẻ cũng bắt đầu có hiệu lực.

    Giới tư bản chuyển sang tấn công

    Trong giai đoạn này đã có nhiều dấu hiệu cho thấy giới tư bản cho rằng họ đã nhân nhượng quá nhiều và đến lúc cần phải quay ngược lại thời gian. Kỷ nguyên của xã hội an bình đã kết thúc; Nều tảng kinh tế vật chất cho chủ nghĩa cải lương cổ điển và cho một thế giới bình yên giữa các giai cấp trong xã hội không còn nữa. Mặc dù thế, những thủ lĩnh công nhân vẫn tiếp tục ôm lấy ảo tưởng và giấc mộng về một "chủ nghĩa tư bản mang bộ mặt người". Năm 1980 giai cấp thống trị đã thử thể hiện đâu là giới hạn bằng cách đuổi việc hàng loạt, liền sau đó là những cuộc đình công của công nhân. Tuy nhiên cuộc tấn công này của giới tư bản đã không thành cộng. Sau khi bị thất bại ở địa bàn doanh nghiệp giới tư bàn bèn tìm cách tấn công ở địa bàn chính trị. Giới tư bản cùng với các tổ chức của giới tiểu tư sản đã mở một chiến dịch thô bạo tấn công vào cái gọi là quỹ của những người ăn lương với sự trợ giúp của các đảng phái bảo thủ. Quỹ này, thực tế là một tổ chức vô hại, nó được Liên hiệp công đoàn LO thành lập nên năm 1976, là một thử nghiệm nhằm mua lại cổ phần để tăng cường ảnh hưởng của công đoàn lên lãnh đạo xí nghiệp. Mục tiêu của Liên hiệp Công đoàn đã được nhiều lần làm giảm nhẹ đi so với ban đầu. Song giới tư bản Thụy điển mở chiến dịch này thực chất không phải để tiến công vào quỹ đó, mà chủ yếu là qua đó để tiến công vào ý tưởng XHCN nói chung. Đợt phản công này của giai cấp thống trị đã đạt được kết quả: Những người xã hội dân chủ và Liên hiệp công đoàn đã đầu hàng và một lần nữa qua đó cho thấy họ chưa bao giờ có ý định thực sự thách thức chủ nghĩa tư bản đối với vấn đề tư hữu trong sản xuất và thương mại.

    Tương tự như vậy, nền kinh tế thỉnh thoảng được gọi với cái tên "Nền kinh tế hỗn hợp" ở Thủy điển chưa bao giờ thực sự là một tổ hợp giữa tư hữu và công hữu ở các cơ sở kinh doanh. Trên thực tế khu vực nhà nước ở Thụy điển nhỏ hơn rất nhiều so với khu vực này ở các nước khác. Và nhiệm vụ của khu vực này là đảm bảo cho các công ty độc quyền lớn có được năng lượng giá rẻ, cơ sở hạ tầng, cũng như nghiên cứu và phát triển, đó là những công ty nắm quyền thống trị trong nền kinh tế. Trong khi đó hệ thống phúc lợi và Chính phủ xã hội dân chủ đảm bảo sự ổn định về chính trị xã hội cần thiết để mở rộng Tư bản chủ nghĩa.

    Tập trung và tích tụ tư bản ở Thụy điển dường như còn được đẩy mạnh hơn nhiều so với những nước tư bản phát triển khác. "Đó là những cơ sở kinh doanh thuộc gia đình, đóng vai trò chủ đạo trong khu vực hoạt động của nhà nước. Và đây là mộtt trong những số cơ sở lớn nhất và ổn định nhất ở châu Âu [...], tờ Financial Times (12,07.2014) đã viết như vậy trong một bài viết về gia đình Wallenberg và đế chế của nó. Trong đó tiếp tục được viết: "không có một gia đình nào khác chi phối rất nhiều lĩnh vực kinh tế của một quốc gia phát triển như gia đình Wallenberg ở Thụy điển." Và: "Vai trò thống trị của Wallenberg đối với sản xuất kinh doanh ở Thụy điển có được là do có sự trợ giúp của Chính phủ xã hội dân chủ." Có những lúc gia đình Wallenberg nắm giữ tới gần 40% số cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán Thụy điển.

    Ngay cả Peter Stein, một kinh tế gia Thụy điển cực kỳ tân tự do cũng phải thừa nhận rằng: "Mặc dù Quốc hữu hóa là một vấn đề cơ bản trong chương trình của phái Dân chủ xã hội, nhưng nó chưa bao giờ được thực hiện. Cho đến năm 1970 toàn bộ khu vực sản xuất do nhà nước quản lý chỉ chiếm có 5%. Sở hữu nhà nước và sự quản lý của nhà nước ở đó, nơi mà chúng tồn tại, được dẫn dắt bởi đạo đức nghề nghiệp và không bị cản trở bởi các cân nhắc về mặt chính trị". (Peter Stein: Sweden, from capitalist Success to Welfare - State Sclerosis, 10. September 1991).

    Phong trào công nhân

    Các đại diện trong các ban giám sát ở các công ty đã hoạt động như những luật sư bảo vệ cho các cổ đông, chứ không phải cho người lao động. Khi đã trở thành thành viên của ban giám sát, thì cánh cửa để có thêm thu nhập đối với cán bộ công đoàn cũng đã rộng mở. Và nếu như không có bất kỳ sự kiểm soát dân chủ từ phía dưới hoặc một thay thế khác đối với CNTB thì những đại diện công đoàn hầu như luôn luôn đứng về phía các ông chủ. Điều này được khẳng định qua các ví dụ gần đây nhất. Olle Ludwigsson, thuộc công đoàn luyện kim, người từ năm 1998 là đại diện của người lao động trong ban giám sát thuộc hãng Volvo, vào năm 2009 đã bỏ phiếu cho việc tăng cao mưc cổ tức trong khi hàng ngàn người lao động đang bị hãng sa thải. Chủ tịch LO Wanja Lundby-Wedin đồng ý thông qua gói trợ cấp hưu trí hào phóng cho người đứng đầu quỹ "Lương hưu công ty". Cũng chính cái công ty AMF này đã cắt giảm lương hưu của những người hưu trí vì lý do làm ăn thua lỗ. Khi vấn đề này được đưa ra công luận năm 2009, kết quả thăm dò cho thấy 90% người được hỏi ý kiến đòi Lundby-Wedin phải từ chức chủ tịch LO. Thành viên của tổ chức này ở các ban giám sát khác nhau đã đem về cho tổ chức tới nửa triệu Krone mỗi năm.

    Nếu tính số lượng thành viên, ảnh hưởng và trọng lượng đối với xã hội của nó thì phong trào công nhân Thụy điển được coi là một trong những phong trào mạnh mẽ nhất thế giới, thậm chí có thể là mạnh mẽ nhất. Thường xuyên có tới 85% người lao động đứng trong tổ chức. Đỉnh cao là năm 1986 có tới 86%. Kể từ đấy con số này đi xuống, đặc biệt là từ năm 2006. Ngày nay con số này nằm ở khoảng 71% và dự đoán đến năm 2025 sẽ tiến về mốc 61%, nếu như xu hướng hiện nay không bị ngăn chặn.

    Trong "thời hoàng kim" của CNTB công đoàn đã có thể đấu tranh đảm bảo cho việc tăng lương đều đặn, và mọi người ai cũng có công ăn việc làm. Trong giai đoạn này chính sách an bình xã hội đã trở thành chuẩn mực. Phía sử dụng lao động, giới lãnh đạo công đoàn và Chính phủ xã hội dân chủ đã kề vai sát cánh với nhau trong công việc nhằm thúc đẩy tăng trưởng. Quyền tự chủ mức lương là cột mốc quyết định, đã phát triển thành một hệ thống phối hợp tập trung trong các vòng đàm phán lương bổng. Từ những năm 1950 đến tận những năm 1980 chuyện đàm phán lương bổng là công việc của LO (Liên hiệp công đoàn) và đối tác của nó là SAF (Hiệp hội những người sử dụng lao động), điều này đã được LO trình bày trong một tài liệu ngắn gọn.

    Kể từ đó sự phát triển của lương bổng, như vẫn được gọi ở Thụy điển, đã có những thay đổi. Ngày nay mỗi một công đoàn hoạt động toàn quốc tự nó đàm phán chuyện lương bổng một cách trực tiếp với đối tác của nó bên phía sử dụng lao động, và những gì nó ký kết được, trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ đảm bảo gia tăng được chút ít lương bổng cho những người lao động có liên quan - và kết quả cuối cùng thể hiện ra ở bảng lương hàng tháng sẽ phụ thuộc vào chuyện đàm phán cho từng vị trí làm việc hay từng lao động cụ thể một. Qua việc làm giảm sức mạnh đấu tranh tập thể, quá trình phân cấp và cá nhân hóa lương bổng này dĩ nhiên đã chẳng đem lại chút gì cho người lao động.

    Tuy nhiên việc thỏa thuận lương bổng được chấp nhận nó mang tính bắt buộc đối với mọi người lao động. Từ năm 1928 việc chống lại sự thỏa thuận về lương bổng đã được ký kết (thường có hiệu lực trong vòng từ hai đến ba năm) sẽ bị coi là hành động phạm pháp. Ngược lại có nghĩa là công đoàn và những tổ chức cấp dưới của nó sẽ chịu xử phạt nặng (mức phạt đã tăng lên nhiều trong những năm qua) nếu để đình công xảy ra hoặc ủng hộ việc đình công bằng lời trong khoảng thời gian như đã thỏa thuận trong thỏa thuận lương bổng. Người lao động nào đình công một cách tự phát không chỉ có nguy có bị phạt mà có nguy cơ có thể sẽ bị sa thải. Tóm lại có nghĩa là: một khi thỏa thuận lương bổng có hiệu lực, đình công sẽ bị cấm.

    Trong hai mươi năm qua luật lao động của Thụy điển đã trở nên khắc nghiệt hơn nhiều: mức phạt nặng hơn, thời gian xem xét quyết định đình công lâu hơn, bắt buộc phải có điều đình hòa giải thông qua tổ chức nhà nước (văn phòng hòa giải quốc gia), tổ chức này có quyền lực pháp lý đình chỉ những hoạt động đình công ở xí nghiệp v.v... Tất cả mọi biện pháp này đều được những người xã hội dân chủ hoặc ủng hộ hoặc khởi xướng.

    Trong giai đoạn phản tiến bộ của thời kỳ chiến tranh lạnh cùng với chiến dịch truy lùng cộng sản và những người cánh tả khác hầu như tất cả mọi thành phần công nhân dân chủ trong nội bộ công đoàn đều bị loại bỏ. Cánh tả bị loại trừ và buộc phải câm lặng. Công đoàn trở nên quan liêu và tập trung hơn, được lãnh đạo bởi những cán bộ chuyên trách với lương bổng hậu hĩnh (tất cả đều là đảng viên của đảng xã hội dân chủ) mà không có chút khả năng nào để tác động tới những quyết định và chính sách vì các thành viên của mình. Ngay từ những năm 50 các thành viên đã mất đi quyền biểu quyết thỏa thuận lương bổng cấp toàn quốc hoặc quyền lựa chọn đại diện cấp toàn quốc của mình, trong khi đó thời gian giữa hai nhiệm kỳ đại hội luôn luôn bị kéo dài ra.

    Trong một thời gian dài đảng xã hội dân chủ Thụy điển bên cạnh đảng anh em của mình ở Áo luôn là đảng có số lượng đảng viên đông nhất châu Âu xét theo kết quả bầu cử. Đảng này cho đến giữa những năm 80 luôn có thể tự hào với con số 1,2 triệu đảng viên. Và điều này xảy ra đối với một đất nước chỉ có 8,3 triệu dân(1985). Hầu hết các đảng viên đều xuất thân từ các đơn vị công đoàn địa phương, bởi ở đó chúng được kết hợp chung lại với nhau. Song khi việc kết hợp chung lại bị bãi bỏ năm 1990, do bởi giới lãnh đạo xã hội dân chủ bắt đầu coi công đoàn như là một trong nhiều "nhóm gây sức ép", thì con số đảng viên giảm dần một cách đáng kể. Ngay từ năm 1991 đã giảm xuống tới 260000 người , từ đó tới nay mỗi năm giảm gần 10000 đảng viên. Nếu như xu hướng hiện hành tiếp tục tiếp diễn, trong vòng 15 năm tới đảng này sẽ không còn có lấy một đảng viên.

    "Chuyển đổi hệ thống"

    Lại cũng chính Chính phủ xã hội dân chủ đã khởi xướng cái mà sau này ở Thụy điển được gọi là "Chuyển đổi hệ thống" gồm có: việc giảm bớt phúc lợi xã hội kết hợp với nới lỏng điều tiết của nhà nước và tiến hành tư hữu hóa. Bước ngoặt sang phía hữu này diễn ra do nhiều yếu tố tác động khác nhau ở trong nước và quốc tế:

    1. Không tồn tại xu hướng đối lập hoặc thiên tả trong nội bộ đảng, cho nên sau khi những thành phần Marxist bị loại bỏ vào những năm đầu của thập kỷ 80 không còn ai có thể ngăn cản được sự chuyển hướng này. Sau khi bị loại bỏ nhóm cánh tả hoặc đã lẩn vào trong cánh dân chủ xã hội, như chúng tôi khi đó đã dự đoán,hoặc chuyển biến thành phần tử cánh hữu, để đi tìm phương thức tiếp cận mới. Đồng thời trong thời gian này số lượng những ngươi hoạt động thuộc cánh tả trong công đoàn cũng giảm đi.

    2. Sự trì trệ của CNTB Thụy điển đã không có khả năng cho phép mở rộng nhà nước phúc lợi. Thay vì thế CNTB yêu cầu chính phủ phải giảm bớt chi tiêu và giảm bớt phần của người lao động trong thu nhập quốc dân

    3.Sự tăng tốc của quá trình toàn cầu hóa, sức ép cạnh tranh ngày càng tăng từ bên ngoài đã dẫn đến việc nắm quyền của các chính phủ tân tự do tại hầu hết các nước trên thế giới sau khi chủ nghĩa Keynes bị thất bại hồi năm 1970.

    4. Sự sụp đổ của các nhà nước Stalinist vào những năm 1989 đến 1991 đã góp phần tạo nên động lực cho sự phát triển này. Thêm vào đó phải kể đến sự ngả sang hữu của giới xã hội dân chủ, không chỉ ở Thụy điển. Chính vì thế ở Tây Âu công tác xã hội cũng được đưa vào nhằm đạt được sự ủng hộ của xã hội đối với CNTB trong việc cạnh tranh với chủ nghĩa Stalin ở Nga và Đông Âu. Khi chủ nghĩa Stalin sụp đổ, giới tư bản lại càng tin tưởng hơn bao giờ hết rằng nhà nước phúc là không cần thiết, là xa hoa tốn kém và rằng sự chuyển đổi các dịch vụ công trong thị trường tư nhân có lợi nhuận sẽ được mở ra.

    Ở Thụy điển giới Xã hội dân chủ bắt đầu tiến hành việc chuyển đổi hệ thống thông qua giảm việc quản lý của nhà nước ở thị trường vốn và trong lĩnh vực tài chính. Việc nới lỏng quản lý những năm 80 đã tạo nên sự bùng nổ của thị trường tiền tệ Thụy điển, bùng nổ tăng trưởng tín dụng, chúng đã tạo tên bong bóng đầu cơ (phần lớn số tiền vay mượn được dùng để tích cóp bất động sản). Bong bóng bất động sản sinh ra từ đó đã dẫn đến việc khấu hao vốn với quy mô lớn, mất thu nhập và ngân hàng mất khả năng chi trả. Nhiều ngân hàng đã bị sụp đổ và nhà nước phải ra tay trợ cứu.

    Cũng trong những năm 80 tiền giành cho ngành y tế ngày càng ít đi. Tỷ lệ của nó trong tổng thu nhập quốc dân giảm sút. "Một hậu quả khác là, trên thực tế tỷ lệ phần trăm trong tổng sản phẩm quốc dân được chi dùng cho y tế đã giảm. Thụy điển là nước duy nhất trên thế giới có điều đó xảy ra vào trước năm 1996", Andrew C. Twaddle đã viết như vậy trong cuốn sách của mình "Cải cách y tế tại Thụy điển năm 1980-1994". Ý nghĩa của của khái niệm cải cách đã không còn giá trị nữa. Từ nay "cải cách" đã trở thành phản cải cách. Điều này đã được chứng minh qua cuộc cải cách lớn về thuế khóa, chính thức còn được gọi là "cuộc cải cách thuế của thế kỷ" được tiến hành năm 1991. Cái gọi là cải cách này, được soạn thảo bời chính phủ xã hội dân chủ và đảng nhân dân tư sản tự do đã xóa nốt những gì của hệ thống thuế lũy tiến còn sót lại. Cuộc cải cách đã giảm mức thuế chủ yếu cho những người có thu nhập cao, trong khi đó thuế tiêu thụ gia tăng tăng lên tới 23%. "Do có sự đảo chiều về thuế nên đã nảy ra tranh cãi, bởi vì đó là bước đi được coi là đi ngược lại lý tưởng bình đẳng xã hội mà nhiều người Thụy điển từng ủng hộ", tờ New York Times đã bình luận như vậy (20.01.1990) . Nếu như đó chỉ là sự diễn tả ở mức độ vừa phải và sự cảm nhận của phe đối lập và của những công dân bình thường đối với "cải cách" này.

    Những năm 90

    Chính sách thiên hữu này của những người xã hội dân chủ đã dọn đường cho thất bại nặng nề của họ trong lần bầu cử năm 1991. Nó xảy ra ở cùng thời gian với cuộc khủng hoảng tư bản nghiêm trọng nhất của Thụy điển kể từ những năm 20/30. Mọi biện pháp sâu rộng của chính phủ phe bảo thủ từ những năm 1991 đến 1994 đều được đảng xã hội dân chủ ủng hộ. Trong đó bao gồm cả việc bán các xí nghiệp nhà nước cho tư nhân. Mặc dù vậy khủng hoảng vẫn tiếp tục trở nên nghiêm trọng hơn, ngay cả việc ngân hàng trung ương tăng lãi suất lên tới 500% cũng không ngăn cản được dòng vốn thoát ra nước ngoài. Chính phủ bắt buộc đình chỉ việc áp đặt tỷ giá hối đoái cố định và tiến hành phá giá đồng tiền. Đó là sự chuyên chính của thị trường. "Cuộc khủng hoảng ngân hàng đã nhấn chìm chúng tôi. Để giữ cho hệ thống không bị sụp đổ, chính quyền trung ương đã bắt buộc can thiệp một cánh nhanh chóng bằng cách đưa ra một đảm bảo khống giành cho tất cả mọi người, trong đó hứa rằng ngân hàng Thụy điển hiện tại và trong tương lai vẫn có thể đảm bảo chi trả đầy đủ." (Trích từ phát biểu của phó thống đốc ngân hàng Lars Nyber, tháng 3 2006) Một số ngân hàng đã bị quốc hữu hóa hoặc bắt buộc phải xin bơm tiền từ công quỹ để có thể tiếp tục hoạt động.

    Theo New York Times chính phủ đã bỏ ra 4% tổng thu nhập quốc dân hay ít nhất 65 đến 70 tỷ Kron (tương đương 65 Million Euro) để cứu các nhà băng. Thặng dư ngân sách trong năm 90/91 chuyển thành thâm hụt 10% của tổng thu nhập quốc dân trong năm tài chính 93/94, và nợ của nhà nước tăng từ 43% tổng thu nhập quốc dân năm 90 lên 78% năm 94. Khi những người xã hội dân chủ năm 94 lên nắm quyền trở lại các khoản nợ nêu ra làm lý do cho một chương trình cắt giảm vô tội vạ, để tăng thuế và để tiến hành các cải cách theo hướng thị trường.

    Đối với những người thuộc tầng lớp lao động dĩ nhiên khủng hoảng vẫn chưa qua khỏi. Sự tăng trưởng kinh tế sau 1994 không đưa đến việc cải thiện điều kiện sống và đảm bảo công ăn việc làm. Thậm chí nó còn không tạo được một giai đoạn tạm dừng các đợt tấn công của giới tân tự do mà hoàn toàn ngược lại.

    "Những năm 90 có thể nói đó là thập kỷ thất nghiệp hàng loạt tại Thụy điển. Một phần đáng kể dân số Thụy điển trong thập kỷ này đã từng có giai đoạn bị thất nghiệp. Không ít hơn 1,8 triệu người - gần khoảng 40% số người trong lứa tuổi từ 18 đến 60 vào những năm 90 nằm trong danh sách những người đang tìm việc, điều này được ủy ban phúc lợi thông báo.

    Số người lao động có hợp đồng không thời hạn, trong năm 90 đã giảm từu 3,6 triệu xuống còn chỉ hơn ba triệu, trong khi số lượng lao động tạm thời tăng từ 400000 lên đến 520000 (15% của tổng số người lao động) Mặc dù sau nhiều năm tăng trưởng tỷ lệ thất nghiệp năm 99 vẫn cao ở mức 5,6% so với 1,7% năm 1990. Thụy điển đột nhiên cách xa mục tiêu dân chủ xã hội trước đây "Việc làm cho tất cả mọi người" hàng trăm dặm. Và trên thực tế, khẩu hiệu này trong thời gian đó cũng đã bị bỏ xuống. Chính phủ xã hội dân chủ lên cầm quyền lại năm 1994 thậm chí còn đi xa hơn cả người tiền nhiệm trước đó là những đảng phái tư sản.

    Việt cắt giảm mức miễn thuế đối với gia đình có con cái còn nhỏ đã đưa đến: có thể nói lần đầu tiên giá trị thực của thành tựu xã hội đã bị giảm sút. Năm 1993 trợ cấp thất nghiệp đã bị giảm xuống mức 75% của thu nhập, khi mà trước đây vào năm 1993 còn ở mức 90%. Nhưng mặc dù vậy ngày càng có rất ít người lao động được hưởng mức này, bởi trong bảo hiểm thất nghiệp tồn tại một giới hạn trên, quy định mức tối đa được trả bằng tiền mặt. Do có sự thay đổi này nên mức nhận được trung bình đã giảm từ 81,3% xuống còn 70,5% của thu nhập. (Theo như đợt cắt giảm mới đây nhất của chính phủ đối với trợ cấp thất nghiệp vào năm 2006 thì mức trợ cấp trung bình đã nằm dưới 51%)

    Ngoài ra bảo hiểm y tế cũng bị cắt giảm, việc được nhận trợ cấp tiền thuê nhà cũng trở nên khó khăn hơn v.v.. và v.v... Những đợt tấn công như vậy đã làm bùng phát một phong trào phản kháng lớn nhất kể từ hàng thập kỷ trở lại đây.Bắt đầu là những cuộc biểu tình bãi khóa của học sinh. Cuộc đấu tranh của học sinh được khởi xướng bởi "Elevkampanjen", một phong trào thanh niên xhcn, được sáng lập bởi các thành viên trẻ của CWI vào năm 1989/90. Tổng cộng có khoảng 45000 học sinh tham gia biểu tình và tham dự ngày Phản kháng do "Elevkampanjen" tổ chức vào đầu năm 1995. Tiếp theo các cuộc đấu tranh của học sinh là những cuộc đấu tranh của công nhân, của người thất nghiệp, người bệnh và người tàn tật cũng như của các nhóm khác đã bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các chính sách của chính phủ.

    "Thụy điển hỗn loạn", đó là một trong những tít lớn của tờ Expressen, một trong các nhật báo lớn của nước này. Đến cuối năm Thụy điển đã gần như đứng trước một cuộc nổi dậy chính trị chống lại chính phủ. Trước đó rất nhiều người lao động đã từng nghĩ, rằng những người Xã hội dân chủ thể nào cũng phải thay đổi đường lối; nay họ nhận ra rằng đảng đã bắt đầu bước vào con đường tư bản hoàn toàn mới nhằm xóa bỏ dần nhà nước phúc lợi và những thành quả đạt được trước đây.

    Thủ tướng, người thuộc đảng xã hội dân chủ, thậm chí còn tự hào, rằng Thụy điển đã phá vỡ kỷ lục thế giới về cắt giảm chi tiêu. Những người xã hội dân chủ và chính sách của họ lại còn được IWF biểu dương hổi năm 1999: "Việc cải tổ chính sách tài chính từ khi bắt đầu chương trình củng cố đã có tác động sâu rộng. Một sự kết hợp giữa cắt giảm chi tiêu và tăng thuế đã đảm bảo, cùng với việc cắt giảm lãi suất, cho sự cải thiện cơ cấu tăng lên cả chục phần trăm của tổng thu nhập quốc dân và đã đưa lại sự tăng trưởng tài chính ở mức 2,2% trong năm 1998 [...]. Trong tương lai việc kiểm soát chi tiêu sẽ được đẩy mạnh bởi hàng loạt những cải cách đối với hệ thống hưu trí và được bổ sung bởi một chương trình đang được xây dựng về tái cơ cấu và tư nhân hóa các xí nghiệp trong khu vực nhà nước [...]" (Báo cáo của IWF về Thụy điển, 2 tháng 9 năm 1999).

    Trọng những năm 90 tỷ lệ lao động tư nhân làm việc trong khu vực được tư nhân hóa hoặc gia công đã tăng lên gấp đôi và từ đó cho đến này vẫn tiếp tục tăng lên. Trong khu vực nhà nước cũng có sự phát triển tương tự. Số lượng viên chức nhà nước năm 1997 là 400000 ngàn người hai mươi năm sau đã giảm xuống một nửa còn lại 200000 người.

    Các Chính phủ xã hội dân chủ, cầm quyền trong giai đoạn 1994 và 2006, đã bán đi số tài sản nhà nước có trị giá lên tới 116 tỷ krone (16,6 tỷ Đô la). Trong nhiều lĩnh vực, Đảng xã hội dân chủ cầm quyền đã đi đầu trong việc đưa vào thực hiện những "cải cách theo hướng thị trường" và những chương trình mang tính tân tự do của Liên minh Châu Âu.

    "Những cơ sở công" nhưng được "sản xuất " bởi những diễn viên tư ngày càng xuất hiện nhiều hơn chẳng hạn như trong khu vực chăm sóc trẻ em, công tác xã hội và chăm dưỡng người già. 1996 Thụy điển đã tiến hành gỡ bỏ sự quản lý của nhà nước đối với ngành điện và cho phép cạnh tranh tư nhân trong việc phân phối điện. Cả ngành truyền thông, bưu chính và vận tải công cũng đều được tư nhân hóa. Các xí nghiệp nhà nước, kể cả các ngân hàng được quốc hữu hóa trong thời kỳ khủng hoảng 1992-93, đều bị đem bán sau khi thua lỗ nặng nề.

    Cải cách chế độ hưu trí

    "Một lĩnh vực khác trên đó Thụy điển đã vạch đường đó là cuộc cải cách chế độ hưu trí [...]. Với việc cải cách chế đội hưu trí để cân bằng thâm hụt năm 1998 đã tạo nên một hệ thống trên thực tế người nộp tiền vào quỹ hưu trí không đảm bảo nhận được hưu ở mức cao." (Thụy điển trong Châu Âu, bài nói của phó thống đốc ngân hàng trung ương Lars Nyberg, 2003). Cái gọi là cải cách chế độ hưu trí này - tư hữu hóa và cắt giảm chế độ hưu - đã dẫn đến tình trạng bạo loạn ở tất cả những phần còn lại của Châu Âu khi chính phủ các nơi đó có ý định bắt chước nó.

    Những người xã hội dân chủ cũng không tiến hành thay đổi lại cái gọi là hệ thống tự do lựa chọn trường học được đối thủ chính trị của họ đưa vào năm 1992, và đó lý do vì sao lại có sự gia tăng số lượng các trường tư thục. Năm 1991 tỷ lệ học sinh trung học chuyển sang học trường tư là 1.5%. Hiện nay con số này đã lên đến 17%. Năm 1990 khu vực y tế cũng đã được mở cửa cho tư nhân. Ở Thụy điển tiền thuế của người dân đóng góp được coi là nhằm cho họ có quyền được đảm bảo về an sinh xã hội, về y tế...

    Tuy nhiên điều này thực ra chỉ có trên giấy. Ngoài việc phải nộp thuế như quy định mọi người vẫn phải trả tiền khi đi bác sĩ khám bệnh, khi nằm viện v.v... Tất cả những thứ đó là những phụ phí đặc biệt, ngày càng tăng lên trong những năm qua. Ở Stockholm mỗi lần đi bác sĩ khám bệnh bậy giờ phải trả 140 Krone (cỡ 13 Euro) và nếu đến tham khảo bác sĩ chuyên khoa thì phải trả tới 300 Krone. Giá khám chữa răng cũng quá đắt: bình thưởng ra phải hơn 600 Krone đối với một lần kiểm tra răng, nếu phải hàn trám sẽ còn mất nhiều hơn. Theo số liệu điều tra mới đây ở Thụy điển có tới 850000 người không đủ tiền để có thể đi khám bác sĩ răng.

    Nhờ có sự suy tính của dân chúng "hãy chọn cái ít xấu nhất" mà những người Xã hội dân chủ đã có thể trở lại cầm quyền sau kỳ bầu cử 1998 và 2002. Những người lao động bình thường phần nhiều đã không bỏ phiếu cho các đảng phái bảo thủ cánh hữu mà chọn bầu những người Xã hội dân chủ. Mặc dù vậy đảng này không có được sự ủng hộ của dân chúng như trước đây, số lượng người bỏ phiếu cho họ giảm đi liên tục kể từ năm 1994. Trong cuộc bầu cử lần mới đây năm 2006 họ đã nhận kết quả bầu cử tồi tệ nhất kể từ năm 1921, là năm quyền bầu cử của phụ nữ lần đầu tiên được đưa vào. Đó là một thất bại thảm hại trong bầu cử và đã buộc chủ tịch đảng Persson phải từ chức.

    Đảng tiến hành thay đổi tầng lớp lãnh đạo, tuy nhiên đường lỗi vẫn giữ nguyên. Trong một số lĩnh vực những người Xã hội dân chủ sau thất bại bầu cử 2006 vẫn tiếp tục ngả sang hữu. Ban lãnh đạo mới nhấn mạnh sự cần thiết phải dành cho được phiếu bầu của tầng lới trung lưu thành thị.

    Chính phủ bảo thủ hiện nay, được bầu lên hồi năm 2006, khởi đầu thời kỳ cầm quyền của họ với những cắt giảm mạnh mẽ trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp xã hội với mục tiêu nhằm xác lập một khu vực có mức lương thấp. Khi cuộc khủng hoảng tư bản toàn cầu bùng phát, hành động đó của chính phủ đã làm cho tình hình tồi tệ hơn gấp bội. Chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại Thụy điển lại rơi vào khủng hoảng với một lỗ hổng lớn như vậy của mạng lưới bảo trợ xã hội.

    Chính phủ muốn bán hầu như tất cả các doanh nghiệp nhà nước còn lại, mở cửa "cạnh tranh" mọi hoạt động công và tạo điều kiện cho tư nhân tiếp quản. Do bởi người lao động Thụy điển không còn được bảo vệ tốt như trước đây - ví dụ như nhiếu người không có bảo hiểm thất nghiệp hơn - cho nên cuộc khủng hoảng kinh tế hiện này ngày càng trở thành cuộc khủng hoảng xã hội. Trong vòng 12 tháng vừa qua tỷ lệ thất nghiệp đã tăng từ 5,9% lên 8,3% và dự đoán năm 2011 sẽ tăng lên đến mốc 12%. Ở Thụy điển việc sa thải một người lao động có hợp đồng vô thời hạn rất dễ dàng. Bên giao việc chỉ cần chứng minh là không đủ đơn đặt hàng là họ có thể xóa bỏ hợp đồng lao động. Điều này giải thích, tại sao số lượng người thất nghiệp ở Thụy điển lại tăng nhanh hơn so với nhiều nước ở Châu Âu khác. Tỷ lệ người trẻ tuổi bị thất nghiêp vào khoảng 30% và đó là con số cao nhất châu Âu.

    Đảng Xã hội dân chủ, đảng Cánh Tả, đảng Xanh gần đây đã thành lập một liên minh gọi là Đỏ-Xanh. Những nó chẳng đỏ mà cũng chẳng xanh. Những người xã hội dân chủ và phong trào công đoàn Thụy điển đang đứng trước một cuộc khủng hoảng lịch sử. Họ đã đánh mất nguồn gốc, ảnh hưởng và sự ủng hộ không còn triển vọng lấy lại được nền tảng cũ trước đây nữa, bởi đường lối và phương pháp của họ là các cuộc tấn công tiếp theo vào những gì còn lại của nhà nước phúc lợi. Đảng xã hội dân chủ đã thoái hóa thành một cái vỏ bọc trống rỗng. Lãnh đạo mới của đảng, Mona Sahlin mới đây có nói: "Tội có cảm giác, rằng mình là đảng viên trẻ tuổi nhất, và tôi năm nay đã 53."

    Nhiệm vụ đích thực đối với những người xã hội chủ nghĩa ở Thụy điển cũng như ở các nước khác đó là việc tái thiết lập phong trào công nhân trên nền tảng xã hội chủ nghĩa - cần phải xây dựng một đảng đại chúng mới xã hội chủ nghĩa của những người lao động và công đoàn cần phải xây dựng thành một tổ chức dân chủ và tranh đấu. Kết luận quan trọng nhất rút ra từ kinh nghiệm Thụy điển đó là không có thành quả xã hội nào là vĩnh viễn chừng nào vẫn còn chủ nghĩa tư bản. Điều này càng đúng trong giai đoạn khủng hoảng, nếu các lực lượng cánh mạng cần thiết, cho dù chỉ ép buộc được giới tư bản chấp nhận những nhân nhượng nhỏ bé để có thể giữ được công ăn việc làm. Từ lý do này, do bởi cơ sở cho cuộc cách mạng xã hội trong lòng CNTB đã bị khoét rỗng, chỉ còn một cách khả thi duy nhất đi đến thắng lợi đó là đấu tranh cho CNXH và cho một nền kinh tế kế hoạch hóa dân chủ.

    Phản hồi: 

    Tôi đã xem hết phần 1 của bài này . Đáng chú ý tác giả thực thụ của bài này là người Trung Quốc . Tài liệu dẫn có cả tài liệu của nhà xuất bản Sự thật Hanoi mà ai đã đọc đều thấy không còn là sự thật .
    Bên cạnh những lý luận rối rắm của Marx , Engels , có những lời bàn “ Mao Tôn Cương “ của tác giả xen vào với một mũi tên bắn 2 đích làm tôi thấy cần phản hồi trên Dân Luận như sau :
    Từ cuối thế kỷ 19 đến giữa TK 20 , chủ nghĩa cộng sản như một nạn dịch lan tràn khắp Tây Âu và một số nước Châu Á ( Malaysia , Indonesia , Trung Quốc , Việt Nam …) và nó đã gây biết bao tai họa cho loài người . Ở sát nước Nga , các nước Bắc Âu đã không tránh khỏi sự đe dọa của nạn dịch này . Thụy Điển đã tránh được một cuộc cách mạng vô sản , do một số người chịu ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng 10 Nga chủ trương , vì vậy chủ nghĩa Xã hội-Dân chủ ở Thụy Điển tồn tại và trở thành biểu tượng xã hội dân chủ của thế giới đương đại .
    Từ 1991 , CNCS đã bị xóa bỏ trên phạm vi toàn thế giới nhưng hệ tư tưởng của nó vẫn còn tồn tại ở CHNDTH và Việt Nam , ở một biến thái mới . Tuyên ngôn đảng cộng sản do Marx và Engels đồng tác giả , công bố năm 1848 chủ trương xóa bỏ tư hữu , xóa bỏ buôn bán là những quan điểm phản lại sự tiến hóa của xã hội loài người . Xét riêng khía cạnh này , Marx và Engels đáng bị lên án . Khi các đệ tử trung thành đặc biệt với Tuyên ngôn đảng cộng sản của Marx và Engels là cộng sản Pôn Pốt nắm chính quyền , chúng lập tức xóa bỏ tư hữu , xóa bỏ buôn bán . Xã hội Campuchia khi đó là những công xã khổng lồ , xã hội không dùng tiền để trao đổi hàng hóa và cộng sản Pôn Pốt đã tiến hành cuộc diệt chủng đối với chính đồng bào của chúng , để xác lập nhanh chóng Chủ nghĩa cộng sản hiện thực trên đất Campuchia .
    Khi Dân Luận đăng bức thư của ông Lê Công Giàu , nhiều người muốn tìm hiểu thêm về chủ nghĩa xã hội – dân chủ và Thụy Điển . Giới thiệu mô hình Thụy Điển là việc nên làm nhưng tránh vô tình tuyên truyền không công cho cái xác chết chủ nghĩa cộng sản . Do đó , đề nghị Dân Luận xem kỹ nội dung các bài dự định đăng và nên có sự chọn lọc cần thiết , với tinh thần “ trục độc “ theo cách nói của Trần Đĩnh .
    Hòang Linh

    Phản hồi: 

    [quote="Lê Tám (khách viếng thăm)"]Ý kiến Thiện Hoàng chỉ là ý kiến một người . Nhiều người , trong đó có cả đảng viên cộng sản đang có thẻ đảng , sau khi xem thư của ông Lê Công Giầu , muốn hiểu thêm về chủ nghĩa xã hội dân chủ và Thụy Điển .[/quote]

    Tôi cũng đồng ý với độc giả Thiên Hoàng.
    Tuy nhiên, vấn đề không phải là có nhiều người hay ít người, trong đó có cả đảng viên cộng sản đang có thẻ đảng thích cái "chủ nghĩa xã hội dân chủ và Thụy Điển"

    Vấn đề là các anh/chị/ông/bà muốn gì, thích gì thì mặc các anh/chị/ông/bà, các anh/chị/ông/bà cứ vục đầu vào đó mà tự sướng với nhau, các anh/chị/ông/bà không đuọc dùng bọn "trung với đảng", bọn "chỉ biêt còn đảng còn mình" ăn lương do tiền thuế của nhân dân đóng góp mà "bạo lực cách mạng" mà cưỡng bức, áp đặt cái thích riêng của các anh/chị/ông/bà lên đất nước dân tộc VN, như bọn cộng sản Hồ chí Minh & bọn cộng sản VNDCCH vong bản ngoại lai tay sai giặc tàu & bọn cộng sản Lao động Tàu đẻ tội ác đã đang làm, áp đặt cái chủ nghĩa cộng sản tội ác, cái chủ nghĩa xã hội đen tối độc ác của chúng lên đất nước dân tộc VN

    các anh/chị/ông/bà không đuọc rước ngoại bang Tàu cộng vào VN, dựa vào ngoại bang Tàu cộng mà cưỡng bức áp đặt cái chủ nghĩa, các ý thích riêng của các anh/chị/ông/bà lên đất nước dân toc VN như bọn cộng sản Hồ chí Minh & bọn cộng sản VNDCCH vong bản ngoại lai tay sai giặc tàu & bọn cộng sản Lao động Tàu đẻ tội ác đã đang làm, áp đặt cái chủ nghĩa cộng sản tội ác, cái chủ nghĩa xã hội đen tối độc ác của chúng lên đất nước dân tộc VN, reo rắc biết bao tang thưong, tang thương vô cùng, tang thương triền miên trên đất nước dân tộc VN suốt 70 năm qua chưa ngừng

    Phản hồi: 

    Tôi chịu cách bình phẩm của anh Thiên Hoàng, Mong Lê Giang stop phần 2 bài này lại, nhường "đất" cho bài khác thiết thực hơn.
    Tựu chung lại, cốt lõi trong thực hiện chính sách của TĐ: của dân, vì dân và cho dân. Nhưng cũng không vắng những cú Lừa dân đâu nhé!

    Phản hồi: 

    Ý kiến Thiện Hoàng chỉ là ý kiến một người . Nhiều người , trong đó có cả đảng viên cộng sản đang có thẻ đảng , sau khi xem thư của ông Lê Công Giầu , muốn hiểu thêm về chủ nghĩa xã hội dân chủ và Thụy Điển . Dân Luận nên đăng tiếp . Nhưng nên cô ngắn lại , đừng quá dài dòng .
    Lê Tâm

    Phản hồi: 

    Kiến thức của tác giả này vừa sâu, vừa rộng, uyên thâm thật đáy nhưng không dùng được, thừa thời gian cũng không nên đọc mà nên bàn về những vấn đề khác thiết thực hơn. CN Mác thì chính người ở quê hương nó là Đức cũng không thèm đọc và thế giới vứt vào sọt rác từ lâu rồi. Chỉ có những dân tộc ngu dốt, lạc hậu như ta mới đem ra tụng niệm mà thôi.
    Mà thực ra thì các nhà lãnh đạo của ta cũng đem CN Mác ra hù họa đánh lừa nhân dân chứ bản thân họ cũng có theo đeó đâu. Nay các quan chức dán mác CS đã theo CHỦ NGHĨA TÀO VI (VÌ TAO) rồi. Người CS đéo gì mà giàu nứt đố đổ vách.
    Người Thụy điển cũng như nhiều dan tộc văn minh khác trên thế giới, người ta coi CN này ,CN nọ chỉ là phương tiện để làm cho dân giầu nước mạnh. Còn Hộ trước kia và những CS sau này như Trong Lú thì coi CNCS như một cứu cánh, tức là coi nó như cái mức để phấn đấu, nhưng cũng đéo biết hình dáng mặt mũi nó như thế nào. Nay nên bàn để Đảng lên trên hay để Tổ quốc lên trên, để dân tộc đất ước lên trên hay để lợi ích nhóm lên trên? Thế giới dã tổn kết: nhân loại có 3 thảm hạo: một là CN phát xít. hai là CNCS, ba là Hồi giáo cực đoan. Nhớ một câu của chính tướng lãnh xô viết là Zu cốp nguyên soái Liên xô nói khi Hồng quan liên xô tiến vào Rumani: " Người Rumani bảo thà sống dươí chế độ phát xít còn hơn sống dưới gót giâỳ của CS."
    Mong Lê Giang stop phần 2 bài này lại, nhường "đất" cho bài khác thiết thực hơn.