Nhân luận bàn về quyền im lặng trong dự thảo Bộ Luật Hình Sự: Quyền Im Lặng ở Hoa Kỳ

  • Bởi Admin
    28/05/2015
    1 phản hồi

    CTV Dân Luận lược dịch

    Quyền giữ im lặng được đặt trong Tu Chính Án thứ Năm của Hiến Pháp Hoa Kỳ, do đó việc một người yêu cầu được giữ im lặng, không đưa ra những lời thú nhận mang tính tự buộc tội cho mình, được biết như là “áp dụng Tu Chính Án thứ Năm”.

    Quyền giữ im lặng bảo vệ kẻ phạm tội cũng như người vô tội: Nó có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình thẩm vấn của cảnh sát, một phương pháp mà cảnh sát vẫn thường sử dụng để thu thập bằng chứng dưới hình thức lời thú nhận của kẻ tình nghi.

    Không được lấy lời thú tội bằng cưỡng bức

    Nếu bị cáo không có quyền giữ im lặng, cảnh sát có thể áp dụng các hình thức tra tấn, đe dọa hoặc làm đau đớn, khiến một người vô tội phải thú nhận để tránh tiếp tục bị sự trừng phạt. Trong thực tế, trong lịch sử nước Mỹ đã có những lần cảnh sát điều tra đánh đập nghi phạm để lấy được những lời thú tội, mà trường hợp tàn bạo nhất diễn ra năm 1936, trong vụ án Brown chống lại Mississippi. Cảnh sát cáo buộc ba người đàn ông da đen tham gia vào một vụ giết người, và và ba người này bị đánh cho đến khi họ thú nhận. Tòa án tiểu bang Mississippi kết án những người đàn ông này tử hình, nhưng Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ đã đảo ngược phán quyết.

    Những lời thú nhận thu được bằng cách tra tấn thể xác không thể là cơ sở để kết án. Lý do đằng sau lập luận pháp lý này là lời thú tội cưỡng bức xúc phạm đến phẩm giá con người, phá hoại sự toàn vẹn của chính phủ, và có xu hướng không đáng tin cậy.

    Điều kiện để sử dụng quyền chống tự buộc tội

    Quyền chống tự buộc tội chỉ chủ yếu áp dụng đối với những lời thú nhận, và tòa chỉ gạt bỏ tính hợp pháp của những lời tự buộc tội nếu nó mang cả hai đặc điểm là “bị cưỡng bức” và “là lời khai”. Nếu một nghi phạm từ bỏ quyền giữ im lặng và tình nguyện thú nhận, thì chính quyền có thể dùng các lời thú tội này để kết án nghi phạm. Tu Chính Án Thứ Năm bảo vệ nhân chứng bằng cách cho phép họ không đưa ra những lời khai và trả lời câu hỏi thẩm vấn mà từ đó có thể buộc tội họ. Tu Chính Án Thứ Năm không áp dụng cho các bằng chứng vật lý (ví dụ, việc lấy mẫu máu khi có lý do để tin rằng nghi phạm đã lái xe trong khi say rượu, thì nghi phạm không thể viện quyền im lặng để từ chối việc lấy mẫu máu).

    Lời thú nhận và quyền được tư vấn pháp lý

    Quyền giữ im lặng và quyền được tư vấn pháp lý (trong Tu Chính Án Thứ Sáu) có liên hệ như thế nào? Trong vụ án Escobedo chống lại Illinois (1964), Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ đã yêu cầu cảnh sát phải thẩm vấn bị can với sự có mặt của luật sư đại diện. Bất cứ khi nào các sĩ quan cảnh sát chuyển câu hỏi từ điều tra sang cáo buộc, bị cáo có quyền tư vấn luật sư.

    Cảnh báo Miranda

    Sau vụ Escobedo thì Tòa án Tối Cao Hoa Kỳ đã đặt ra các thủ tục thẩm vấn nghiêm ngặt đối với nghi phạm hình sự để bảo vệ quyền giữ im lặng của họ. Lời thú nhận của Miranda trong vụ án bắt cóc và hiếp dâm đã được cảnh sát thu thập mà không có sự hiện diện của luật sư, và cũng không thông báo cho ông ta về quyền được giữ im lặng của mình, do đó tòa đã bác bỏ không chấp nhận lời thú tội này như một bằng chứng trước tòa.

    Quyết định này, trong vụ Miranda chống lại Arizona (1966), bắt buộc cảnh sát phải cảnh báo nghi phạm các quyền của mình trước khi họ bị bắt. Trước khi đặt bất kỳ câu hỏi nào cho nghi phạm đang bị tạm giữ, cảnh sát phải báo cho nghi phạm rằng họ có quyền giữ im lặng, rằng bất cứ điều gì họ nói có thể được sử dụng chống lại họ trước tòa, và họ có quyền có luật sư. Nghi phạm có thể tự nguyện từ bỏ các quyền này. Trong buổi thẩm vấn, nếu nghi phạm nói rằng anh / chị ta muốn giữ im lặng, thì cảnh sát phải dừng thẩm vấn. Bên cạnh đó, vụ Miranda đặt ra quy tắc rằng mọi lời thú tội thu được mà không có sự cảnh báo trước cho bị can về các quyền của mình đều không được chấp nhận trước tòa án.

    Sự thu hẹp của Miranda

    Đảng Bảo thủ nói cảnh báo Miranda chính là một hình thức "còng tay" cảnh sát. Trong những năm 1970, 1980 và 1990, Tòa Án Tối Cao đã thu hẹp phạm vi của Miranda. Mặc dù chưa phán quyết bãi bỏ Miranda, tòa đã hạn chế tác động của nó. Ví dụ trong vụ Harris chống lại New York (1971), Tòa án Burger phán quyết rằng tuyên bố của một cá nhân – dù chưa được nghe lời cảnh báo Miranda – vẫn có thể được sử dụng để thử thách độ tin cậy của lời khai của bị can tại phiên tòa. Tại phiên tòa New York chống lại Quarles (1984), Tòa án tạo ra các ngoại lệ vì an toàn công cộng: cảnh sát có thể đặt câu hỏi trước khi đưa ra những lời cảnh báo Miranda nếu câu hỏi đó nhằm đối phó với một tình huống khẩn cấp ảnh hưởng đến an toàn công cộng. Trong phiên tòa Nix chống lại Williams (1984), Tòa án đã đưa ra một ngoại lệ khác: Tòa cho phép đưa ra những bằng chứng “được thu thập bất hợp pháp” nếu tòa xác định rằng cảnh sát không thể phát hiện được những bằng chứng này nếu không đặt ra những câu hỏi không phù hợp cho bị cáo.

    Khi nào cảnh sát phải đọc cảnh báo Miranda:
    Cảnh báo Miranda chỉ áp dụng khi cảnh sát bắt giam bị can.

    Khi nào cảnh báo Miranda là không cần thiết:
    Cảnh sát không cần đọc cảnh báo Miranda trong những tình huống sau:
    + Khi cảnh sát đã không tập trung nghi vấn vào nghi can, và đang thẩm vấn các nhân chứng tại hiện trường vụ án.
    + Khi một người tình nguyện cung cấp thông tin trước khi cảnh sát đặt câu hỏi.
    + Khi cảnh sát dừng lại và thẩm vấn nhanh một người trên đường phố.
    + Khi cảnh sát dừng bạn vì lý do vi phạm luật giao thông.

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi