Joseph E. Stiglitz – Chúng Ta Không Để Cho Doanh Nghiệp Quốc Tế Lạm Dụng TPP Trục Lợi

  • Bởi Admin
    26/05/2015
    12 phản hồi

    Joseph E. Stiglitz
    Đỗ Kim Thêm chuyển ngữ

    Hoa Kỳ và thế giới đang tham gia vào một cuộc tranh luận lớn về các thỏa ước thương mại mới. Các hiệp ước như vậy thường được gọi là "các hiệp định về tự do mậu dịch". Trong thực tế, đây là các hiệp định mậu dịch được quản lý sao cho phù hợp với các lợi ích của doanh nghiệp, mà phần lớn là ở Hoa Kỳ và Liên Âu. Hiện nay, các thương thảo như vậy thường được đề cập như là "quan hệ đối tác", như trong các Quan Hệ Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nhưng các hiệp định này không phải là các đối tác bình đẳng: Hoa Kỳ đặt ra điều kiện cho đối tác một cách hiệu quả. May mắn thay, "các đối tác" với Hoa Kỳ đang ngày càng trở nên đề kháng hơn.

    Để hiểu lý do tại sao là chuyện không khó. Các thỏa thuận này vượt qua các vấn đề mậu dịch, quản lý đầu tư cũng như quyền sở hữu trí tuệ, áp đặt những thay đổi cơ bản về các khuôn khổ pháp lý, tư pháp và điều tiết trong nhiều nước, mà không gây ảnh hưởng nội tại hoặc tạo trách nhiệm giải trình thông qua các định chế dân chủ.

    Có lẽ phần gây khó xử nhất - và không trung thực nhất - của thỏa thuận như vậy liên quan đến việc bảo vệ nhà đầu tư. Tất nhiên, các nhà đầu tư phải được bảo vệ chống lại các rủi ro mà các chính phủ lừa đảo sẽ tịch thu tài sản của họ. Nhưng đó không phải là những gì mà những quy định này đề cập tới.

    Trong những thập niên gần đây, đã có rất ít các biện pháp truất quyền sở hữu, và các nhà đầu tư muốn tự bảo vệ có thể mua bảo hiểm của cơ quan Multilateral Investment Guarantee, một chi nhánh của Ngân hàng Thế giới (Hoa Kỳ và các chính phủ khác cung cấp loại bảo hiểm tương tự). Tuy nhiên, Hoa Kỳ đang yêu cầu có các quy định như vậy trong TPP, mặc dù một số "đối tác" có được cơ chế bảo vệ tài sản và hệ thống tư pháp, mà nó cũng tốt như của riêng mình.

    Mục đích thực sự của các quy định này là để cản trở các luật lệ liên quan đến y tế, môi trường, an toàn, và, vâng, thậm chí còn đến các quy định tài chính nhằm bảo vệ nền kinh tế và các công dân của Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp có thể kiện các chính phủ để đòi bồi thường toàn bộ khi mức doanh thu dự kiến trong tương lai bị giảm do những thay đổi điều tiết.

    Đây không chỉ là một khả năng lý thuyết. Philip Morris đang kiện Uruguay và Úc khi có yêu sách về các nhản hiệu cảnh báo in trên các bao thuốc lá. Phải thừa nhận một điều là cả hai nước này đã đi xa hơn Mỹ một chút, khi bắt phải đưa các hình ảnh minh hoạ cho thấy hậu quả của việc hút thuốc lá. Việc dán nhản cảnh báo là hữu hiệu. Nó làm giảm việc hút thuốc. Vì vậy, Philip Morris đang đòi được bồi thường cho doanh thu bị mất.

    Trong tương lai, nếu chúng ta phát hiện có một số sản phẩm khác gây hại sức khỏe (thí dụ hoá chất amiăng, gây bịnh phổi), thay vì phải lo đối phó với các vụ kiện tạo ra các án phí áp đặt cho chúng ta, các nhà sản xuất có thể khởi kiện các chính phủ với lý do kiềm chế họ trong việc giết người nhiều hơn. Tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra nếu chính phủ của chúng ta áp dụng các quy định nghiêm ngặt hơn để bảo vệ chúng ta thoát khỏi các hiệu ứng do khí thải của nhà kính.

    Khi tôi chủ trì Hội đồng Tư vấn Kinh tế của Tổng thống Bill Clinton, các nhà hoạt động chống đối trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đã cố tìm cách ban hành một quy định tương tự như truất hữu, còn gọi là "biện pháp can thiệp”. Họ biết rằng một khi luật được ban hành, các quy định điều tiết sẽ được đình chỉ áp dụng, đơn giản chỉ vì chính phủ không đủ khả năng để trả tiền bồi thường. May mắn thay, chúng tôi đã thành công trong việc đánh bại sáng kiến này, cả tại các tòa án và Quốc hội Hoa Kỳ.

    Nhưng bây giờ các nhóm áp lực tương tự đang cố gắng lẫn tránh các thủ tục dân chủ bằng cách đưa các quy định đó vào trong dự luật mậu dịch, mà nội dung của nó không cho công chúng biết (nhưng không giử bí mật đối với các doanh nghiệp đang theo đuổi lợi ích của họ). Nhờ các tin tức rò rỉ, và cuộc nói chuyện với các quan chức của chính phủ mà họ là những người dường như thiết tha hơn với các thủ tục dân chủ, nên chúng ta biết những gì đang xảy ra.

    Nền tảng của hệ thống chính phủ Hoa Kỳ là một hệ thống tư pháp công khai không thiên vị, với các tiêu chuẩn pháp lý được xây dựng qua nhiều thập niên, dựa trên nguyên tắc minh bạch, theo tiền lệ, và tạo cơ hội để khiếu nại các quyết định bất lợi. Tất cả điều này đang được dẹp sang một bên, khi các hiệp định mới yêu cầu cho có được một cơ chế trọng tài tư nhân, không minh bạch, và rất tốn kém. Hơn nữa, sự sắp xếp này thường đầy rẫy những xung đột lợi ích. Ví dụ như các trọng tài viên có thể là một "quan tòa" trong một vụ kiện này và là một người biện hộ trong một vụ kiện khác có liên quan.

    Các thủ tục tố tụng quá tốn kém đến độ Uruguay phải nhờ đến Michael Bloomberg và các người Mỹ hằng sản khác có quan tâm đến vấn đề sức khỏe để tự bảo vệ chống lại Philip Morris. Và, mặc dù các doanh nghiệp có thể kiện, những doanh nghiệp có thể không. Nếu có sự vi phạm các kết ước khác - thí dụ như dựa trên các tiêu chuẩn về lao động và môi trường, - thì các công dân, các công đoàn và các nhóm xã hội dân sự không có cách thượng cầu để cứu xét.

    Nếu có một cơ chế giải quyết tranh chấp đơn phương mà lại vi phạm các nguyên tắc cơ bản, đó là vấn đề ở đây. Đó là lý do tại sao mà tôi đã tham gia cùng với các chuyên gia pháp lý thượng thặng của Hoa Kỳ, bao gồm cả những vị thuộc các Đại học Harvard, Yale, và Berkeley, khi họ viết một bức thư cho Tổng thống Barack Obama giải thích những thỏa thuận này gây tổn hại như thế nào đến hệ thống pháp luật của chúng ta.

    Các người Mỹ ủng hộ các thỏa ước như thế chỉ ra rằng cho đến nay Mỹ đã chỉ bị kiện một vài lần, và trong một vài vụ Mỹ đã không thua kiện.Tuy nhiên, các doanh nghiệp chỉ học tập làm thế nào để sử dụng các hiệp định này để sao cho đem lợi cho họ.

    Và các luật sư cao giá của doanh nghiệp tại Mỹ, châu Âu, và Nhật Bản sẽ có khả năng vượt qua các luật sư có mức lương thấp của chính phủ, khi họ cố gắng để bảo vệ lợi ích công cộng. Tệ hại hơn nữa là tình trạng mà các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến có thể xây dựng các chi nhánh ở các nước thành viên, thông qua đó để họ đầu tư trở lại nguyên xứ, và sau đó khởi kiện, tạo cho họ một kênh mới để phong toả các luật lệ.

    Nếu như có một nhu cầu bảo vệ quyền tư hữu tốt hơn, và nếu như có một cơ chế giải quyết tranh chấp tư nhân được xem là cao hơn so với một cơ quan tư pháp của chính phủ, thì chúng ta nên thay đổi luật pháp không chỉ cho các doanh nghiệp nước ngoài giàu có, mà giúp cho các công dân và các doanh nghiệp nhỏ của chúng ta. Nhưng chưa có đề xuất nào cho thấy rằng đây là trường hợp phải giải quyết.

    Luật pháp quy định thể loại của nền kinh tế và xã hội trong đó mọi người đang sống. Các luật lệ này gây ảnh hưởng đến thẩm quyền thương thảo tương đối, có ảnh hưởng quan trọng đối với sự bất bình đẳng, một vấn đề ngày càng tăng lên trong toàn thế giới. Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên cho phép các doanh nghiệp giàu có sử dụng quy định tiềm ẩn trong cái gọi là hiệp định mậu dịch để tạo ra các loại mệnh lệnh cho chúng ta sẽ phải sống trong thế kỷ XXI không. Tôi hy vọng người dân ở Mỹ, châu Âu, và Thái Bình Dương sẽ trả lời với một tiếng không thật vang dội.

    __________________________

    Joseph E. Stiglitz đoạt giải Nobel về Kinh tế học, Giáo sư Đại học Columbia, Chủ tịch Hội Đồng Tư Vấn Kinh Tế của Tổng thống Bill Clinton. Ông là Phó Chủ tịch và Kinh tế Trưởng của Ngân Hàng Thế giới. Tác phầm mới nhất của ông viết chung với Bruce Greenwald là Creating a Learning Society: A New Approach to Growth, Development, and Social Progress.

    Nguyên tác: The Secret Corporate Takecover, Project Syndicate. Tựa đề bản dịch là của người dịch.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    Mẹ mấy thằng cánh tả chuyên nghề bài Mỹ sao không thấy thằng nào phân tích lợi hại khi ký FTA với liên minh Á Âu nhỉ? Hay chúng nghĩ liên minh Á Âu toàn quân ta cả, toàn vô sản anh em nên toàn tốt tốt. Theo Putin đại đế chắc ăn ngon ngủ yên hơn?

    Investment and Investor-State Dispute Settlement

    There are now more cases of private investors challenging environmental, health, and other regulations in nations – even nations with strong and independent judicial systems and rules of law. Just last month, an investor won a NAFTA ISDS case in which the government of Nova Scotia denied a permit to develop a quarry in an environmentally sensitive area.

    Other investment disputes involve ‘plain packaging’ of tobacco products in Australia aimed at protecting public health and pharmaceutical patent requirements in Canada. This issue is receiving heightened scrutiny among negotiators and from a broad range of interested parties. Some of our TPP partners do not support ISDS or are seeking safeguards to ensure that nations preserve their right to regulate. The Economist magazine, the Cato Institute, and the Government of Germany (the birthplace of ISDS) have also recently expressed concerns with ISDS.

    As far back as 2007, when the May 10th Agreement was reached, we recognized growing concerns over investment and ISDS. We insisted that our trade agreements with Peru, Panama, Colombia, and Korea include new preambular language clarifying that the investment obligations in those agreements were not intended to provide foreign investors with greater substantive rights than U.S. investors have under U.S. law.

    Over the past few years, our concerns over the investment text and ISDS have become even greater. Nevertheless, our negotiators have refused to include the May 10th Agreement preambular language in TPP, and the text of the investment chapter in TPP is basically the same as the model adopted 10 years ago, even though conditions have changed dramatically in the past 10 years, and calls for changes to or elimination of the chapter have intensified. Despite proposals to include new safeguards in the ISDS mechanism, the Administration has not made any attempts to incorporate them.

    The Hatch-Wyden-Ryan TPA investment negotiating objective is the same as it was 12 years ago, and again is obsolete.

    Worker Rights

    TPP does not yet ensure compliance by TPP parties that have labor laws and practices that fall far short of international standards contained in the May 10th Agreement even though TPP is expected to include the May 10th Agreement language.

    Vietnam presents the greatest challenge we have ever had in ensuring compliance. Workers there are prohibited from joining any union independent of the communist party. While the Administration is discussing these issues with Vietnam, Members of Congress and stakeholder advisors have not yet seen any proposal to address these critical issues.

    On a recent trip to Vietnam, I met a woman who had been thrown in jail for four years for trying to organize workers in an independent union. We cannot simply have the right written obligation in the agreement and expect that some future dispute settlement panel is going to ensure meaningful change on the ground for workers. The Administration has not committed to ensuring that all changes to laws and regulations are made before Congress votes – as was the case with Peru, Panama and Colombia.

    The Administration also does not make available to Members of Congress any “consistency plan” they are discussing with Vietnam so that we can evaluate the changes to Vietnamese laws and practices they are seeking. But, from what I understand, any plan will fall far short of bringing Vietnam into compliance with basic ILO standards, as required under the May 10th Agreement. For example, I am concerned Vietnam may refuse to agree to allow industry-wide unions to form – a clear inconsistency with ILO standards.

    Our negotiators also have refused to accept our suggestion that an independent panel be established from the beginning to ensure compliance with the labor obligations and expedite a dispute. Without such a structure, future cases will need to be built from scratch by outside groups and submitted to the U.S. government, a process which has taken several years for the Department of Labor to act on in Honduras and Guatemala.

    The President said recently that Vietnam “would even have to protect workers’ freedom to form unions – for the first time.” But the TPP that USTR is negotiating seems far from ensuring that those words are real.

    http://levin.house.gov/levin-trade-speech-withhold-fast-track-until-tpp-course

    VN2006A viết:
    cách đây 2 giờ 36 phút

    Hiển nhiên nhà nước là công cụ của bọn TB! Thế giới càng tiến bộ thì quyền kiểm soát công cụ của chúng càng thu hẹp lại. Tuy nhiên chúng vẫn là kẻ đặt ra "luật chơi", trên răng dưới dế thì được phép chơi vui, nhưng không được thay đổi luật chơi, trừ khi đồng lòng phá bĩnh, làm cuộc chơi mất vui thì bọn TB nghĩ lại:

    https://www.danluan.org/tin-tuc/20141007/dani-rodrik-nguoi-giau-nam-quyen-nhu-the-nao

    Kiện cáo cũng là 1 cách gây áp lực "ôn hoà"!

    Chú hèn thế, trước tiên hãy tập hợp anh em vô sản ở Đức vùng lên làm cách mạng sau đó mở rộng sang Mỹ thế mới giải quyết vấn đề một cách triệt để, đừng để bỏn khinh bỉ. Anh dẫn đây Tuyên ngôn Cộng sản để chú xem lại lập trường tranh đấu của mình: :)

    Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Mục tiêu cuối cùng của họ là lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc Cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới.

    Hiển nhiên nhà nước là công cụ của bọn TB! Thế giới càng tiến bộ thì quyền kiểm soát công cụ của chúng càng thu hẹp lại. Tuy nhiên chúng vẫn là kẻ đặt ra "luật chơi", trên răng dưới dế thì được phép chơi vui, nhưng không được thay đổi luật chơi, trừ khi đồng lòng phá bĩnh, làm cuộc chơi mất vui thì bọn TB nghĩ lại:

    https://www.danluan.org/tin-tuc/20141007/dani-rodrik-nguoi-giau-nam-quyen-nhu-the-nao

    Kiện cáo cũng là 1 cách gây áp lực "ôn hoà"!

    VN2006A viết:

    cách đây 50 phút 10 giây

    Tất nhiên là nếu kiện thì có thể thắng, có thể thua!!!

    nhưng trong bài tác giả cũng nói rồi, là các luật sư được trả lương cao của các công ty Mỹ, Âu, Nhật sẽ có xác suất cao là sẽ áp đảo đám luật sư nhà nước lương thấp 3 cọc, 3 đồng.

    Trường hợp Uruguay kiện Phillip Morris là 1 ví dụ, tốn kém đến mức Uruguay phải nhờ đến các nhà giầu Mỹ hảo tâm có quan tâm đến vấn đề sức khoẻ quyên trợ.

    Bọn TB đã tính đến chuyện làm cho tốn kém đến nỗi bọn nhà nước không theo nổi (bằng cách mở một loạt các vụ kiện tương tự làm chiến trường phụ chẳng hạn). Chúng đã lừa đảo mấy trăm năm nay, nâng lên thành khoa học. Có thắng được chúng thì cũng chỉ còn đủ sức phều phào mà thôi. Tốt nhất là chặn từ đầu!

    Hố hố, anh tưởng theo ML thì nhà nước là công cụ của bọn TB, té ra theo chú thì đéo phải. Hoang mang quá, biết giờ ní nuận thế nào cho đúng đây. Đáng lý mấy thằng cánh tả phải biết điều đó thế mà lại còn xui con em đi kiện tốn tiền mệt người. Hay là chúng cũng chấm mút chút gì trong chuyện kiện cáo?

    THỬ ĐỐ CHƠI? (khách viếng thăm)

    được quyền kiện là một chuyện, kiện có thắng hay không là chuyện khác, có khi kiện lại bị thua ngược: Apotex v. the United States; Centurion Health Corporation v. Canada; Chemtura Corporation v. Canada; etc.

    Tất nhiên là nếu kiện thì có thể thắng, có thể thua!!!

    nhưng trong bài tác giả cũng nói rồi, là các luật sư được trả lương cao của các công ty Mỹ, Âu, Nhật sẽ có xác suất cao là sẽ áp đảo đám luật sư nhà nước lương thấp 3 cọc, 3 đồng.

    Trường hợp Uruguay kiện Phillip Morris là 1 ví dụ, tốn kém đến mức Uruguay phải nhờ đến các nhà giầu Mỹ hảo tâm có quan tâm đến vấn đề sức khoẻ quyên trợ.

    Bọn TB đã tính đến chuyện làm cho tốn kém đến nỗi bọn nhà nước không theo nổi (bằng cách mở một loạt các vụ kiện tương tự làm chiến trường phụ chẳng hạn). Chúng đã lừa đảo mấy trăm năm nay, nâng lên thành khoa học. Có thắng được chúng thì cũng chỉ còn đủ sức phều phào mà thôi. Tốt nhất là chặn từ đầu!

    Gần đây một nhà bank lớn của Pháp BNPParisbas bị tòa án Mỹ phạt vài tỉ USD vì đã vi phạm luật cấm vận.

    Tôi có thắc mắc là nếu vài hoạt động của một công ty không bị luật quốc gia của nước đó cấm thì có thể bị luật của các nước khác trong TPP kiện hay không nếu đưa hàng hóa qua các nước này ?

    Chính quyền VN cần tổ chức giải thích, tranh luận sâu rộng trong nước, từ các nhóm chuyên gia cho đến dân thường về TPP để tóm tắc tổng hợp những cái lợi, cái hại trong mỗi lãnh vực ...

    được quyền kiện là một chuyện, kiện có thắng hay không là chuyện khác, có khi kiện lại bị thua ngược: Apotex v. the United States; Centurion Health Corporation v. Canada; Chemtura Corporation v. Canada; etc.

    Theo như trong bài viết thì việc kiện cáo bây giờ thành chuyện to, vì nước chủ nhà nếu ra bất cứ 1 luật lệ/ quy định nào để điều chỉnh tình hình trong nước làm giảm doanh thu của công ty nước ngoài (chủ yếu là Âu và Mỹ) đều có thể bị kiện đòi bồi thường!!!

    Thật chẳng khác gì chiến tranh thuốc phiện ngày xưa giữa Anh và Trung Hoa!

    Mang thuốc phiện vào bán. Triều đình Mãn Thanh cấm vì có hại cho sức khoẻ của người dân và gây ra các tệ nạn XH khác! Tức là ra luật lệ "điều tiết"!!!

    Bọn TB mang quân vào gây hấn, tạo chiến tranh, đòi bòi thường!!!

    Có điều ở thế kỷ 21 người ta tránh đánh nhau, 1 phần vì nhân dân các nước thứ 3 anh hùng, sẵn sàng kháng chiến thần thánh/ thánh chiến chống đế quốc cứu nước. 1 phần vì phí tổn cao, đánh nhau không lợi. Cho nên người ta dùng con đường kiện cáo, chỉ xúi bẩy bọn khác đánh nhau thôi.

    Giống kiểu nghị Quế, nghị Lại xui anh Pha, anh Thi choảng nhau, cho cả 2 bên vay tiền thu lợi, biến thành con nợ trường kỳ, làm cu li đến đời con, đời cháu vẫ chưa hết nợ!

    Thử đố chơi: việc công ty nước ngoài có quyền khởi kiện nước chủ nhà ra trước tòa án trọng tài quốc tế - chứ không phải tại các tòa án trong nước - đã có từ 1959 và thuộc phạm vi công pháp quốc tế. Nhưng sao bây giờ thành chuyện lớn?

    Nguyên tắc dịch là không dịch "chữ" mà nên dịch "nghĩa".

    Một ví dụ ở đây là từ "regulatory" (dùng kèm với từ "framework") dịch thành "điều tiết" (?!)

    Bác Đỗ Kim Thêm hay dịch các bài hợp với ý mình, nêu ra các mặt trái của vấn đề, trái ngược với truyền thống "tung hô" của các chiến sỹ chém gió!!!

    Tuy nhiên theo thiển ý, bác dịch bài hơi vội, có 1 số chỗ "có thể" dẫn đến hiểu sai nghĩa! Tôi mạo muội "hiệu đính" lại bài của bác. Cũng lại dịch vội trong lúc làm việc. Đề nghị quần chúng cứ tuỳ nghi chỉnh sửa!

    Cuộc thâu tóm giấu mặt

    Hoa Kỳ và thế giới đang tham gia vào một cuộc tranh luận lớn về các thỏa ước thương mại mới. Các hiệp ước như vậy thường được gọi là "các hiệp định về tự do mậu dịch". Trong thực tế, đây là các hiệp định mậu dịch được cắt tỉa sao cho phù hợp với các lợi ích của doanh nghiệp, chủ yếu là doanh nghiệp của Hoa Kỳ và Liên Âu. Hiện nay, các thương thảo như vậy thường được đề cập như là "quan hệ đối tác", như Quan Hệ Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Nhưng các mối quan hệ này không phải là quan hệ giữa các đối tác bình đẳng: Hoa Kỳ thật ra là kẻ đặt ra "luật chơi". May mắn thay, "các đối tác" của Hoa Kỳ đang ngày càng trở nên „cứng đầu“ hơn.

    Không khó nhận ra là tại sao. Các thỏa thuận này vượt xa khỏi phạm vi về thương mại, quản lý đầu tư cũng như quyền sở hữu trí tuệ, tìm cách áp đặt những thay đổi cơ bản về khuôn khổ pháp lý, tư pháp và điều tiết trong nhiều nước đối tác, mà không có sự tham gia của, hoặc có trách nhiệm giải trình trước các định chế dân chủ.

    Có lẽ bất công nhất - và không trung thực nhất - là phần nhắm đến việc bảo vệ nhà đầu tư của các thỏa thuận này. Tất nhiên, nhà đầu tư phải được bảo vệ chống lại các rủi ro mà các chính phủ lừa đảo sẽ tịch thu tài sản của họ. Nhưng đó không phải là những gì mà những thỏa thuận này đề cập tới.

    Trong những thập niên gần đây, đã có rất ít các biện pháp truất quyền sở hữu, và các nhà đầu tư muốn tự bảo vệ có thể mua bảo hiểm của cơ quan Multilateral Investment Guarantee, một chi nhánh của Ngân hàng Thế giới (Hoa Kỳ và các chính phủ khác cung cấp loại bảo hiểm tương tự). Tuy nhiên, Hoa Kỳ đang yêu cầu có các quy định như vậy trong TPP, mặc dù một số "đối tác" cũng có cơ chế bảo vệ tài sản và hệ thống tư pháp, mà nó cũng tốt không kém gì Mỹ.

    Mục đích thực sự của các quy định này là để cản trở các luật lệ liên quan đến y tế, môi trường, an toàn, và, vâng, thậm chí cả các quy chế về tài chính nhằm bảo vệ nền kinh tế và các công dân của Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp có thể kiện các chính phủ để đòi bồi thường toàn bộ nếu mức doanh thu dự kiến trong tương lai bị giảm do những thay đổi điều tiết của chính quyền.

    Đây không chỉ là một khả năng trên lý thuyết. Philip Morris đang kiện Uruguay và Úc khi có yêu sách về các nhản hiệu cảnh báo in trên các bao thuốc lá. Phải thừa nhận một điều là cả hai nước này đã đi xa hơn Mỹ một chút, khi bắt phải đưa các hình ảnh minh hoạ cho thấy hậu quả của việc hút thuốc lá. Việc dán nhãn cảnh báo đã có tác dụng. Nó làm giảm việc hút thuốc. Vì vậy, Philip Morris đang đòi được bồi thường cho doanh thu bị mất.

    Trong tương lai, nếu chúng ta phát hiện ra rằng một số sản phẩm khác gây ra vấn đề sức khỏe (hãy nghĩ đến amiăng), thay vì phải đối mặt với các vụ kiện cho các phí tổn áp đặt lên chúng ta, các nhà sản xuất có thể kiện chính phủ với lý do đã kiềm chế họ giết chết nhiều người hơn. Điều tương tự cũng có thể xảy ra nếu các chính phủ của chúng ta áp dụng các quy định nghiêm ngặt hơn để bảo vệ chúng ta khỏi các hiệu ứng của khí thải nhà kính.

    Lúc tôi còn làm chủ trì Hội đồng cố vấn kinh tế của Tổng thống Bill Clinton, các nhà hoạt động chống đối bảo vệ môi trường đã cố tìm cách ban hành một quy định tương tự gọi là „truất hữu“, Họ biết rằng một khi luật được ban hành, các quy định điều tiết sẽ không được áp dụng, đơn giản chỉ vì chính phủ không đủ khả năng để trả tiền bồi thường. May mắn thay, chúng tôi đã thành công trong việc đánh bại sáng kiến này, tại cả 2 nơi, tòa án và Quốc hội Hoa Kỳ.

    Nhưng bây giờ cũng chính các nhóm ấy đang tìm cách lẩn tránh các quy trình dân chủ bằng cách đưa các quy định đó vào trong dự luật thương mại, mà nội dung của nó được giữ kín không cho công chúng biết (nhưng không bí mật đối với các doanh nghiệp mà những nhóm này đang phục vụ). Chỉ nhờ các tin tức rò rỉ, và các cuộc nói chuyện với các quan chức của chính phủ, những người có vẻ như thiết tha hơn với các quy trình dân chủ, mà chúng ta được biết những gì đang xảy ra.

    Nền tảng của hệ thống chính phủ Hoa Kỳ là một hệ thống tư pháp công khai không thiên vị, với các tiêu chuẩn pháp lý được xây dựng qua nhiều thập niên, dựa trên nguyên tắc minh bạch, theo tiền lệ, và tạo cơ hội để khiếu nại các quyết định bất lợi. Tất cả điều này đang được dẹp sang một bên, khi các hiệp định mới yêu cầu cho có được một cơ chế trọng tài tư nhân, không minh bạch, và rất tốn kém. Hơn nữa, sự sắp xếp này thường đầy rẫy những xung đột lợi ích. Ví dụ như các trọng tài viên có thể là một "quan tòa" trong một vụ kiện này và là một người biện hộ trong một vụ kiện khác có liên quan.

    Các thủ tục tố tụng quá tốn kém đến độ Uruguay phải nhờ đến Michael Bloomberg và các người Mỹ giầu có khác có quan tâm đến vấn đề sức khỏe để tự bảo vệ chống lại Philip Morris. Và, mặc dù các doanh nghiệp có thể kiện, có những doanh nghiệp không có khả năng để kiện. Nếu có sự vi phạm các kết ước khác - thí dụ như các tiêu chuẩn về lao động và môi trường, - thì các công dân, các công đoàn và các nhóm xã hội dân sự không có quyền đòi hỏi để cứu xét.

    Nếu có một cơ chế giải quyết tranh chấp đơn phương mà lại vi phạm các nguyên tắc cơ bản, thì đó chính là cái đó. Đó là lý do tại sao mà tôi đã tham gia cùng với các chuyên gia pháp lý hàng đầucủa Hoa Kỳ, bao gồm cả những vị thuộc các Đại học Harvard, Yale, và Berkeley, viết một bức thư cho Tổng thống Barack Obama giải thích những thỏa thuận này sẽ gây tổn hại như thế nào đến hệ thống pháp luật của chúng ta.

    Những người Mỹ ủng hộ các thỏa thuận như thế chỉ ra rằng cho đến nay Mỹ chỉ bị kiện một vài lần, chưa thua kiện lần nào.Tuy nhiên, các doanh nghiệp chỉ học tập làm thế nào để sử dụng các hiệp định này làm sao đem lợi cho họ.

    Và các luật sư được trả lương cao của các doanh nghiệp tại Mỹ, châu Âu, và Nhật Bản sẽ có xác suất cao là sẽ áp đảo các luật sư của chính phủ được trả lương thấp hơn , khi những người này cố gắng bảo vệ lợi ích công cộng. Tệ hại hơn nữa là tình trạng mà các doanh nghiệp ở các nước tiên tiến có thể xây dựng các chi nhánh ở các nước thành viên, thông qua đó để họ đầu tư trở lại nguyên xứ, và sau đó khởi kiện, tạo cho họ một kênh mới để phong toả các luật lệ điều tiết.

    Nếu như có một nhu cầu bảo vệ quyền tư hữu tốt hơn, và nếu như cơ chế giải quyết tranh chấp tư nhân đắt đỏ này được đánh giá cao hơn so với một cơ quan tư pháp của chính phủ, thì chúng ta nên thay đổi luật pháp không chỉ cho các doanh nghiệp nước ngoài giàu có, mà cho cả các công dân và các doanh nghiệp nhỏ của chúng ta. Nhưng chưa có dấu hiệu nào cho thấy rằng việc này được giải quyết như vậy.

    Luật pháp và quy chế quyết định hình ảnh nền kinh tế và xã hội trong đó con người chúng ta đang sống. Chúng ảnh hưởng đến tương quan lực lượng trong đàm phán, có tác động quan trọng đối với sự gia tăng bất bình đẳng, một vấn đề ngày càng tăng lên trong toàn thế giới. Câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có nên cho phép các doanh nghiệp giàu có sử dụng quy định ẩn giấu trong cái gọi là hiệp định thương mại để quyết định rằng cho chúng ta sẽ phải sống như thế nào trong Thế kỷ 21 không. Tôi hy vọng người dân ở Mỹ, châu Âu, và Thái Bình Dương sẽ trả lời với một tiếng "không" thật to.