Lê Kỳ Sơn - Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay

  • Bởi Trà Mạn
    19/05/2015
    18 phản hồi

    Lê Kỳ Sơn


    Bốn mươi lăm năm đã qua kể từ ngày Hồ Chí Minh qua đời, lịch sử dân tộc và nhân loại đã trải qua bao biến thiên dữ dội, sự kiện lớn nhất là sự sụp đổ nhanh chóng, bất ngờ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từng tồn tại hơn 70 năm – như một cuộc động đất chính trị, có thể sánh ngang với sự sụp đổ của đế chế La Mã hồi đầu công nguyên.

    Việt Nam giành được thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp thống nhất đất nước với cái giá máu xương phải trả được coi là chưa từng có trong lịch sử kháng chiến của dân tộc. Nhưng thắng lợi quá lớn đã làm cho những người chiến thắng say sưa, sinh ra chủ quan, kiêu ngạo; thiếu tinh thần khoan dung của người thắng cuộc để chủ động thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc ; ta cũng đã không biết tận dụng sức mạnh của niềm vui, niềm tự hào chiến thắng, sự yêu mến, cảm phục và sẵn sàng viện trợ của bạn bè quốc tế để tranh thủ đưa cả nước chuyển sang một thời kỳ mới: chung tay hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại Tổ quốc, sớm đi tới phồn vinh, thịnh vượng.

    Trái lại, cũng do chủ quan, hẹp hòi, tầm nhìn thiển cận, chúng ta đã liên tiếp mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách đối nội và đối ngoại. Tiếng súng vừa mới im được vài năm, ta đã phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc; việc đem quân vào Campuchia, rồi sa lầy ở đó hơn 10 năm; vụ ‘nạn kiều” và hàng triệu người Việt ồ ạt bỏ nước ra đi,...dẫn đến Việt Nam bị thế giới bao vây, cấm vận, làm cho nền kinh tế đất nước và đời sống của nhân dân lâm vào hoàn cảnh khó khăn chưa từng thấy. Gỡ ra được cũng đã bị chậm đi mất vài chục năm.

    Hiện nay, nền kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”, với những cơ chế bất cập do “lỗi hệ thống” gây ra, đã tạo điều kiện cho các “nhóm lợi ích” trong bộ máy công quyền lợi dụng thao túng, nền kinh tế đất nước ngày càng suy thoái, tụt hậu, thua kém cả Lào và Campuchia. Nạn tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới, quan to ăn to, quan nhỏ ăn nhỏ, đám thư lại thả sức hạch sách, nhũng nhiễu dân đen, không chuẩn mực đạo đức và pháp lý nào tiết chế nổi. Dân oan khiếu kiện mất đất, mất nhà,...diễn ra hàng ngày ở huyện, ở tỉnh, không ít đoàn kéo lên ăn chực, nằm chờ ở cổng phủ Chủ tịch,...Tiếng kêu than vang vọng đến cả trời xanh, nhưng không vụ việc nào được giải quyết triệt để. Trí thức lên tiếng góp ý, phê phán, đấu tranh, chính quyền đã không chiụ nghe, lại còn bị đe dọa, bắt bớ. Chưa bao giờ phản ứng của người dân lại trở nên công khai, gay gắt, quyết liệt như hiện nay. Phải chăng đó là những nhân tố đang tạo nên những “tổ mối hổng” có thể dẫn đến “sụt toang đê cũ”?

    Điều gì đã gây ra bi kịch này, nguyên nhân sâu xa là từ đâu? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự trì trệ, suy thoái nghiêm trọng của đất nước và nguy cơ sụp đổ của chế độ?...Trả lời những câu hỏi đó không tránh khỏi ít nhiều có liên quan đến vấn đề đánh giá vai trò và trách nhiệm cá nhân của Hồ Chí Minh.

    Trong bối cảnh lòng dân ly tán hiện nay, sự đánh giá Hồ Chí Minh đang diễn ra theo hai chiều đối nghịch, vậy cần có nhận thức và đánh giá như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan, phù hợp với thực tế lịch sử?

    Công lao to lớn của Cụ Hồ đối với sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc là điều không ai có thể phủ nhận. Từ đưa Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Versailles đến Tuyên ngôn Độc lập, rồi chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu,…chặng đường đấu tranh nửa thế kỷ ấy gắn liền với tên tuổi huyền thoại của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Cụ vẫn được coi là người Cha tinh thần đã khai sinh ra chế độ này, vậy Cụ có thể có những liên đới trách nhiệm gì với thực trạng đáng buồn hiện nay không?

    Những người phê phán Hồ Chí Minh thường cho rằng mọi tai họa mà dân tộc và đất nước phải gánh chịu hơn nửa thế kỷ qua, phải được xét từ gốc, từ nhân tố khởi nguyên: ấy là do Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam! Sự thật là như thế nào rất cần được làm rõ.

    Đánh giá vai trò của một học thuyết hay một vĩ nhân cần đứng vững trên quan điểm lịch sử cụ thể. Lịch sử không đứng yên, mà luôn luôn vận động, biến đổi. Chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ hoang dã, đi xâm chiếm thuộc địa, thì từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu; khác với chủ nghĩa tư bản hiện đại, biết phát huy sức mạnh của văn hóa, khoa học-công nghệ, dân chủ, pháp quyền,…để dần dần lột xác, trở thành văn minh. Cũng như vậy, chủ nghĩa cộng sản đầu thế kỷ XX và Quốc Tế 3 thời Lênin cũng khác với chủ nghĩa cộng sản đã bị Stalin hóa, Mao-ít hóa sau này. Nếu Quốc Tế 3 không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa - nếu cũng chỉ như Quốc Tế 2 - chắc gì Nguyễn Ái Quốc đã ngả theo chủ nghĩa cộng sản?

    Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm!

    Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu - nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi?

    Người viết thử mạo muội góp phần đưa ra mấy kiến giải sau đây.

    1. Ai là người đầu tiên đưa chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam?

    Chủ nghĩa cộng sản là một trào lưu tư tưởng, một khuynh hướng chính trị hình thành từ nửa cuối thế kỷ XIX; khi chủ nghĩa tư bản đã hiện nguyên hình tàn bạo, đáng nguyền rủa của nó, thì chủ nghĩa cộng sản đang là một khuynh hướng chính trị-xã hội cấp tiến, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với phần đông trí thức Châu Âu thời bấy giờ. Sang đầu những năm 20 của thế kỷ XX, nó bắt đầu được truyền tới Trung Quốc bởi những trí thức Tây học như Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu, Cù Thu Bạch,...dẫn tới việc thành lập Đảng CS Trung Quốc năm 1921.

    Ở Việt Nam, vào thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc là người dân đầu tiên của một nước nô lệ, sau những thất bại của lớp chí sĩ cha anh, đã rời nước ra đi tìm một con đường mới cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Cái khó của Hồ Chí Minh là cái khó của người đi trước thời đại. Vào đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, làm thế nào để giải phóng các dân tộc thuộc địa, vẫn còn là một vấn đề quá mới, chưa có lời giải. Chính Engels đã từng viết (đại ý): Các dân tộc thuộc địa rồi sẽ được giải phóng, khi một dân tộc này đi áp bức một dân tộc khác, dân tộc đó không có tự do. Nhưng “quá trình ấy sẽ phát triển như thế nào, điều này thật là khó nói”; “về điều này, tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta chỉ có thể đề ra những giả thuyết khá bâng quơ mà thôi”[1].

    Vào thời điểm Nguyễn Tất Thành ra đi khảo sát thế giới, từ Á sang Âu, chưa có dân tộc bị áp bức nào đấu tranh giành được tự do, chưa có tấm gương thắng lợi nào để soi vào. Ở phương Tây, các đảng Xã hội thuộc Quốc tế II, sau chiến tranh thế giới 1914-1918, do chủ nghĩa dân tộc bản vị, về cơ bản họ vẫn ủng hộ chính sách thuộc địa của các chính phủ tư sản nước mình, họ cũng “đề ra những nghị quyết rất hay (về vấn đề thuộc địa) nhưng để sau đó đưa vào các viện bảo tàng”!

    Chỉ duy nhất có Đảng CS Nga, với Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, công khai tuyên bố ủng hộ và giúp đỡ thiết thực cuộc đấu tranh của các dân tộc phương Đông bằng những việc làm cụ thể. Nguyễn Ái Quốc đã từng đặt chân tới nhiều nước phương Tây, từng chìa bàn tay hữu nghị ra với họ, nhưng không được ai nắm lấy! Chính lúc ấy, ông đã tìm thấy ở Luận cương của Lênin một chỗ dựa, một hướng đi mới, nên đã ngả theo Quốc tế 3, gia nhập hàng ngũ cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đó là một thực tế ai cũng đều đã biết.

    Nhưng Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa cộng sản không phải với động cơ của một người đi tìm chủ thuyết, như một bộ phận trí thức cấp tiến phương Tây thời bấy giờ, chán ghét bất công của chế độ tư bản, họ đã tìm thấy ở chủ nghĩa cộng sản một viễn cảnh đầy hy vọng về một “mùa xuân mới của nhân loại”. Còn ông Nguyễn đến với Quốc Tế 3 từ một nhu cầu cấp bách của dân tộc là đi tìm một phương sách, một con đường cứu nước mới, sau khi các phong trào Đông du và Duy tân đã hoàn toàn thất bại, chứ không phải ông đến với Quốc Tế 3 từ sự giác ngộ sâu sắc về lý tưởng cộng sản. Vào thời điểm ấy, ông chưa có điều kiện nghiên cứu chủ nghĩa Mác một cách hệ thống, nên đã không được thừa nhận là một người cộng sản thuần thành, vì người ta thấy ông rất ít trích dẫn kinh điển mácxít, mà chỉ chú trọng vào vấn đề dân tộc thuộc địa.

    Nói Nguyễn Ái Quốc là người cộng sản Việt Nam đầu tiên có thể đúng, nhưng là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam lại là một nhận định cần được xem xét kỹ. Hãy nhìn lại, từ bài phát biểu ở Đại hội Tours, đến các bài báo trên Le Paria, rồi tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản tại Pháp năm 1925,... không có bài viết nào trực tiếp tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, tất cả đều đứng trên lập trường người dân thuộc địa mất nước mà tố cáo tội ác cai trị tàn bạo, cướp bóc man rợ của chủ nghĩa thực dân; kêu gọi đồng bào thức tỉnh, đứng dậy, đoàn kết đấu tranh giành lại độc lập, tự do.

    Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô lần đầu tiên để tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân, tiếp theo là Đại hội V Quốc tế Cộng sản, rồi Đại hội các tổ chức quần chúng như Thanh niên Quốc tế, Phụ nữ Quốc tế,...Nội dung các bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc tại các diễn đàn này nói chung đều không đề cập đến những vấn đề đang đặt ra trong phong trào cộng sản bấy giờ, mà chỉ tập trung vào một chủ đề duy nhất: “Tôi đến đây để không ngừng thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”! Điều này đã gây cho Staline ấn tượng không mấy thiện cảm về Nguyễn Ái Quốc, coi ông “không phải một người cộng sản chân chính mà là một người còn mang nặng tinh thần dân tộc chủ nghĩa ít có”[2].

    Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, với danh nghĩa thành viên trong phái bộ của Borodine, để xúc tiến công tác tổ chức và huấn luyện, ươm mầm những hạt giống cho cách mạng Việt Nam, sau đó lập ra Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng (chứ chưa phải lập Đảng cộng sản). Theo Trần Dân Tiên viết trong “Hồ Chí Minh truyện” thì từ tôn chỉ, mục đích đến điều lệ của Hội đều được ông mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.[3]

    Trong nội dung các bài giảng cho các lớp huấn luyện chính trị tại đây (sau được tập hợp thành cuốn “Đường cách mệnh” ) cũng như trong các bài viết của ông trên báo Thanh Niên, chưa thấy nói gì đến mục tiêu thực hiện chủ nghĩa công sản ở Việt Nam, tất cả chỉ chú trọng nói đến nội dung của dân tộc cách mệnh (như khẳng định: dân tộc cách mệnh thì chưa phân chia giai cấp, sĩ nông công thương đều nhất trí chống lại cường quyền); cách mệnh muốn thành công phải có đảng cách mệnh, đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, phải đoàn kết, lấy công nông làm gốc, vì họ là số đông nhất và bị áp bức nặng nề hơn cả; muốn làm tròn nhiệm vụ cách mệnh, người cách mệnh phải có đạo đức cách mệnh, phải bền gan, phải hy sinh,...

    Nói chung, nội dung lý luận của những sách báo đó đều còn sơ giản, để phù hợp với trình độ của phần đông hội viên thanh niên lúc bấy giờ, nên sau này đã bị Hà Huy Tập - người thấm nhuần lý luận “giai cấp chống giai cấp” của Đại Hội VI Quốc tế Cộng sản - phê phán là “cực kỳ sơ đẳng, mang dấu ấn của thứ lý luận hợp tác giai cấp, không xác định động lực của cách mạng Đông Dương, và không hiểu đúng vai trò độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản,...”[4].

    Năm 1927, Quảng Châu khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Áí Quốc phải theo phái bộ Borodine trở về Moscow, sau đó cả phái bộ đều bị Staline cách chức, rồi lần lượt bị thanh trừng. Nguyễn Ái Quốc bị bỏ rơi, phải tự tìm đường về Xiêm để hoạt động. Năm 1928, Đại hội QTCS lần thứ VI khai mạc, Nguyễn Ái Quốc không được triệu tập về dự.

    2. Đảng CS Việt Nam thành lập, có phải do Nguyễn Ái Quốc chủ xướng?

    Đầu năm 1930, trước sự xuất hiện và chia rẽ của ba nhóm cộng sản ở trong nước (điều này ngoài dự kiến của Nguyễn Ái Quốc, vì theo ông, điều kiện ở Việt Nam chưa chín muồi cho việc thành lập ĐCS); song với vai trò, trách nhiệm của mình, ông vẫn đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất, lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, vì vậy ông được suy tôn là người sáng lập. Các văn kiện do ông thảo ra, như Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Lời kêu gọi, dưới ký tên: Nguyễn Ái Quốc: Thay mặt QTCS và Đảng CS Việt Nam, đều thấm nhuần những quan điểm của Lênin đã nêu ra trong Luận cương. Nhưng khi gửi sang Liên Xô báo cáo, đã bị QTCS bác bỏ, bởi vì lúc này họ đã xa rời những quan điểm ấy của Lênin, chỉ nhấn mạnh một chiều lý luận “giai cấp chống giai cấp” theo tư tưởng chỉ đạo của Staline tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản 1928.

    Sau đó, Trần Phú được cử về, triệu tập Hội nghị TƯ tháng 10-1930, phê phán Hội nghị hợp nhất “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, lại còn “chia địa chủ ra làm đại, trung và tiểu địa chủ”, lại nói “phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng” cùng một số “sai lầm” khác, rồi ra nghị quyết thủ tiêu các văn kiện của Hội nghị hợp nhất, thông qua Luận cương Chính trị 1930, đổi tên đảng thành Đảng CS Đông Dương, bầu ra BCH TƯ mới, do Trần Phú làm Tổng Bí thư. Cương lĩnh, Điều lệ mới đều quán triệt quan điểm “giai cấp chống giai cấp”. Phải chăng, chính khuynh hướng “tả” của Luận cương Trần Phú, sau khi được phổ biến xuống tới các địa phương, đã là một trong những tác nhân góp phần thổi bùng lên phong trào Xô viết ở Nghệ-Tĩnh?

    Cần nói thêm rằng, phong trào đó có thể còn bị ảnh hưởng bởi một tổ chức mácxít khuynh tả nữa là Liên Đoàn CS Nam Dương - một chi nhánh của Đảng CS Trung Quốc đã hiện hữu tại Đông Nam Á và Nam Việt Nam từ những năm 1928-1930. Ta được biết, sau Đại hội VI QTCS, Lý Lập Tam, nguyên là đại diện của ĐCS Trung Quốc bên cạnh QTCS, một nhân vật cực tả, đã được Staline chú ý, đưa vào Ban Chấp Hành QTCS, rồi trở thành người đứng đầu Đảng CS TQ. Chính nhân vật này đã đưa Đảng CS TQ đi vào con đường phiêu lưu tả khuynh trong một thời gian dài, gây nên những tổn thất to lớn cho Đảng của họ. Chính họ Lý đã chỉ đạo đẩy mạnh việc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, xây dựng và phát triển tổ chức CS trong người Hoa ở Thái Lan, Mã Lai, Nam Việt Nam ,...( trụ sở đặt tại Singapore, nên tổ chức này còn có tên gọi là Liên Đoàn Tân Gia Ba), nhằm phát huy ảnh hưởng của ĐCS Trung Quốc tại Đông Nam Á. Khi Đảng CS Đông Dương thành lập, cử ra Ban TƯ lâm thời gồm bảy người, theo quan điểm quốc tế, họ đã mời một đại diện của tổ chức CS người Hoa ở Sài-Gòn-Chợ Lớn tham gia BCH, đó là Lưu Lập Đạo (tức “A Lầu”). Phải chăng, khẩu hiệu cực tả “trí, phú, địa, hào-đào tận gốc, chốc tận rễ” là do ảnh hưởng từ Liên đoàn này? (Đây là vần đề cần được nghiên cứu thêm).

    Những sự việc nói trên đều diễn ra ngoài ý muốn của Nguyễn Ái Quốc , vì lúc này, ông vẫn đang ở nước ngoài và đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, chỉ còn là “cái thùng thư” chuyển tiếp giữa Quốc tế CS và Ban TƯ trong nước. Góp phần tuyên truyền cho chủ nghĩa CS ở Đông Dương còn phải kể đến báo chí công khai ở Việt Nam thời bấy giờ. Năm 1926, Phan Văn Trường, lần đầu tiên ở Việt Nam, đã cho đăng toàn văn Tuyên ngôn đảng cộng sản của Marx-Engels trên tờ La Cloche Félée của ông, từ số 53 đến số 60 (bằng tiếng Pháp). Báo chí của chính quyền thuộc địa, lo sợ trước nguy cơ bùng phát mạnh mẽ của phong trào cộng sản, cũng cho đăng nhiều bài xuyên tạc, nói xấu chủ nghĩa cộng sản để cảnh giới, răn đe, vô tình cũng đã làm một việc tuyên truyền không công chủ nghĩa CS. Đó là chưa nói đến hoạt động và sách báo tuyên truyền của nhóm đệ tứ của Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm,...và nhà xuất bản Hàn Thuyên trong những năm 1930 sau này. Trong khi đó, Chính cương, Sách lược vắn tắt,...do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, gửi đi Moscow, bị coi là không quán triệt đường lối “giai cấp chống giai cấp”, nên đã bị thủ tiêu ngay từ trong trứng, chưa mấy ai được biết đến các văn kiện này (cho tới khi lần đầu tiên được đưa vào Hồ Chí Minh Toàn tập, t.1, xuất bản lần đầu năm 1980).

    Để hiểu được Hồ Chí Minh, cần thiết phải nhận thức trong sự so sánh quan điểm, đường lối của ông với đường lối tả khuynh của Staline và QTCS sau khi Lênin qua đời, nhất là từ sau Đại hội VI 1928. Đặc điểm của chủ nghĩa tả khuynh dưới sự áp đặt của Staline là nhấn mạnh độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản, nôn nóng thực hiện ngay cách mạng vô sản khi các điều kiện kinh tế-xã hội chưa chín muồi, đề cao chuyên chính vô sản và bạo lực cách mạng, sử dụng guồng máy chuyên chính để đàn áp, sẵn sàng bắt bớ, thủ tiêu những người có ý kiến khác biệt; mang nặng chủ nghĩa biệt phái, đề cao công nông nhưng không trọng dụng trí thức; không cho phép các ĐCS được liên minh tạm thời với các Đảng Dân chủ Xã hội, không đánh giá đúng mức sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc ở thuộc địa, không cho phép người cộng sản hợp tác tạm thời với các đảng phái yêu nước và dân chủ ở các nước họ...Nói chung là Staline đã từ bỏ những quan điểm đúng đắn của Lênin mà Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và kiên trì bảo vệ.

    Quan điểm, đường lối chính trị của Hồ Chí Minh hình thành từ nền tảng văn hóa phương Đông của ông. Sớm đi sang phương Tây, văn hóa Hồ Chí Minh còn là sự chưng cất tinh hoa văn hóa ÂuTây, đặc biệt là lý tưởng Tự do-Bình đẳng-Bác ái của cách mạng Pháp, vì vậy, tư tưởng chính trị của ông cũng không đóng khung trong một học thuyết duy nhất nào. Hồ Chí Minh từng viết: “Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,...đều có những điểm chung giống nhau, đó là cùng mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Tôi cố gắng là người học trò nhỏ của các vị ấy”[5]. Như vậy, mọi lý thuyết, chủ nghĩa đối với ông đều có cái hay, đều cần phải nghiên cứu, tham khảo, học lấy cái đúng, cái tốt, nhưng tất cả đều chỉ là phương tiện để đạt mục đích là giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đó là tóm tắt học thuyết “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh.

    Nói cách khác, tư duychính trị Hồ Chí Minh luôn phấn đấu hướng theo những giá trị chung của nhân loại. Cuốn sách đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc dịch sang tiếng Việt không phải “Tuyên ngôn đảng cộng sản” mà là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu!

    Do đó, tuy đã gia nhập hàng ngũ cộng sản, nhưng trong căn cốt, ông vẫn là người yêu nước, ông dám vượt qua một số nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản ngay cả khi đang sống giữa trung tâm của nó ở Moscow. Sau khi phân tích những đặc điểm kinh tế-xã hội-văn hóa-lịch sử của các dân tộc Viễn Đông, ông khẳng định:“Cuộc đấu tranh giai cấp ở đó (tức Đông Dương) không diễn ra giống như ở phương Tây”, “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước...,người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”[6].

    Ông không coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất mà lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng; không nhấn mạnh chuyên chính vô sản mà đề cao nhà nước dân chủ; đề cao và tin dùng trí thức, kể cả trí thức cũ. Ông chủ trương lấy dân làm gốc, lúc nào cũng tâm niệm: Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết, nhân dân trên hết; lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải phục tùng lợi ích chung của cả quốc gia, dân tộc. Học thuyết của ông có thể tóm tắt trong 9 chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

    Dựa theo những cứ liệu đó, nhà sử học Pháp Pierre Brocheux - người đã dành cả cuộc đời nghiên cứu về Hồ Chí Minh – từng đưa ra ý kiến riêng: “Tôi cho rằng ông Hồ Chí Minh về bản chất thực ra là một người theo Khổng giáo. Ông luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng giáo - một truyền thống ý thức hệ Đông Á - với các dòng tư tưởng châu Âu, từ chủ nghĩa Mác đến chủ nghĩa Lênin…Theo tôi, trước sau ông là một người tốt, một người Khổng giáo. Những gì người ta nói về ông ở Việt Nam hiện nay, chỉ đúng một phần thôi. Ông đã cố gắng đưa vào thực tế tính nhân văn và tính công bằng xã hội theo kiểu Khổng giáo”[7]. Đó là một ý kiến được nhiều học giả trong, ngoài nước chú ý và chia sẻ.

    Sau những trải nghiệm đau buồn riêng của Nguyễn Ái Quốc qua hai thời kỳ sống, hoạt động, học tập ở Liên Xô, niềm tin của ông vào Liên Xô và QTCS như là chỗ dựa duy nhất cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, không còn nguyên vẹn như xưa. Ông nhận thấy cách mạng Việt Nam có thể và cần phải có thêm nhiều chỗ dựa khác, do đó cần chủ động tìm ra những phương thức liên minh tạm thời, hợp tác rộng rãi (theo tinh thần của Lênin) nhằm tranh thủ mọi sự giúp đỡ có thể và có lợi cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.

    Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô cuối năm 1938, tình hình thế giới đã có những biến chuyển lớn: chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, Liên Xô đã hợp tác với Anh, Mỹ , Pháp,...hình thành phe Đồng minh chống phát xít; năm 1943, QTCS tuyên bố tự giải tán, để các ĐCS được quyền chủ động hơn, phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Ở Trung Quốc, hai phe Quốc-Cộng lại hợp tác với nhau lần thứ hai để cùng chống Nhật. Sau khi bắt được liên lạc với tổ chức Đảng trong nước, Nguyễn Ái Quốc lập tức tranh thủ về nước chỉ đạo phong trào.

    Lúc này, Ban TƯ cũ chịu ảnh hưởng của xu hướng Trần Phú, Hà HuyTập hầu hết đã bị bắt và hy sinh, Ban TƯ lâm thời được thành lập trên cơ sở Ban lãnh đạo Xứ ủy Bắc Kỳ- gồm những người vốn có quan điểm “ôn hòa” hơn (Ban Xứ ủy Bắc Kỳ thời kỳ Trịnh Đình Cửu làm bí thư, vẫn cho rằng đường lối của QTCS mà Trần Phú là đại diện, không phù hợp với thực tế Việt Nam, nên không tán thành, không tích cực thực thi, thường bị Trần Phú nhắc nhở, phê phán, đe dọa kỷ luật). Nguyễn Ái Quốc trở về trong hoàn cảnh Ban TƯ lâm thời tự lập, do Trường Chinh đứng đầu, đang cần được thừa nhận chính thức, nên đã xem Nguyễn Ái Quốc như là đại diện của Quốc tế và suy tôn như là lãnh tụ tối cao của Đảng. Có thể coi đây là cuộc gặp gỡ lịch sử, nếu không có cơ sở quần chúng cách mạng do Xứ ủy Bắc Kỳ gây dựng, không có sự suy tôn và nhất trí hợp tác của Trường Chinh, chưa chắc Cách mạng tháng Tám 1945 đã có thể bùng nổ thuận lợi và thành công như đã diễn ra!

    Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị TƯ 8 - 1941 đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc; còn nhiệm vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước và phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc. Nghị quyết Hội nghị vạch rõ: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải được đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc; không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[8]. Nghị quyết Hội nghị TƯ 8 - 1941 thực chất là sự trở lại với đường lối, quan điểm đã được Nguyễn Ái Quốc vạch ra trong Chính cương, Sách lược vắn tắt từ Hội nghị hợp nhất đầu năm 1930.

    Sau Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc viết thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương! [9], nghĩa là nhằm vào mọi tầng lớp nhân dân, chứ không phải chỉ chú ý kêu gọi Hỡi công nông như Trần Phú ngày trước. Ta hiểu vì sao, sau năm 1945, Hồ Chí Minh đã thực tâm dùng Cựu hoàng Bảo Đại làm Cố vấn tối cao, đã mời các trí thức, quan lại trong chính quyền thực dân, phong kiến cũ, tham gia vào Chính phủ mới sau cách mạng; đã trả lại tự do cho Ngô Đình Diệm, cũng như sau này đã không loại trừ khả năng sẵn sàng đàm phán với ông ta để tìm ra một giải pháp cho công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước...

    Việc ông Nguyễn chủ động liên hệ với Tướng Claire Chennault-Tư lệnh không đoàn 14 của Mỹ mang tên “Cọp bay” đóng ở Côn Minh và với đơn vị OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ )- nhân vụ trao trả trung úy phi công Shaw cho họ - là một cơ hội để tuyên truyền, giới thiệu, nêu cao thanh thế của phong trào Việt Minh, nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của lực lượng Đồng minh - ít nhất là trên danh nghĩa - cho cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Việc ông lên đường đi Trùng Khánh năm 1942 để tìm gặp Tưởng Giới Thạch, cũng là nhằm tìm kiếm sự hợp tác chống kẻ thù chung của hai dân tộc Hoa-Việt là phát xit Nhật,...Tất cả những việc làm đó đều nằm trong chiến lược tranh thủ liên minh, hợp tác quốc tế rộng rãi của Hồ Chí Minh, nhất là trong điều kiện Quốc tế 3 đã tuyên bố tự giải tán.

    Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập nhưng không được một quốc gia nào công nhận. Quá khứ cộng sản của Hồ Chí Minh đã làm các nước Đồng minh e ngại. Tình báo Xô viết thừa biết Hồ Chí Minh là ai, nhưng Kremlin vẫn giữ thái độ im lặng, thực tế như đã bị bỏ rơi. Lúc này, để vượt qua nguy cơ mất còn, Hồ Chí Minh đã khôn khéo thi hành một đối sách hòa hoãn cực kỳ mềm dẻo mà cũng phi thường dũng cảm, đó là:

    - Đối với Tầu Tưởng, ông tuyên bố Đảng CS Đông Dương tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Hai là, chấp nhận cải tổ Chính phủ, rút bớt các thành viên cộng sản ra ngoài, lui ngày Tổng tuyển cử, tạo điều kiện cho các đảng đối lập có thêm thời gian chuẩn bị tham gia; sau bầu cử, lại chấp nhận cho họ thêm 70 ghế đại biểu không qua bầu cử; trên cơ sở đó Quốc hội cử ra Chính phủ liên hiệp gồm 10 bộ, trong đó Việt Minh 2, Dân chủ 2, Việt quốc 2, Việt cách 2, không đảng phái 2 (vẻ như Việt Minh chỉ là thiểu số).

    - Đối với thực dân Pháp, Hồ Chí Minh biết rõ người Pháp chưa chịu từ bỏ chính sách tái thuộc địa hóa Đông Dương, họ đàm phán với Tưởng rồi ký Hiệp định Pháp-Hoa ngày 28-2-1946, bằng cách trả lại những tô giới thuộc Pháp trên đất Tàu, bán lại đường sắt Lào Cai-Vân Nam, cho phép Tưởng dùng cảng Hải Phòng để vận chuyển hàng hóa quá cảnh miễn thuế qua đường Việt Nam, ...Đổi lại quân đội Pháp được phép đem quân ra miền Bắc thay thế quân Tưởng. Nhưng muốn đem quân ra Bắc êm thấm, không gặp đụng độ quân sự, Pháp buộc phải điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh. Tình thế trên đây đặt ra câu hỏi: ta phải quyết đánh hay tạm hòa với Pháp?

    Cân nhắc tương quan lực lượng, Cụ Hồ chọn giải pháp tạm hòa. Từ cuối tháng 2-1946, hai bên xúc tiến đàm phán. Điều khoản gay cấn nhất là ta đòi Pháp phải thừa nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam; còn Pháp chỉ muốn công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị. Nếu Hiệp định Pháp- Việt chưa được ký kết thì quân Tưởng chưa thể rút đi, quân Pháp chưa được phép đổ bộ vào Hải Phòng, xung đột đổ máu giữa các bên sẽ vẫn tiếp tục nổ ra. Để tháo gỡ tình hình, Hồ Chí Minh đưa ra giải pháp nhân nhượng:

    - Nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre, thay cho từ indépendance, độc lập) có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, ở trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ Pháp phải cam đoan thừa nhận kết quả của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ.

    - Nước Việt Nam thuận để 15.000 quân Pháp được vào Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa và sẽ phải rút hết sau thời hạn 5 năm.

    Đây là một giải pháp “Câu Tiễn”, nhờ đó, Hiệp định sơ bộ 6-3 đã được ký kết. Nhưng các đảng phái đối lập lại muốn phá, vì nếu đánh nhau, Việt Minh sẽ thua, họ sẽ được lợi, nên đã ra sức vu cáo Hồ Chí Minh là “bán nước”. Nhưng đại đa số dân chúng Việt Nam lại chấp nhận một thỏa hiệp tạm thời với Pháp cốt để đuổi được gần 20 vạn quân Tầu về nước, bởi chính họ mới là kẻ thù truyền kiếp của dân ta, đã mấy ngàn năm nay, chưa bao giờ họ từ bỏ dã tâm xâm lược và đồng hóa dân tộc ta. Vì vậy, ở thời điểm này, Hồ Chí Minh đã phải nói ra một câu - mà báo chí “lề phải” ở Việt Nam chưa bao giờ dám nhắc lại:“Thà chịu ngửi phân của người Pháp trong 5 năm còn hơn là phải ngửi phân của người Tầu trong hàng nghìn năm!”[10]. (Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh không mơ hồ gì về kẻ thù truyền kiếp của dân tộc).

    Nếu Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 được Pháp nghiêm chỉnh thực hiện thì Việt Nam đã không phải tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ và chủ nghĩa thực dân Pháp đã không bị chôn vùi ở Điện Biên Phủ; Việt Nam sẽ ở trong Khối Liên hiệp Pháp (Union Français) và biết đâu, chắc gì Việt Nam đã buộc phải ngả theo CS Tàu sau năm 1949, trong khi Staline vẫn ngoảnh mặt làm ngơ? Là một nhà chính trị thực tiễn, Cụ Hồ đã nhận thấy mục tiêu cộng sản là điều còn rất xa vời, nên từng nhiều lần tuyên bố: “Tôi là người cộng sản, nhưng điều quan tâm lớn nhất của tôi là nền độc lập của Việt Nam. Tôi bảo đảm với các ngài rằng sau 50 năm nữa, chủ nghĩa cộng sản vẫn sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam !”[11].

    Do thái độ không thức thời của giới cầm quyền Pháp lúc đó, tiêu biểu là De Gaulle, nên cơ hội này đã bị tuột mất. Hai mươi năm sau, chính De Gaulle đã có sự nhìn nhận muộn màng về trách nhiệm của ông ta trong chính sách của Pháp ở Đông Dương thời đoạn 1945-1946. Trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8-2-1966, ông viết: “ Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau Đại chiến thế giới 2 thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giày xéo đất nước Ngài hôm nay”[12].

    - Đối với Mỹ và phương Tây: Sự kiện Tổng thống F. Roosevelt tuyên bố sau chiến tranh kết thúc sẽ không trao trả các thuộc địa cũ ở Đông Dương cho Pháp, mà sẽ cho các nước này được hưởng chế độ “ủy trị” của Liên Hiệp quốc; rồi người Mỹ đã đi trước thực hiện trao trả độc lập cho Philippines ngay sau chiến tranh kết thúc,... Những sự kiện đó đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với Hồ Chí Minh, nên thông qua mấy nhân vật quen biết trong nhóm OSS, Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ đối với nền độc lập của Việt Nam .

    Trong 2 năm 1945-1946, Hồ Chí Minh đã viết 8 bức thư gửi tới Tổng thống Harry Truman và 3 thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao James Byrnes, nhằm kêu gọi Mỹ, với tư cách một quốc gia bênh vực và bảo vệ Công lý thế giới, sẽ có những bước đi mạnh mẽ trong việc ủng hộ nền độc lập của Việt Nam; đồng thời bày tỏ nguyện vọng của Việt Nam muốn được hợp tác toàn diện với Mỹ, muốn được gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ học tập, nhằm tiếp thu thành tựu kỹ thuật hiện đại của Mỹ. Ông cũng tuyên bố sẵn sàng để cho Mỹ đặt căn cứ hải quân tại Cam Ranh,...Chính Hồ Chí Minh đã sớm chủ động cho thành lập Hội hữu nghị Việt-Mỹ, và tham dự lễ ra mắt của Hội này tại Hà Nội, cùng với sự có mặt của tướng Mỹ Gallagher, v.v..

    Đầu tháng 12-1946, Hồ Chí Minh đã tiếp Abbott Low Moffatt, giám đốc Vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao Mỹ, được cử sang Đông Dương tìm hiểu tình hình. Sau buổi tiếp, Moffatt đưa ra nhận xét: “Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, nhiệt tình đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, ông có thể được coi như là một Titô ở châu Á”[13].

    Những ứng xử trên cho thấy Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước thức thời, ôn hòa, giỏi ứng biến, chứ đâu phải là một người cộng sản cứng nhắc, cực đoan! Nếu những nỗ lực trên của Hồ Chí Minh được phía Mỹ tiếp nhận thì Việt Nam đã là một nước cộng hòa dân chủ không bị chia cắt, đã mở cửa, sớm phát triển nền kinh tế thị trường, Mỹ đã không phải đổ của, đổ người vào cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi sa lầy tại đây trong khoảng hơn 20 năm! Tiếc thay, lịch sử lại không hề biết đến chữ “nếu”!

    Bên cạnh đó, Cụ Hồ còn cử nhiều phái đoàn thân thiện của Việt Nam đi thăm các nước khác: Phạm Văn Đồng dẫn đầu Đoàn đại biếu Quốc hội Việt Nam đi thăm hữu nghị nước Pháp; cử Thứ trưởng Ngoại giao Nghiêm Kế Tổ (là đại biểu của Việt Nam Quốc dân đảng trong Chính phủ Liên hiệp) dẫn đầu Đoàn ngoại giao, trong đoàn có Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy, sang Trùng Khánh để xin tiếp kiến Tưởng Giới Thạch; cử Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch-với tư cách đại diện đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh - sang Pháp gặp M. Thorez, sang Ý gặp Đại sứ Liên Xô Koulajenkôp, đến Ấn Độ gặp J. Nehru, để thông báo về tình hình Việt Nam và đề nghị giúp đỡ vật chất, tinh thần cho cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Tiếc rằng các hoạt động đó đều không đạt kết quả mong muốn.

    3. Hồ Chí Minh tái hòa nhập với Moscow và phe xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh nào?

    Do đánh giá sai tình hình, Pháp muốn đánh nhanh, thắng nhanh vào lúc lực lượng vũ trang của Việt Nam vừa thành lập, số lượng nhỏ, trang bị kém, khó có thể chống lại một quân đội nhà nghề được trang bị tối tân như quân đội Pháp, giỏi lắm cũng chỉ tồn tại được trong vài ba tuần lễ! Họ ra sức khiêu khích, gây ra những vụ tàn sát đẫm máu đối với đồng bào ta ở nhiều nơi, buộc ta phải chống lại. Chiến tranh đã nổ ra. Để bảo toàn lực lượng, ta phải bỏ thành phố, rút về nông thôn, lên miền núi, xây dựng căn cứ địa, thực hiện phương châm “kháng chiến trường kỳ”.

    Thu-Đông 1947, ta bẻ gãy được cuộc tiến công 2 gọng kìm của Pháp lên chiến khu Việt Bắc, địch tổn thất nặng nề, nhưng xuýt nữa, quân nhảy dù của họ bắt được cơ quan đầu não của ta! Nếu họ đủ sức mở tiếp cuộc tiến công thứ 2, liên minh được với Tưởng, thực hiện dưới đánh lên, trên đánh xuống, thì cuộc kháng chiến của quân dân ta có nguy cơ bị dập tắt hoàn toàn! Bởi lấy gì mà chống lại, khi số vũ khí, đạn dược ít ỏi ta lấy được của Nhật, mua lại của Tầu, đã được dùng hết! Ta lại đang trong thế bị bao vây tứ bề, thoát ra bằng cách nào? Tình hình đó buộc Cụ Hồ phải tìm cách cầu hòa với Chính phủ Tưởng Giới Thạch, nếu không được giúp đỡ thì cũng phải trung lập hóa vai trò của họ. Một phái đoàn được cử sang Nam Kinh, với lễ vật hậu hĩnh, để thuyết phục Tưởng tuân theo tôn chỉ “phù nhược, ức cường” của Tôn Trung Sơn, ủng hộ các dân tộc nhược tiểu đang đấu tranh chống các cường quốc thực dân, giành lại độc lập dân tộc.

    Chuyến đi chưa được giải mã, chỉ biết rằng sau đó tình hình quốc tế có những chuyển biến rất nhanh chóng: Giải phóng quân Trung Quốc “thần tốc Nam hạ”, buộc quân Tưởng phải bỏ chạy ra Đài Loan; tháng 10-1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, rồi nước CHDC Đức cũng ra đời, hình thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từ Tây sang Đông.

    Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc khiến cho Mỹ lo ngại: nếu Pháp thất bại ở Đông Dương, dưới ảnh hưởng của Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á có khả năng ngả theo con đường cộng sản hóa, Mỹ thấy đã đến lúc phải can thiệp vào Đông Dương. Một mình ta đánh nhau với Pháp đã khó, nay lại có thêm sự can thiệp của Mỹ, ta sẽ đối phó thế nào, phải hành xử ra sao?

    Nhẫn nại, kiên trì hòa hoãn mãi với phương Tây mà không thành, để thoát khỏi nguy cơ xấu nhất, Hồ Chí Minh chỉ còn một con đường duy nhất: bắt mối quan hệ với Đảng CS Trung Quốc, thông qua họ để nối lại quan hệ với Kremli, tái hòa nhập phong trào cộng sản quốc tế.

    Mao hưởng ứng ngay, vì phù hợp với ý đồ của họ: cần có một “phên dậu” ở phía Nam, giúp Trung Quốc tránh phải đụng độ trực tiếp với đế quốc - điều kiện cần để họ tập trung vào xây dựng và phát triển trong hòa bình.

    Song việc thuyết phục Staline đồng tình lại không đơn giản. Thứ nhất, Việt Nam là một nước nhỏ, lại ở quá xa Liên Xô, chưa có vai trò gì trong chiến lược đối ngoại của Liên Xô lúc bấy giờ. Hai là, Việt Nam vốn là thuộc địa cũ của Pháp, mà Pháp hiện đang là đối tác chiến lược Liên Xô cần tranh thủ ở Tây Âu, hai nước đã ký với nhau Hiệp định hợp tác,bất tương xâm Pháp-Xô (1944-1964) hiện vẫn đang còn giá trị; đối với Staline, Việt Nam không quan trọng bằng Pháp. Ba là, bản thân Staline vốn từ trước đã không mấy tin tưởng vào Hồ Chí Minh; nay theo báo cáo của KGB thì Hồ Chí Minh có vẻ như đang muốn ve vãn phương Tây, nhất là qua hai bức thư của Trần Ngọc Danh (em trai Trần Phú) gửi Staline, phê phán Hồ Chí Minh đang đi theo con đường của chủ nghĩa dân tộc tư sản, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản và học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác,...Vì vậy, ban đầu Staline đã từ chối không nhận tiếp Hồ Chí Minh. Sau nhờ sự kiên trì thuyết phục của Mao và Chu, Staline đồng ý tiếp, nhưng không công khai, mà tiếp trong phòng làm việc riêng của mình, với sự có mặt hạn chế của vài nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính phủ Liên Xô.

    Trong cuộc tiếp, Staline đã thẳng thắn phê bình Hồ Chí Minh ba điều: vấn đề tự ý giải tán Đảng, vấn đề thành phần Chính phủ (lắm nhân sĩ, trí thức, quan lại cũ, ...ý nói không phải chính quyền công nông), việc không chịu tiến hành cải cách ruộng đất. Sau đó, yêu cầu Hồ Chí Minh phải viết một bài tự phê bình về các vấn đề trên, để đăng trên tờ báo của Cục thông tin Quốc tế Cộng sản (Kominform) “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân”[14] . Còn vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline phân công cho Trung Quốc đảm nhiệm, vì ở ngay sát Việt Nam, đồng thời nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc. Rõ ràng là Liên Xô không muốn công khai dính líu đến vấn đề Việt Nam ở thời điểm nhạy cảm này.

    Dù chỉ được đón tiếp lạnh nhạt, chuyến đi của Hồ Chí Minh đến Liên Xô đã giúp Việt Nam thoát ra khỏi thế cô lập, tái hòa nhập với phong trào CSQT, mở ra hậu phương lớn, nhờ đó đưa cuộc kháng chiến của ta đi đến thắng lợi ở Điện Biên Phủ. Nhưng cũng từ đây sẽ phát sinh những hệ lụy phức tạp mà Hồ Chí Minh phải gánh chịu về sau này. Sự viện trợ về quân sự và kinh tế đi liền với những áp đặt về quan điểm chính trị, về cơ chế, tổ chức,…theo mô hình của Trung Quốc. Từ đây, Hồ Chí Minh rất khó có thể giữ được hoàn toàn độc lập, tự chủ như ở giai đoạn trước.

    Mặc dù có sự thúc ép rất mạnh của Trung Quốc, Hồ Chí Minh vẫn nấn ná, trì hoãn trong thực hiện các chỉ thị của Staline. Phải sang đầu năm 1951, ông mới tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ II, đưa Đảng CS ra công khai, nhưng đổi tên thành Đảng Lao Động Việt Nam; năm 1953 mới phát động quần chúng thực hiện giảm tô, năm 1954 mới thí điểm cải cách ruộng đất ở một vài vùng trung du; sau hòa bình 1955-56 mới triển khai rộng rãi trên toàn miền Bắc. Đặc biệt, họ đòi ta phải cải tổ quân đội, đặt ra hệ thống chính ủy, ép ta phải thay thế những tướng tá, cán bộ chỉ huy các cấp có nguồn gốc xuất thân trí thức, tiểu tư sản bằng những cán bộ gốc gác công nông! (thực ra là muốn tạo ra một đội ngũ tướng tá mới để dễ bề thao túng hơn). Vị tướng phụ trách Tổng cục cán bộ đã trình lên Hồ Chí Minh một danh sách hàng trăm người phải thay thế, trong đó có cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp! Song Cụ Hồ đã kiên quyết phản đối: “Gạt ra một lúc từng này người, lấy ai mà chỉ huy? Phải đốt ngay danh sách đó đi!”. Nhưng rồi có điều Cụ cũng phải nhượng bộ, chấp nhận đề bạt thêm một đại tướng xuất thân công nông, phụ trách chính trị để cân bằng với Võ Nguyên Giáp! (mà theo lý thuyết của Mao thì chính trị vẫn cao hơn quân sự).

    Dưới sức ép của các cố vấn Trung Quốc, hàng loạt sai lầm tả khuynh đã diễn ra sau đó, đau đớn nhất là sai lầm trong cải cách ruộng đất; là không khí đấu tố căng thẳng trong chỉnh huấn, chỉnh quân, có người đã phát điên, có người phải tự vẫn! Nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, xuất thân gia đình lớp trên, lo sợ, đã từ bỏ kháng chiến về thành. Sau Hiệp định Giơ-ne 1954, hàng chục vạn đồng bào đã bỏ quê hương di cư vào Nam. Cụ Hồ rất đau đớn trước nhưng tổn thất đó, Người đã phải khóc, nhận lỗi trước Quốc hội và thực tâm Cụ muốn điều chỉnh lại chính sách. Nhưng phía Trung Quốc đã có phản ứng tiêu cực. Chu Ân Lai từng phát biểu thẳng với ta (đại ý): Thắng lợi trong cải cách là cơ bản, còn oan sai-dù có lên tới ngàn vụ- nếu so với cải cách ruộng đất ở Trung Quốc liệu có thấm thá gì mà phải làm ầm ỹ đến như thế! Lưu Thiếu Kỳ thì đã phát biểu trong Hội nghị TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 25-03-1963 rằng: “Hồ Chí Minh xưa nay vẫn là tay hữu khuynh…Sau chiến cuộc 1954, ông ta vẫn còn chần chừ, không dứt khoát chọn chế độ tư bản hay xã hội chủ nghĩa. Chính chúng ta (tức ĐCS Trung Quốc) đã phải quyết định cho ông ta”[15]!.

    Một dân tộc nhược tiểu muốn đánh thắng một đế quốc hùng mạnh, không thể không tranh thủ liên minh, liên kết quốc tế, lợi dụng sức mạnh thời đại để chiến thắng kẻ thù, theo sách lược phù hợp với từng giai đoạn cụ thể. Mặc dù đã rất khôn khéo điều chỉnh và chấp nhận thỏa hiệp nhất định với thực tế cay nghiệt của hoàn cảnh nhằm đạt được mục tiêu cao cả nhất là độc lập, thống nhất cho dân tộc, song Hồ Chí Minh đã không thể dự kiến hết được mọi diễn biến phức tạp về sau, nên đã phải gánh chịu những điều tiếng nặng nề, nhất là về sau này, khi “người đồng chí quốc tế vô sản” đã hiện nguyên hình là “kẻ thù xâm lược bành trướng Đại Hán”!

    Nhưng không thể vì những éo le đó của lịch sử, mà đi đến quy kết những nhân nhượng của Cụ Hồ khi phải ký Hiệp định sơ bộ 6-3 là hữu khuynh; không thể coi việc từng bước phải chấp nhận những áp đặt đường lối của Mao sau 1950, là đã rơi vào “tả” khuynh; cũng như không thể cho là đã mắc sai lầm khi phải chấp nhận ký vào bản Hiệp định Genève 1954 mà kết quả của nó không phản ánh đúng tương quan lực lượng trên chiến trường, ...Đơn giản vì xưa nay một nước nhỏ, trong thế phụ thuộc vào những nước lớn, khó có thể tự quyết định được số phận của mình. Đó là những ràng buộc khắc nghiệt của hoàn cảnh mà Hồ Chí Minh và Đảng CS Việt Nam đã không thể vượt qua. Chân lý “không gì quý hơn độc lập, tự do” được Cụ đúc kết từ những trải nghiệm qua nhiều mối quan hệ, trong đó có cả quan hệ với ông bạn “vàng” từng được coi “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Cảm quan về nỗi “cay đắng” này từ sớm đã được Cụ viết ra thành thơ:

    Trên đời ngàn vạn điều cay đắng,
    Cay đắng chi bằng mất tự do.
    Mỗi việc, mỗi lời không tự chủ,
    Để người ta dắt tựa trâu bò.

    (“Nhật ký trong tù”)

    4. Vai trò và trách nhiệm của Hồ Chí Minh giai đoạn sau 1954.

    Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu được coi là một trong những sự kiện lớn nhất của thế kỷ XX, nó đã đào mồ chôn chủ nghĩa thực dân Pháp đồng thời mở đầu cho sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của hệ thống thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới, làm cho tên tuổi Việt Nam –Hồ Chí Minh được cả loài người biết đến và hết lòng khâm phục. Nhân loại đã nhất trí suy tôn Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam , đồng thời là chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa”! Có lẽ, đây là sự vinh danh cao cả nhất, đúng đắn nhất, xứng đáng nhất với Hồ Chí Minh – một người đã nửa thế kỷ không ngừng đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình và cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức. Một cuộc đời như thế, tuy chưa thật trọn vẹn, nhưng có thể nói là đã hoàn toàn xứng đáng đứng vào hàng các vĩ nhân của nhân loại trong thế kỷ XX.

    Nhưng khi đất nước chuyển sang thời kỳ hòa bình, xây dựng, thực hiện thống nhất nước nhà, vai trò của Hồ Chí Minh như thế nào, Cụ có những nhược điểm, hạn chế gì không?

    Như một tấm huân chương có mặt phải, mặt trái; con người cũng có mặt ưu, mặt nhược, mà như người ta thường nói: có khi nhược điểm lại là cái bóng nối dài của ưu điểm. Vĩ nhân cũng chỉ là một con người, mà con người nào chẳng bị giới hạn bởi đời sống trần thế. Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử nên cũng chịu sự ràng buộc của điều kiện lịch sử. Ông là người Việt Nam nên cũng chung đúc cả tinh hoa lẫn nhược điểm của dân tộc Việt Nam. Từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta đã phải liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, những nhân vật được nhân dân phong “thánh”, từ Thánh Gióng, Đức thánh Trần, đến Hồ Chí Minh,...đều là những anh hùng chống ngoại xâm. Trí tuệ dân tộc dồn tất cả cho sự nghiệp giữ nước, nên thành tựu dựng nước không mấy dồi dào, lịch sử nước ta thiếu những nhân vật “kinh bang, tế thế” lỗi lạc, mở ra cho dân tộc những thời kỳ phát triển rực rỡ về kinh tế, văn hóa, tư tưởng,... Do bị ngoại thuộc sớm ngay khi vừa lập quốc, trong hàng ngàn năm Bắc thuộc, ta chưa kịp sáng tạo ra chữ viết riêng, nên cũng không có triết học riêng, tôn giáo riêng,… nói chung là đều du nhập,vay mượn từ nước ngoài, mà ta cũng không tiếp thu cái gì cho thật hoàn chỉnh, sâu sắc, hệ thống để từ đó vượt lên, sáng tạo ra cái riêng, với tư cách là sản phẩm của Việt Nam.

    Vì vậy, các nhà nghiên cứu suy tôn Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lý luận, hay nhà văn hóa,...kèm theo những tính từ rất cao, cũng chỉ là một cách bồi dưỡng niềm tự hào cho nhân dân mình, còn Hồ Chí Minh – với bản chất khiêm nhường - ngay từ lúc còn sống, Cụ đã khước từ mọi danh hiệu người đời gán cho. Ví như Cụ từng nói: Nhà thơ gì tôi? Trong tù, đi ngang được ba bước, đi dọc được sáu bước, không biết làm gì thì làm thơ, thế thôi! Tôi chỉ là người có chút duyên nợ với báo chí, gọi tôi là nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất.

    Để góp phần đánh giá khách quan về Hồ Chí Minh ở thời kỳ sau hòa bình, ta hãy thử xét qua một vài phương diện cơ bản:

    A. Về xử lý mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị:

    Hồ Chí Minh vốn là một môn đệ của Nho giáo, nên rất coi trọng đức trị, lấy đức làm gốc; bản thân suốt đời nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư,...Trong kháng chiến, Cụ chưa có điều kiện chăm lo đến xây dựng nền pháp trị. Dù đã từng lập ra Bộ Tư pháp ngay từ năm 1945, song chịu sức ép của quan điểm mao-ít, lại giải thể nó đi trong hơn 10 năm, nên đến lúc qua đời năm 1969, Cụ Hồ cũng chỉ mới thông qua được có 16 đạo luật, còn lại, toàn là sắc lệnh.

    Song không phải Cụ coi nhẹ vai trò của pháp luật, khi cần nghiêm khắc, Cụ vẫn rất nghiêm khắc để giữ vững kỷ cương, phép nước, như đã từng ký lệnh xử tử hai cán bộ cao cấp (Đại tá Trần Dụ Châu và Thứ trưởng Trương Việt Hùng), điều mà những người kế tục ông sau này chưa ai theo được tấm gương ấy - mặc dù mức độ tham nhũng và sa đọa của những kẻ phạm pháp hiện nay còn lớn gấp trăm nghìn lần hơn so với hai nhân vật được nhắc đến ở trên.

    Không hình thành được ý thức và tập quán “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” trong cán bộ và nhân dân, có nguyên nhân sâu xa từ trong truyền thống “phép vua thua lệ làng” của xã hội phong kiến-tiểu nông ngày xưa (có lúc còn được ta đề cao như là biểu hiện của tinh thần phản kháng). Dù sao Cụ Hồ cũng phải chia sẻ một phần trách nhiệm trong vấn đề này, vì chưa nhận thức được nhược điểm cố hữu của dân tộc, để sớm xử lý đúng đắn mối quan hệ tương hỗ giữa pháp trị với đức trị.

    Người ta thường nói: pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa. Trong môi trường làng xã nhỏ hẹp ngày xưa, các gia đình, dòng họ sống với nhau nhiều đời, hiểu biết về nhau rất kỹ, chỉ làm một việc xấu, dù nhỏ, cũng lan đi rất nhanh, cả làng đều biết. Sống ở làng, dư luận có vai trò điều tiết đạo đức rất lớn, nên ai cũng phải giữ gìn. Nhưng đi vào xã hội đô thị hiện đại, chỉ riêng đạo đức thôi không đủ, phải tăng cường vai trò của pháp luật, phải luật hóa những chuẩn mực đạo đức tối thiểu, buộc ai cũng phải tuân theo, để từ cưỡng chế trở thành thói quen tự giác của toàn xã hội.

    Đạo đức cách mạng không phải là những chuẩn mực bình thường, mà là những yêu cầu đạo đức rất cao, không thể đạt được chỉ bằng kêu gọi và nêu gương, mà phải được quán triệt vào trong cơ cấu, thể chế, tổ chức, biến nó thành pháp luật,...buộc ai cũng phải thực hiện, nếu không muốn bị pháp luật trừng trị hay đào thải. Do những chuẩn mực đạo đức không sớm được thể chế hóa thành luật, nên bản thân tấm gương đạo đức của Cụ Hồ cao đẹp, hấp dẫn đến như thế mà vẫn không đủ sức ảnh hưởng, thấm sâu vào ngay các đồng chí, học trò gần gũi chung quanh mình, thì làm sao ảnh hưởng tới được đông đảo cán bộ và nhân dân bên dưới?

    Ở phương Tây, người ta đâu có rao giảng nhiều về đạo đức, kể cả Mác, nhưng họ lại rất coi trọng xây dựng thể chế, tổ chức, pháp luật, khép con người vào quy củ, dùng cưỡng chế của pháp luật, biến đạo đức thành tập quán, thành nếp sống tự nhiên của toàn xã hội. Ai làm trái đều bị công luận lên án, pháp luật xử trí, từ đó mà dẫn đến sự hình thành văn hóa tự xử: Quan chức có sai lầm thì lập tức tự nguyện xin từ chức, thậm chí có người còn đi đến tự vẫn (do xấu hổ, không chịu nổi áp lực phê phán của xã hội). Một xã hội hình thành được những thể chế và tập quán như thế sẽ “làm cho những lời kêu gọi về đạo đức trở nên thừa”.

    Ở ta hiện nay, tuy văn bản pháp luật không thiếu, nhưng đang bị vô hiệu hóa, người ta xét xử không nhân danh Công Lý, mà nhân danh Nhà nước, nên xét xử như thế nào đều ở trong sự dàn xếp giữa các “nhóm quyền lực”, Thần công lý chỉ còn là một anh hề, vì vậy chưa thể nói đến bao giờ ta mới có văn hóa tự xử! Các quan chức tham nhũng, tha hóa, đồi trụy vẫn cứ nhơn nhơn, đâu biết xấu hổ là gì mà phải tự vẫn! Trong bối cảnh ấy mà cứ kêu gọi “đẩy mạnh học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách hình thức và nhàm chán, một khi “trái núi chỉ đẻ ra những con chuột” tham nhũng thì dễ biến thành một trò hề, hơn nữa còn là một sự nhạo báng đối với Cụ.

    B. Về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc:

    Vào những năm 60 thế kỷ trước, tâm trí Cụ Hồ có phần dành nhiều hơn cho miền Nam và sự nghiệp thống nhất đất nước, song đây vốn là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước; có lẽ do thiếu cả lý luận lẫn thực tiễn, Đại hội III (1960) của Đảng vẫn chưa thể vạch ra được một chiến lược rõ ràng và đầy đủ cho một “tổng lộ tuyến” đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam .

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội có nội dung quan trọng hàng đầu là kinh tế, đây lại là mặt yếu của nhà chính trị Hồ Chí Minh. Theo đuổi mục tiêu cứu nước, Cụ Hồ chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu các học thuyết kinh tế của A. Smith, D. Ricardo, kể cả Tư bản luận của Marx, chưa nói gì đến các học thuyết kinh tế hiện đại. Nho giáo xưa vốn rất ít bàn về sản xuất và kinh tế. Vì vậy, chưa thể nói đến tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh một cách đầy đủ và hệ thống, bản thân Cụ cũng chưa từng một lần nhắc đến khái niệm kinh tế thị trường.

    Hồ Chí Minh sống đến 1969, khi đó Quốc tế xã hội chủ nghĩa, sau chiến tranh, đã phục hồi và phát triển, tới Đại hội thứ 23, đã có 170 tổ chức thành viên từ 126 nước tới dự, trong đó có 29 đảng đang cầm quyền, 23 đảng tham gia liên minh cầm quyền. Chủ nghĩa xã hội dân chủ kiểu Bắc Âu ngay từ sinh thời Cụ đã có những thành tựu được cả thế giới biết đến. Hồ Chí Minh do bị chi phối bởi tư tưởng đối đầu thời kỳ chiến tranh lạnh, chưa có điều kiện tìm hiểu, nên chưa biết đến những thành tựu này của chủ nghĩa xã hội dân chủ.

    Tuy sinh thời, Hồ Chí Minh từng nói: Việt Nam chúng ta không giống với Liên Xô và Trung Quốc, ta cần thiết phải tìm ra con đường khác để đi lên chủ nghĩa xã hội. Song đây chỉ có ý nhấn mạnh là phải biết xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi nước, chưa phải do đã nhận thức được những nhược điểm, sai lầm, khuyết tật trong mô hình chủ nghĩa xã hội cực quyền của Staline - cái mà ngày nay chúng ta gọi là “những lỗi của hệ thống”! Vì vậy, trong các phát biểu, cả trong Di chúc, chưa thấy Cụ Hồ có cảnh báo nào phải đề phòng, để tránh không mắc vào những khuyết tật ấy. (Di chúc có nói đến “phải chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, nhưng chưa đề cập tới hai chữ “đổi mới” với hàm nghĩa như là phải cải tổ).

    C. Nhận thức về vai trò và sức mạnh của khoa học và công nghệ:

    Nếu so sánh có thể thấy: sinh thời Marx còn chưa biết đến đèn điện, thời Engels chưa có máy bay, thời Lênin đã có điện ảnh, vô tuyến điện, nhưng chưa có vô tuyến truyền hình,... sinh thời Hồ Chí Minh đã được chứng kiến những thành tựu khoa học-công nghệ làm thay đổi thời đại: sức mạnh năng lượng nguyên tử, máy điện toán, công nghệ thông tin, công nghệ biến đổi gien, con người đã bay vào vũ trụ,... Tuy nhiên, Hồ Chí Minh còn ít nói về vai trò và sức mạnh của khoa học-công nghệ, có nói, nhưng chưa đủ, chưa đến độ, nhất là chưa ráo riết trong tổ chức, đào tạo, nghiên cứu, vận dụng, phát triển khoa học-công nghệ , để nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

    Có thể đổ tại hoàn cảnh chiến tranh, đất nước bị chia cắt,...nhưng nếu so với Bắc Triều Tiên cùng hoàn cảnh như ta, mà từ lâu họ đã chế tạo được vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, đã có nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, khiến cho các cường quốc láng giềng phải vì nể. Trong khi đó, đến nay ta vẫn chưa có một nền công nghiệp cơ khí chế tạo đủ sức tự sản xuất hoàn chỉnh một chiếc ôtô, một cái máy chuyên dùng cho công nghiệp hay nông nghiệp,… thế mà cứ “hồn nhiên, vô tư” nói rằng đến năm 2020 (tức là chỉ 5 năm nữa) nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại!

    Hiện nay, ta đã có hai viện hàn lâm khoa học nhưng lại không có những “viện sĩ” đúng nghĩa; có nhiều giáo sư, tiến sĩ nhưng lại không có phát minh, sáng chế được quốc tế biết đến và công nhận,...Đó không phải là lỗi của cá nhân mà thuộc lỗi của đường lối, của tầm nhìn lãnh đạo, chưa vạch ra được một chiến lược quốc gia về phát triển khoa học-công nghệ với những định hướng mục tiêu cơ bản cần đạt trong các kế hoạch trung hạn và dài hạn.

    Con người Việt Nam vốn thông minh, năng động, khéo tay nhưng cũng mang những hạn chế của một cư dân nông nghiệp sản xuất nhỏ (giỏi bắt chước nhưng kém độc lập, sáng tạo) lại cộng thêm di chứng của Nho giáo, trọng danh hơn trọng thực, nên mới có tình trạng thừa thầy mà thiếu thợ, thừa quan chức mà thiếu chuyên gia, như Cụ Hồ nói: thừa người đi tuyên truyền mà thiếu người giỏi quản trị hành chính; sính làm thơ, sáng tác “văn chương” hơn là say mê, tìm tòi, phát minh khoa học-kỹ thuật,...(Vì vậy, đã có người phải loa lên rằng “Toàn dân yêu thơ, sơn hà nguy biến!). Trong hoàn cảnh đó, những anh “Hai Lúa” chế ra được máy bay trực thăng, tàu ngầm mini, cải tiến xe bọc thép,…đáng phong anh hùng lao động sáng tạo, lại không được Nhà nước tuyên truyền, đề cao, nên ta mới chỉ có loại anh hùng “sao văn tế”!

    Khoa học-công nghệ của ta muốn phát triển, giáo dục-đào tạo phải khắc phục được những nhược điểm cố hữu nói trên của con người Việt Nam, nhất là Nhà nước phải tháo gỡ những vướng mắc trong cơ chế, chính sách đang là rào cản sự phát triển của khoa học-công nghệ hiện nay:

    - một là, lựa chọn, cắt cử người lãnh đạo khoa học-công nghệ phải là những nhà khoa học tâm huyết, có thực tài, có khát vọng sáng tạo, tìm tòi cái mới và truyền được khát vọng đó cho đồng nghiệp và học trò (như thế hệ các giáo sư Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu,... thời Cụ Hồ ngày xưa). Muốn thế, phải biết quý, biết trọng những người có bộ óc lỗi lạc, có tầm vóc khoa học, chứ không phải coi họ như những “sai nha” quen xun xoe, nịnh hót quanh mình.

    - hai là, phải hình thành đồng bộ một đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành có trí tuệ, có sức sáng tạo mạnh, có công trình nghiên cứu được thế giới biết đến, có quan hệ rộng rãi với các nhà khoa học nước ngoài, có khả năng đào tạo được các nhà khoa học trẻ, đảm bảo tính kế thừa và phát triển tiếp nối ở mỗi chuyên ngành nghiên cứu. Đáng tiếc, ở ta hiện nay đang có sự đứt gãy, hụt hẫng giữa các thế hệ, lớp sau không kế thừa được lớp trước.

    - ba là, phải làm trong sạch môi trường học thuật đang bị ô nhiễm nặng: các chuẩn mực khoa học không được triệt để tôn trọng; nạn “học giả, bằng thật”, nạn mua bằng, bán điểm; nạn lũng đoạn, tham nhũng đáng xấu hổ trong việc giành giật các chương trình, đề tài nghiên cứu, …Muốn thế, phải trả lương cho các nhà khoa học đủ sống để họ có thể theo đuổi lý tưởng sáng tạo khoa học, biết đứng cao hơn mọi cám dỗ vật chất, danh vị, tiền tài; phải tiến tới xóa bỏ “nền khoa học bao cấp”, bỏ “cơ chế xin cho” trong nghiên cứu khoa học!

    Không coi trọng chỉ đạo và đầu tư tương xứng cho khoa học-công nghệ, tức là không quán triệt trong thực tế quan điểm coi cách mạng khoa học-công nghệ là then chốt, đó là lỗi của Đảng và Nhà nước, trong đó có phần nào trách nhiệm của người đặt nền móng, là Cụ Hồ.

    *

    Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại không ít tên tuổi sáng chói của những anh hùng cứu nước, chống ngoại xâm, như hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,…GS Hoàng Xuân Hãn, trong một thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có đoạn viết: tuy nước ta có nhiều cuộc chiến thắng ngoại xâm, nhưng “chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các Anh” [16] . Ý GS Hãn muốn nói: cần phân biệt giữa chiến thắng chống ngoại xâm với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, một bên có sẵn một hệ thống nhà nước với quân đội hùng hậu được trang bị và tổ chức chặt chẽ, được nhân dân cả nước sẵn sàng góp người, góp của để bảo vệ Tổ quốc; với bên kia là cuộc đấu tranh giải phóng đất nước (đang bị ngoại bang thống trị với hệ thống cảnh sát, máy chém, nhà tù), phải khởi sự từ hai bàn tay trắng, phải bí mật nhen nhóm, thức tỉnh lòng yêu nước và căm thù của nhân dân, phải rất giỏi tổ chức quần chúng, từ nhen từng đốm lửa nhỏ đến đốt cháy cả đồng cỏ rộng…Muốn thế, người lãnh tụ phải có đạo đức rất cao mới hấp dẫn được quần chúng đi theo mình; lại phải rất trí tuệ, rất tài năng trong phân tích tình hình, khéo liên minh, liên kết, biết thêm bạn, bớt thù, giỏi nắm bắt thời cơ, chớp thời cơ để giành lấy thắng lợi cuối cùng.

    Nếu kể từ ngày Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đến 1941 trở về gây dựng và làm cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, rồi lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm, kết thúc vẻ vang với Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, là gần trọn 45 năm! Đó là một sự nghiệp vô cùng gian nan, cực khổ nhưng cũng vô cùng vinh quang.Vào nửa đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam không một nhân vật lịch sử nào có thể so sánh với tầm vóc của Cụ được!

    Lịch sử rất công minh trong phán xét ai là kẻ có tội, ai là người có công. Chúng ta vững tin rằng năm tháng qua đi, hận thù được xóa bỏ, dân tộc hòa hợp lại, lịch sử sẽ đánh giá đúng công lao, sự nghiệp của Hồ Chí Minh: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”.

    Nội dung tham khảo:

    [1] Thư Enghels gửi Karl Kautsky ở Viên. Xem Mác-Ănghen Tuyển tập, t. V, nxb Sự Thật, Hà Nọi, 1983, tr. 684-85

    [2] Dẫn lại theo A. Schenalder, trong sách Chủ thuyết của chúng ta, ấn hành tại CHDC Đức 1981, tr. 83.

    [3] Xem Trần Dân Tiên giả, Hồ Chí Minh truyện, Trương Niệm Thức dịch, Bát nguyệt xuất bản xã ấn hành 6-1949, bản Trung văn, tr. 90.

    [4] Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 4, tr. 367.

    [5] Xem Hồ Chí Minh truyện, sđd, tr. 90.

    [6] Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Hồ Chí Minh Toàn tập, xb lần thứ 2, t. 1, tr. 464-466.

    [7] Bài nói chuyện của ông về cuốn sách mới có tựa đề “Việt Nam Exposé and New biography of Hồ Chí Minh “, tại Toronto, Canada, ngày 29-10-2003. Dẫn lại theo bản tin BBC, Ban Việt ngữ.

    [8] Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7 (1940-1945), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 113.

    [9] Hồ Chí Minh Toàn tập, t. 3, tr. 198.

    [10] Dẫn lại theo P. Messmer, trong cuốn Les blans s’en vont, Albin Michel, 1998, p. 35. Nguyên văn tiếng Pháp: “Plutôt flairer la crotte des Français pendant cinq ans, que flairer celle des Chinois pendant mille ans”!.

    [11] Ý này Hồ Chí Minh nói 2 lần, lần đầu với Trương Phát Khuê tại Liễu Châu 1944, lần 2 với các ký giả Pháp tại Paris 1946. TBT Nguyễn Phú Trọng nay còn có tầm nhìn xa hơn: “Chưa biết đến cuối thế kỷ này (21), chúng ta đã có chủ nghĩa xã hội đích thực hay chưa!”.

    [12] Dẫn theo Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002, tr. 91.

    [13] Dẫn lại theo Tucker, Spencer ed., The Encyclopedia of the Vietnam War, NY, Oxford University Press, 2000, p. 422.

    [14] Xem bài Thư từ Việt Nam, ký tên LIN, trong Hồ Chí Minh Toàn tập, t. 7, tr. 100.

    [15] Trich tham luận của Yang Kuisong “Mao Zedong and the War in Indochina” (Mao Trạch Đông và chiến tranh Đông Dương), đọc tại Hội tháo Khoa học tại Hong Kong ngày 11,12 tháng 1 năm 2000. Dẫn lại theo P. Brocheux, trong cuôn tiểu sử của ông về Hồ Chí Minh , Nxb Biographie Payot, Paris, 2003, p. 245.

    [16] Thư của GS Hoàng Xuân Hãn gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngày 2 tháng 1 năm Bính Tý 1996.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    18 phản hồi

    Về mặt quốc tế thì Mỹ và đồng minh cũng đã mặc nhiên nhìn nhận nền Độc Lập của Việt nam đã thâu hồi từ 11-3-1945, nhìn nhận VN đã thoát khỏi ách cai trị của Pháp , mặc nhiên nhìn nhận Pháp đã không còn một thẩm quyền cai trị nào tại VN.

    ******

    Hội nghị quốc tế Postdam họp từ ngày 7-8-1945 đến 11-8-1945, bàn về việc Nhật đầu hàng, song song với tuyên bố đòi hỏi Nhật đầu hàng vô điều kiện, Mỹ và đồng minh đã chỉ định Anh quốc và Trung Hoa tự do chịu trách nhiệm giải giới quân Nhật tại Đông Dương.

    Điều ấy có ý nghĩa gì?

    Điều ấy rõ ràng có ý nghĩa là những gì xảy ra ở VN trong ngày 11-3-1945 đã vang ra quốc tế,

    Điều ấy rõ ràng có ý nghĩa là Mỹ và Đồng Minh đã nhìn thấy sự thay đổi ở Việt nam, đã nhìn thấy sự cáo chung của chế độ thục dân Pháp ở Việt nam, đã nhìn nhận Pháp đã không còn một thẩm quyền cai trị nào tại VN lúc ấy, đã nhìn thấy VN không còn bị Pháp cai trị,

    Điều ấy có nghĩa là Quốc tế & Mỹ & đồng minh đã mặc nhiên nhìn nhận nền Đôc Lập của Việt nam

    Nói cách khác, về mặt quốc tế cũng như quốc nội (*) VN đã hoàn toàn là một quốc gia độc lâp ngay từ 11-3-1945, rất lâu trước ngày 2-9-1945, rất lâu trước ngày 19-8-1945.

    NHững sự kiện trên, một lần nữa cho thấy cái mà bọn trí thức cộng sản chân chính tim đỏ thẻ đỏ chuyên nghề làm chứng gian, hằng rêu rao lừa dối người dân những là "cách mạng tháng 8 đánh Pháp đuổi Nhật giành độc lập", những là "tuyên ngôn độc lập 2-9", những là "ngày độc lập 2-9"..., tất cả chỉ là bìm bịp!

    (*)(một trong những sự kiện xãy ra ở quốc nội, khẳng định chế độ thực dân & nhà cầm quyền thực dân Pháp ở VN đã cáo chung, là sự kiện pho tượng Bôn Be tại Hà nội đã bị lật đổ vào ngày 1-8-1945)

    *****

    (Nếu lúc ấy Pháp còn một thẩm quyền cai trị nào ở VN thì Mỹ và hội nghi Postdam có dám làm vậy (truất quyền của Pháp giải giới quân Nhật tại VN, giao cho Trung hoa tự do & Anh quốc trách nhiệm giải giới quân Nhật tại VN) không?

    Nếu lúc ấy Pháp còn một thẩm quyền cai trị nào ở VN thì Pháp có ngồi yên, im lặng để cho Hội nghị truất quyền của Pháp (giải giới quân Nhật tại VN), giao trách nhiệm giải giới quân Nhật tại VN cho Trung hoa & Anh quốc, không?

    Trả lời cho 2 câu hỏi trên chắc chắn chỉ có một chữ "KHÔNG"!

    Rõ ràng, nếu lúc ấy Pháp còn một thẩm quyền cai trị nào ở VN thì Mỹ và hội nghi Postdam chắc không làm vậy, không thể làm vậy (truất quyền của Pháp giải giới quân Nhật tại VN, giao cho Trung hoa tự do & Anh quốc trách nhiệm giải giới quân Nhật tại VN)

    Rõ ràng, nếu lúc ấy Pháp còn một thẩm quyền cai trị nào ở VN thì Pháp đã la toáng lên phản đối chứ đâu có ngồi yên, im lặng để cho Hội nghị truất quyền của Pháp (giải giới quân Nhật tại VN), giao trách nhiệm giải giới quân Nhật tại VN cho Trung hoa & Anh quốc!

    Rõ ràng, nếu lúc ấy Pháp còn một thẩm quyền cai trị nào ở VN, nếu ở VN còn có một cơ cấu cầm quyền nào của Pháp, thì chính là nhà cầm quyền thục dân Pháp ấy sẽ phụ trách việc "giải giới quân Nhật" chứ đâu cần đến hội nghị Postdam phải "quan tâm" đến, phải cắt đặt Anh quốc hay Trung Hoa, hay v...v... phụ trách công việc giải giới quân Nhật tại VN.

    Nói tóm lại, bằng sự việc truất quyền của Pháp, không giao cho Pháp trách nhiệm giải giới quân Nhật tại VN, quốc tế & hội nghị Postdam & Mỹ và đồng minh, [và ngay cả Pháp, dù miễn cưỡng] đã mặc nhiên nhìn nhận nền Đôc Lập của VN, nhìn nhận VN đã không còn bị lệ thuộc Pháp, nhìn nhận Pháp không còn thẩm quyền cai trị nào ở VN)

    Việt cộng liên tục và đểu đặn “sản xuất sự thật” thêm cho Hồ. Hơn 85 năm , tại các “nhà máy Tuyên huấn” , những ….”kế hoạch SX sự thật Hồ” thường niên, luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Ở VN XHCN, không có gì thừa mứa ,ngổn ngang hơn “Sự thật” về Hồ , ( nếu có, thì có lẽ là các loại tượng của Hồ !).“Sự thật” đã nhiều thế, sSao nay lại phải tìm thêm “sự thật” gì nữa về Hồ tặc ? Chưa “đủ đô (dose)” à ?
    Còn nếu nhìn thật kỹ Lịch sử , Hồ là kẻ sát nhân, kẻ giết người VN nhiều nhất trong lịch sử nước Việt, và giết vì mục đích của Quốc tế cộng sản ! Có gì phải bàn thêm ?

    Nếu có phải “bàn thêm” thì giữa Hồ với Lê long Đĩnh…ai có cách giết người ác hơn ! Thiển nghĩ, Hồ ác hơn và quy mô hơn! Lê long Đĩnh nổi tiếng “róc mía trên đầu nhà sư”…Hồ thì chôn người , chừa phần đầu để kéo cày bừa ngang qua cho đến chết. Thế nên, xét về mức độ tàn bạo, dã man…và cả quy mô, có lẽ Lê long Đĩnh phải gọi Hồ là sư tổ !
    Lại cũng”sự thật”- thường nghe nói, Hồ từng “dạy” người ta : "Cái gì có hại cho dân thì tuyệt đối tránh, cái gì có lợi cho dân thì phải gắng sức mà làm " . Nói xong, "Người" liền ẩn danh viết lệnh tàn sát dân mang mật hiệu "Địa chủ ác ghê" , viết xong "người" mỉm cười khoan khoái, dán râu lén đi xem đảm thuộc hạ đồ tể đang mang bà Năm, nữ đại ân nhân của mình và đảng ,ra bắn chết , dẫm đạp lên xác bà đến xương gãy kêu răng rắc ! Phát pháo lệnh ấy, phất cờ cho các vị " Đội" cuồng sát... thất học, ngu độn, bắt đầu thẳng tay giết hại đồng bào vô tội của chúng. Thế là hơn 174 ngàn người VN " được "Người và đảng ta" cắt khẩu", chuyển xuống Quỷ môn quan , hưởng trọn vẹn cái gọi là " có lợi cho dân thì gắng sức mà làm " của " Người" .

    Phim kinh dị rùng rợn nhất của Holywood , thường viết kịch bản theo những vụ án kinh hoàng do những kẻ bệnh hoạn ,cuồng sát, giết người hàng loạt kiểu "series killer " , nhưng cùng lắm, thằng điên nhất, ác nhất trong đám ấy cũng chỉ giết khoảng trăm mạng...! Ha ! Hơn nữa, lũ ấy kia chỉ lầm lì ra tay mà chẳng thằng nào biết, vừa giết vừa nói những điều đạo đức, luân lý , minh triết thánh thiện như... "Người" . Bọn áy không biết NÓI "Cái gì có hại cho dân thì tuyệt đối tránh, cái gì có lợi cho dân thì phải gắng sức mà làm " , nên còn lâu, chúng mới theo kịp "thành quả" của "Người" . Cái cách giết người với thái độ nhàn hạ , ung dung ,tiêu sái tựa như bật thần tiên của "Người", có lẽ làm lũ ác quỷ dưới âm ti phải ganh tị đến ...chết (?) luôn ! Hic !

    Sự thật bấy nhiêu ấy, đã được chưa ? Nếu những “bác Hồ” là gián điệp Tàu, tội ác ấy không khó hiểu ! Nếu (các) bác Hồ là người Việt, rồi phải có một toà án nghiêm túc đối với tội ác kinh hoàng ấy của y. Và chính y sẽ phải chịu muôn đời nguyền rủa .
    Về một kẻ sát nhân, chẳng cần tốn thêm quá nhiều giấy mực !

    PS: Tác giả bản"Tuyên huấn ca" này quả rất... “mạo muội” khi bàn về “… Vai trò của vĩ nhân là…bla bla.... thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi ?” – Các vĩ nhân như M.Gandhi, N.Mandela …từng giải phóng đất nước to rộng hơn 12 lần VN, chống lại và thay đổi quan niệm kỳ thị chủng tộc của nhân loại trên một châu lục…nhưng không giết đến một con kiến, tù ngục 27 năm trời vẫn chọn cách bao dung, tha thứ…, Những vĩ nhân thực hiện "hoài bảo" của họ thiện lương và mạnh mẽ như thê, khi đứng bên cạnh “thằng cộng sản sống trong hang” của tác giả, có lẽ giống như những ngọn Hymalya so với …hòn sỏi ! "Vĩ nhân" mịa gì giết dân khiếp thế ?

    @ TIM SƯ THAT,

    Theo tôi, trừ những trường hợp trích dẫn một thông tin mới lạ (chưa phổ thông), hoặc phải mượn một tư tưởng của người khác, nhằm củng cố thêm cho lập luận của mình, thì còm sĩ mới phải nên dẫn nguồn.
    Ngoài ra, còm chỉ là những trao đổi mang tính nhất thời, còm sĩ chỉ cần vận dụng kiến thức cơ hữu của bản thân là được. Mỗi còm, không phải luôn luôn là một luận văn khoa học nên không nhất thiết mỗi chi tiết là phải dẫn nguồn.
    Giá trị của còm sẽ được độc giả đánh giá, vì viết và đọc - là 2 mặt của một vấn đề. Người đọc phải tự nâng cao tầm nhận thức để cảm được người viết, chứ không phải chỉ người viết có bổn phận phải cắt nghĩa từng li từng tí.
    Ví dụ, nếu ta không đọc nổi sách lớp 5 chỉ vì trình độ ta mới lớp 3, thì tự ta phải học thêm 2 lớp nữa để hiểu sách. Không thể đòi sách lớp 5 dẫn nguồn hay cắt nghĩa tất cả nội dung mà nó đang tải.

    Tôi thấy những thông tin ở các còm vừa đăng, cụ thể nhất là 2 còm của bác Phong Uyên và bác KHÁCH 1 có tải nhiều sử liệu, nhưng tất cả đều đã quá phổ biến từ rất lâu trước khi có internet, không phải là cái gì lạ lẫm mới bạch hóa hay mới phát hiện. Kiến thức họ có và trình bày qua còm, là ở trong kho tàng tích lũy và quá trình suy tư của cá nhân họ mà nên. Do vậy, người đọc không thể đòi hỏi các còm sĩ ấy phải dẫn nguồn về những vấn đề đã là kiến thức phổ thông (trừ trường hợp bài viết mang tính học thuật).

    Không phải chỉ người viết cố gắng trình bày dễ hiểu (dễ hiểu, không có nghĩa là thấp lè tè), mà người đọc cũng phải cố gắng tự mình nâng tầm lĩnh hội.

    Chưa nói, nguồn, thì cũng chỉ là thông tin có giá trị tương đối, đâu phải nguồn nào cũng là một bằng cứ khả tín?

    Các bạn comment ở trên có thể dẫn nguồn cụ thể thông tin các bạn đưa ra ở đâu không? Như vậy mới tăng tính xác thực bởi những điều các bạn nói

    Vào ngày 19-8-1945, vào ngày 2-9-1945 thì nền Độc Lập của Việt Nam thâu hồi từ ngày 11-3-1945 qua bản Tuyên NGôn Độc Lập do Hoàng Đế Bảo Đại ban hành cùng ngày 11-3-1945, vẫn còn đó, không hề suy xuyển, mà từ ngày 15-8-1945 khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng MỸ vô diều kiên, thì Việt nam lúc ấy là không Nhật, không Pháp, đã càng ngày càng rõ ràng là một quốc gia độc lập có chủ quyền .

    Nếu nền độc lập của quốc gia vẫn còn đó, thì có cần thêm một cái tuyên ngôn độc lập nào nữa không, thì có cần thêm một cái ngày độc lập nào nữa không? KHÔNG!

    Rõ là dơ dáng & bất hợp pháp cái gọi là "tuyên ngôn độc lập 2-9", rõ là dơ dáng & bất hơp pháp cái gọi là "ngày độc lập 2-9"

    Cái gọi là "tuyên ngôn độc lập 2-9" thực ra chỉ là bài diễn văn nhậm chức của Hồ chí Minh, đọc nhân dịp Hồ chí Minh thay Vua Bảo Đại nhậm chức Vua mới, Vua cộng sản, aka "chủ tịch nước"

    Ngày 2-9-1945 chỉ là ngày Hồ chí Minh đăng quang & crowned & inauguration chức chủ tịch nước.

    Chỉ là bịp bợm khi gọi ngày 2-9-1945 là "ngày độc lập",

    chỉ là vô cùng đần độn khi cứ mỗi lần thay đổi người đứng đầu & nguyên thủ, là lại có một "ngày độc lập" khác

    Ngày 2-9-1945 chỉ là ngày mà Việt Nam thay đổi nguyên thủ, từ Hoàng Đế Bảo Đại sang "Chủ tịch HCM", là ngày mà VN thay đổi thể chế từ " Vua (cha truyền con nối) + THủ tướng" sang "chủ tịch (không cha truyền con nối) + Thủ tướng".

    Một sự thay đổi thể chế có thể tạo nên một chính phủ mới, một hệ thống chính quyền mới, không tạo nên một quốc gia mới, không làm mất đi quốc gia đang có

    -----

    Chưa kể rằng, nội dung bài diễn văn nhậm chức của Hồ chí Minh mà trí thức kiki xưng tụng là tndl, cũng chỉ là Hồ viết theo yêu cầu của mấy tay OSS nhằm lấy lòng Mỹ lúc ấy, nhưng khong đạt yêu cầu vì Hồ không thật lòng

    Dạo này tôi thấy có nhiều người gọi đồng chí Hồ Chí Minh là anh Coong. Tôi bảo họ như thế là vô lễ đối với lãnh tụ tối cao của Đảng. Có một cụ U 80 bảo tôi: "Chẳng có gì là là vô lễ cả. Tôi cũng gọi đồng chí Hồ Chí Minh là anh Coong. Đứa trẻ còn bi bô nói chưa sõi còn gọi Hồ là Bác thì người lớn tuổi, như tôi U80 gọi Hồ là anh Coong cũng chẳng sao. Khi họp chi bộ thì cha con, ông cháu cá mè một lứa đều gọi nhau là đồng chí. Đó là cái sản phẩm của thời đại Hồ Chí Minh."
    Có lẽ ông cụ nói đúng và chí lý. Tôi thấy chính cụ Hồ đã rước cái CNCS vào làm hại dân hại nước ta. Cuộc đời tư của cụ thì quá phức tạp và thiếu trong sáng, thậm chí thiếu lành mạnh. Có cụ già còn bảo cụ chẳng những lưu manh về chính trị mà còn lưu manh cả về tình ái. Trước kia thì cụ lấy bà Nguyễn Thị Minh Khai đã rõ ràng, cảnh sát bắt được hai người ăn ở với nhau, cụ khai điều này trong lý lịch với đệ tam quốc tế.
    Sau này bà Khai lấy ông Lê Hồng Phong, có dư luận bảo chính cụ Hồ báo cho cảnh sát bắt bà Khai để trả thù. Cụ với ông Lê Hồng Phong thì lình sình cho tới lúc ông ta chết thảm, cũng do bàn tay của cụ.
    Nay tôi thấy ta kỷ niệm ngày sinh của cụ quá tốn kém trong lúc đời sống nhân dân nhiều vùng rất khó khăn, có hiện tượng đói đã xảy ra. Cụ sống đã làm khổ người dân. Cụ đi theo CNCS cấm buôn bán làm cho nền kinh tế sa sút, dân nghèo, nước yếu. Nay cụ chết, có kẻ nhờ vào ngày sinh của cụ bày vẽ để kiếm lời. Cụ bán nước thì có kẻ còn lợi dụng ngày sinh của cụ để kiếm chác.
    Đúng là chống cộng thì phải kèm với chống Hồ, tức là hạ bệ uy tín ảo của cụ do những kẻ khác đựng lên và tô vẽ nên.
    Có điều chống cộng là chống cái học thuyết mácxít lêninnít, chứ không phải thủ tiêu những người CS như chủ trương của cụ Hồ đã thủ tiêu lạm phát tất cả những ai chống cụ, kể cả thủ tiêu người yêu nước nhưng khác chính kiến với cụ. Người cộng sản như vợ cũ của cụ, cụ cũng thủ tiêu gián tiếp thì dã man quá.
    Nay nhà nước này học tập và noi gương cụ toàn dùng vũ lực đàn áp những người chống Tàu và đòi dân chủ. Đấu tranh tư tưởng thì dùng ngôn ngữ, lý luận chứ đừng dùng vũ lực kiểu côn đồ. Có lẽ cái nguồn gốc côn đồ cũng do cụ Hồ đẻ ra thì phải, vì họ học tập cụ Hồ mà. Bố con ông Nông Đức Mạnh chẳng biết có học cái thói tình ái nhăng nhít của cha ông họ không, sao mà cũng thối nát thế.
    Quốc hội và Đảng họp nhiều, sao không thấy bàn về việc xử lý cái xác cụ Hồ trong lăng cho đúng với di chúc của cụ và hợp nguyện vọng của ngươì dân. Nhà cho người sống thì thiếu lại có nhà thừa cho người chết. Đẻ cái lăng tốn kém quá, toàn tiền dân phải "nuôi" cái xác chết gần nửa thế kỷ rồi.
    Các vị bàn về ván đề này xem sao. Phải tạo dư luận mạnh mẽ và liên tục thì mới có hiệu lực, còn cứ thoảng qua thì đâu vào đấy, Nguyễn Y Vân.

    Trong bài viết này ông Lê Kỳ Sơn mắc rất nhiều sai lầm :

    1) Không thể so sánh sự sụp đổ của đế chế La Mã với sự sụp đổ của hệ thống XHCN được : Đế chế La Mã được Octave (Hoàng đế Auguste) thành lập năm 31 TCN, cường thịnh 400 năm cho đến năm 395 mới bị phân chia làm 2 : Đế chế Tây La Mã và đế chế Đông La Mã, chia cho 2 người con của hoàng đế Theodore. Đế chế Tây La Mã bị các bộ lạc Rợ người Slave và người Đức xâm chiếm và sụp đổ năm 476. Đế quốc Đông La Mã bị người Thổ Nhĩ Kỳ Hồi giáo tiêu diệt năm 1453 khi kinh đô Constantinople (Istanbul) bị chiếm. Như vậy đế chế La Mã tồn tại 1500 năm. Hệ thống XHCN (kiểu Liên xô) tồn tại 70 năm. Nếu muốn so sánh thì phải so sánh đế chế La Mã với Đế chế Trung Hoa từ thời Tần Thủy Hoàng. Thật ra Cộng sản Tàu bây giờ cũng chỉ là sự nối tiếp của đế quốc Tàu từ 2000 năm nay và vẫn tồn tại. Có thể nói là đế quốc Tàu hung hãn nhất thế giới và trường tồn tại lâu nhất thế giới.

    2) Cho là ông Hồ sở dĩ theo Quốc tế 3 của Lê nin vì tổ chức này ủng hộ các dân tộc thuộc địa, thì lí do gì khiến ông Hồ tiếp tục trung thành với Quốc tế Cộng sản của Staline và của Mao từ khi Lênin chết, từ đầu năm 1925 cho tới khi ông Hồ chết, nghĩa là 43 năm trung thành với cộng sản Nga-Tàu? Ông Lê Kỳ Sơn nghĩ thế nào khi ông Hồ, một mặt đối với dân thì nói chống đế quốc giành độc lập, một mặt thì tự nguyện làm thư ký riêng cho Borodine, người được Staline gửi qua Tàu để cộng sản hóa Quốc dân đảng Tàu?

    3) Ông Lê kỳ Sơn tự phanh phui thủ đoạn của ông Hồ khi nói: "đảng Cộng sản Đông dương tự giải tán nhưng thực chất rút vào hoạt động bí mật", nghĩa là vẫn nắm mọi quyền hành qua Mặt trận Việt Minh. Một người trí trá như vậy có đáng khâm phục không?

    4) Nguyên văn câu ông Hồ nói bằng tiếng Pháp (thật ra cũng chỉ là một huyền thoại) là : "Plutôt flairer la crotte des Français que manger toute notre vie celle des Chinois" (thà ngửi phân thằng Tây còn hơn là suốt đời ăn phân thằng Tàu), chứ không phải là "ngửi phân thằng Tây 5 năm và ăn phân thằng Tàu 1000 năm". Tuy vậy từ tháng 2-50, khi chạy qua Nga năn nỉ Staline vẫn bị Staline bỏ rơi, giao CSVN cho Mao quản lý, bắt phải theo chính sách cải cách ruộng đất và diệt trừ trí phú địa hào của Tàu, thanh trừng thành phần sĩ quan trong quân đội để sau này không thể chống Tàu được, thì lại cam chịu ! Như vậy không phải là ăn cứt Tàu hả?

    5) Cho De Gaulle không thức thời là không đúng : Ngày 14-12-1945, sau khi hoàng thân Vĩnh San (cụu hoàng Duy Tân) gặp De Gaulle, De Gaulle đã có ý trả độc lập cho Việt Nam. Còn vấn đề thống nhất, De Gaulle cũng hứa là sẽ chấp thuận Việt Nam đi đến thống nhất sau mộtr thời gian. Tiếc là 12 ngày sau (26-12-45), hoàng thân Vĩnh San bị tử nạn máy bay (Xem De Gaulle et le Việt Nam). De Gaulle thất vọng một cách sâu xa. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm De Gaulle từ bỏ chính quyền lần đầu ngày 20-1-46. Chiến tranh Việt-Pháp không dính dấp gì với De Gaulle.

    6) Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của Tàu đúng như lời Lưu thiếu Kỳ nói : "chúng ta đã quyết định cho ông ta (HCM)" và Tàu có đủ chứng cớ để chứng minh rằng quân đội Việt Nam chỉ làm theo sự chỉ dẫn của các cố vấn Tàu. Rút cục cái giá mà ông Hồ phải trả cho Tàu là cả trăm ngàn quân bị hi sinh để cho Tàu có quân bài trong bàn cờ chia đôi Việt Nam với Mỹ.

    7) Ông Lê Kỳ Sơn quá cường điệu khi viết : "Chiến thắng ĐBP chấn động địa cầu, được coi là sự kiện lớn nhất thế kỷ thứ xx (Stalingrad để đâu?), nó đã đào chôn chủ nghĩa thực dân Pháp đồng thời mở đầu cho sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của hệ thống thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới.... nhân loại đã nhất trí suy tôn HCM là chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa" (!!)

    Xin trả lời ông LKS :1° Từ những năm 1947 đến 1955 gần như hầu hết các nước thuộc địa cũ đều được trao trả độc lập mà không phải đổ máu hay đổ máu rất ít và chả có nước nào phải nhờ đến chủ nghĩa cộng sản cả. 2° Chiến tranh Pháp-Algérie có ý nghĩa chiến tranh sắc tộc và tôn giáo nhiều hơn là chiến tranh giải phóng và có thể nói là khơi mào cho những cuộc thánh chiến gây ra bởi những người Hồi giáo hiện nay. 3° Những anh hùng giải phóng dân tộc được thế giới biết đến la Nehru, Soekarno và sau này là Mandela chứ Hồ Chí Minh chỉ được biết như là người lính tiên phong cho cộng sản Nga Tàu.

    Bản chất lưu manh lừa bịp của Hồ chí minh nói riêng và của đảng CSVN nói chung, có bao giờ thay đổi đâu??? Chỉ có điều là với thời đại thông tin toàn cầu Internet, BỌN CHÚNG ĐÃ BỊ RỚT MẶT NẠ!!!

    Bìa này có giá trị nhất là bức tranh vẽ chân dung Hồ ở ngay đầu bài. Thế thôi.
    Ông này toàn nghiên cứu về Hồ qua những tài liệu sách vở có trước, rất tiếc là ông không tham khảo những cuón sấch có giá trị như "Đèn cù" của Trần Đĩnh và "Những lời trăn trối" củ Trần Đức Thảo. Để hiểu rõ thêm về "công lao" của Hồ thì ông có thể tham khảo thêm trang web nói về CCRĐ, và tìm hiểu con cháu bà Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long hiện nay có người còn sống.
    Nhiều người nước ngoài ca ngợi Hồ, thế nhưng chỉ những người Việt Nam mới biết rõ Hồ như thế nào vì "nằm trong chăn mới biết chăn có giận".
    Hồi cfòn thế kỷ XX có một nhà báo Liên xô chửi khéo Hồ, bảo Hồ có nền văn hóa ở thế kỷ XXI, thế mà Hồ đéo biết, cứ tự hào. Con người thế kỷ XX mà có kiểu văn hoá thế kỷ XXI thì là dị nhân hoặc quái nhân. Sau này bọn lau nhau cũng dựa vào câu khen đểu đó mà tâng bốc Hồ. Ngu chưa?
    Ông Lê Kỳ Sơn cố tìm tác phẩm "Đèn cù" của Trần Đĩnh và "Những lời trăn trối" của Trần Đức Thảo mà đọc, có thể đọc thêm "Đêm giữa ban ngày" của Vũ Thư Hiên. Đó là những tác phẩm quý viết về Bác Hồ của nhà ông đấy.
    Trước kia tôi và nhiều người khác cũng ngù ngờ như ông bây giờ, nhưng hồi đó chúng tôi còn trẻ quá, học ở các trường thì toàn bị người ta xui dại, sau này phải trả giá bằng bài học xương máu ngay trên chiến trường thì mới sáng mắt ra chút ít. Nay nhờ có internt thì mới hiểu rõ hơn. Đã ến luc sắp nhăm mắt thì mới mở mắt. Cần phải làm cho con cháu ta sáng mắt, sáng lòng để đời chúng đỡ phải chịu bi kịch như cả đời ta. Đó là trách nhiệm của những người di trước. Mong rằng ông Lê Kỳ Sơn đừng góp thêm những lời ru ngủ lớp trẻ nữa.

    Tên tác giả viết:
    Hồ Chí Minh đã có thể được coi là anh hùng của nước Việt Nam hiện đại và dân chủ, đã có thể được coi là nhà lãnh đạo đã đưa đất nước của ông ra khỏi cảnh thuộc địa để bước lên nền văn minh mới, kết hợp truyền thống với đổi mới.
    Nhưng khốn thay, mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt Nam, mà là sự hội nhập vào quốc tế cộng sản. Mục tiêu của ông Hồ không phải là giành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và lối sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả đặc điểm của nó : những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong “cải tạo”, quần chúng chết đói và tham nhũng của kẻ lãnh đạo.
    Hồ Chí Minh là một trong những người kiên định nhất trong áp dụng phương thức cai trị kiểu cộng sản suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược với những khát vọng ấp ủ bởi quần chúng đã bị ông ta lợi dụng.
    Khi quần chúng nhận được ra sự lừa đảo thì đã quá muộn. Họ đã bị cầm tù. Chính quyền độc đoán đã được thiết lập và cũi đã khóa chặt. Thật không có gì ma quái hơn là sự tước đoạt những tình cảm cao quý, những sự dấn thân đông đảo, những ý nguyện sâu sắc và chính đáng đầy nhân tính để đưa đến sự đầy đọa, bần cùng, ô nhục và đơn giản là Tội Ác . Chúng ta chớ quên rằng chế độ cộng sản là một trong những chế độ đẫm máu nhất, – cũng có thể là đẫm máu nhất, của toàn bộ Lịch Sử, bởi vì không một chế độ nào đã cai trị đồng thời nhiều nước đến vậy. Vào những năm 1980, hơn 2 tỷ người đã sống dưới ách cai trị dã man tàn bạo, và cũng bất lực vì sự ngu xuẩn của nó.
    Dựa vào khát vọng tự do để ngự trị, đó là phương pháp Hồ Chí Minh, rất mực trung thành tuân theo phương pháp của nhân vật tồi tệ Lenin. Phương pháp này đã tàn phá những nơi khác : Cambốt (Cambodia), Êthiôpi (Ethiopia), Môzambich (Mozambique), Algiêri (Algeria), Cuba, Angôla (Angola). Đằng sau cuộc chiến tranh giải phóng, một cuộc chiến đấu giành quyền sống bình đẳng, trong đó các chiến sĩ thành thật hiến thân, luôn ẩn giấu âm mưu của những kẻ cầm đầu chống lại tự do và quyền con người.
    Hồ Chí Minh có thật lòng tin ở sự tốt đẹp trong tương lai của chủ nghĩa cộng sản ? Tôi nghi ngờ điều này, bởi vì ông ta đã thấy chế độ đó vận hành ra sao trong nhiều nước. Có lý tưởng và cực đoan, có thể ông ta không tự đặt ra câu hỏi ấy. Và cũng như tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán, ông ta vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ ông ta đã lựa chọn. Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người mà là của hành động của họ. Mà những hệ quả thì sờ sờ ra đó, cảnh đọa đầy, máu chảy, chết chóc và nạn đói. Người ta không thể xin lỗi sau khi đã tước đoạt cuộc chiến đấu chống thực dân của quần chúng để dẫn đến cảnh tàn phá đến vậy. Trái lại, đó là một cuộc ăn cắp, một cuộc lừa đảo, với hoàn cảnh tăng thêm phần nghiêm trọng cho kẻ phạm tội.
    (*) Trích từ bài Ho Chi Minh, l’homme et son héritage, Jean–François Revel, đăng trên Vietnam Infos, số 36, ra ngày 15/05/2006.

    Nhận xét trên quá đúng

    Nhiều người biết họ đã bị lừa, bị áp đặt, nhưng vẫn không muốn nhận đã bị lừa và nhất là không muốn thoát khỏi sự áp đặt đó, khá hơn thì chỉ muốn nới lỏng cái vòng kim cô một chút cho .... vui nhà vui cửa.

    Biểu tượng của đảng Cộng Sản VN là cờ đỏ, màu máu của người dân Việt đã đổ ra để xây dựng nên chế độ CS này. Cứ nhìn lá cờ này là tôi lại nghĩ đến những người đã mất, mất vì bom đạn, vì lòng tin/không tin, vì chuyên chính, vì bạo lực....Ngày nào đảng Cộng sản Việt Nam còn nắm độc quyền cai quản QG, ngày đó, máu người dân Việt còn đổ, như hiện tại vẫn đổ cho lòng tham lam vô bờ bến, cho ảo tưởng, cho cuồng vọng của một bầy, một lũ quan Cộng sản.

    Nguyễn Jung

    Đây là một bài viết của một dạng DLV cao cấp,không khác mấy với các tài liệu tuyên truyền của Đảng CSVN.Vì bài quá dài không tiện nêu ra các mâu thuẫn trong các lập luận của tác giả,tôi chỉ nêu ra đây một bài viết ngắn nhưng đánh giá tương đối toàn diện về ông Hồ Chí Minh:
    Hồ Chí Minh đã có thể được coi là anh hùng của nước Việt Nam hiện đại và dân chủ, đã có thể được coi là nhà lãnh đạo đã đưa đất nước của ông ra khỏi cảnh thuộc địa để bước lên nền văn minh mới, kết hợp truyền thống với đổi mới.
    Nhưng khốn thay, mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt Nam, mà là sự hội nhập vào quốc tế cộng sản. Mục tiêu của ông Hồ không phải là giành lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền chọn lựa người lãnh đạo, quyền có luật pháp của mình và lối sống của mình. Mục tiêu của ông ta là cưỡng bức nhân dân phải chấp nhận chế độ toàn trị kiểu Stalin, với tất cả đặc điểm của nó : những cuộc hành quyết không qua xét xử, trại tập trung, sự chà đạp nhân phẩm trong “cải tạo”, quần chúng chết đói và tham nhũng của kẻ lãnh đạo.
    Hồ Chí Minh là một trong những người kiên định nhất trong áp dụng phương thức cai trị kiểu cộng sản suốt thế kỷ 20. Nội dung phương thức ấy là khơi dậy những khát vọng tự nhiên của con người : khát vọng tự do, thịnh vượng, tiến bộ, độc lập dân tộc để rồi hướng tất cả ý nguyện ấy vào những mục tiêu hoàn toàn trái ngược với những khát vọng ấp ủ bởi quần chúng đã bị ông ta lợi dụng.
    Khi quần chúng nhận được ra sự lừa đảo thì đã quá muộn. Họ đã bị cầm tù. Chính quyền độc đoán đã được thiết lập và cũi đã khóa chặt. Thật không có gì ma quái hơn là sự tước đoạt những tình cảm cao quý, những sự dấn thân đông đảo, những ý nguyện sâu sắc và chính đáng đầy nhân tính để đưa đến sự đầy đọa, bần cùng, ô nhục và đơn giản là Tội Ác . Chúng ta chớ quên rằng chế độ cộng sản là một trong những chế độ đẫm máu nhất, – cũng có thể là đẫm máu nhất, của toàn bộ Lịch Sử, bởi vì không một chế độ nào đã cai trị đồng thời nhiều nước đến vậy. Vào những năm 1980, hơn 2 tỷ người đã sống dưới ách cai trị dã man tàn bạo, và cũng bất lực vì sự ngu xuẩn của nó.
    Dựa vào khát vọng tự do để ngự trị, đó là phương pháp Hồ Chí Minh, rất mực trung thành tuân theo phương pháp của nhân vật tồi tệ Lenin. Phương pháp này đã tàn phá những nơi khác : Cambốt (Cambodia), Êthiôpi (Ethiopia), Môzambich (Mozambique), Algiêri (Algeria), Cuba, Angôla (Angola). Đằng sau cuộc chiến tranh giải phóng, một cuộc chiến đấu giành quyền sống bình đẳng, trong đó các chiến sĩ thành thật hiến thân, luôn ẩn giấu âm mưu của những kẻ cầm đầu chống lại tự do và quyền con người.
    Hồ Chí Minh có thật lòng tin ở sự tốt đẹp trong tương lai của chủ nghĩa cộng sản ? Tôi nghi ngờ điều này, bởi vì ông ta đã thấy chế độ đó vận hành ra sao trong nhiều nước. Có lý tưởng và cực đoan, có thể ông ta không tự đặt ra câu hỏi ấy. Và cũng như tất cả các nhà lãnh đạo độc đoán, ông ta vẫn giữ vẻ lương tâm thanh thản, cả trong khi nêu lên những mặt tiêu cực của chế độ ông ta đã lựa chọn. Lịch sử là hệ quả không phải của những ý định con người mà là của hành động của họ. Mà những hệ quả thì sờ sờ ra đó, cảnh đọa đầy, máu chảy, chết chóc và nạn đói. Người ta không thể xin lỗi sau khi đã tước đoạt cuộc chiến đấu chống thực dân của quần chúng để dẫn đến cảnh tàn phá đến vậy. Trái lại, đó là một cuộc ăn cắp, một cuộc lừa đảo, với hoàn cảnh tăng thêm phần nghiêm trọng cho kẻ phạm tội.
    (*) Trích từ bài Ho Chi Minh, l’homme et son héritage, Jean–François Revel, đăng trên Vietnam Infos, số 36, ra ngày 15/05/2006.

    Bài viết này hình như trước kia đã được đăng ở đâu đó, nay Dân Luận cho đăng lại ở đây, chắc hẳn là muốn dùng nó để làm BIA cho mọi người ném đá và nhổ nước bọt chăng???? Tất cả những lập luận nhằm bênh vực và nêu "công trạng" cho Hồ chí minh trong bài này đã được rất nhiều độc giả, học giả, sử gia đánh cho tan nát với những bằng chứng dồi dào xác thực. Một thí dụ nhỏ về việc Hồ chí minh đưa "Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Versailles", đó cũng chỉ làm việc của một tên đưa thư, chứ bản thân Hồ chí minh, trình độ tiếng Việt đã rất dốt nát, tiếng Pháp thì chắc chắn không thể là tác giả của bản yêu sách đó được!!! Nữ văn sĩ Thụy Khuê đã có bài viết khảo cứu xuất sắc khi đưa vấn đề Hồ chí minh đã ĂN CẮP cái tên Nguyễn Ái Quốc như thế nào. Hồ chí minh cùng đồng đảng CSVN đã không chịu "ngửi phân của người Tầu" chỉ vì đó là Tàu....Tưởng, nhưng khi đống phân đó đổi thành phân của Tàu Mao, thì Hồ chí minh cùng đồng đảng của hắn đã xả thân ra để được ngụp lặn, hít thở, nhai nuốt nó vào không cần suy nghĩ để có thể lớn mạnh để có trận ĐBP và đánh Mỹ sau này, cũng là từ trong đống phân của Tàu Mao đó. Hay là Hồ chí minh, đồng đảng CSVN của hắn, và tác giả LKS cho là đống phân của Tàu Mao là ngon hơn, thơm hơn, và không thối như với phân của Tàu Tưởng??? Ngày nay, động cơ để dấy lên cuộc chiến tương tàn giữa Nam, Bắc để rồi đưa cả nước đến chỗ tan nát, chỗ nguy vong, do Hồ chí minh cùng đồng đảng CSVN chủ xướng cũng đã được phơi bày rõ ràng rồi. Ai là tay sai bán nước cho ngoại bang Tàu, ai là Ngụy, cũng đã được toàn dân VN hiểu rõ, những bài viết loại này cũng có thể được dùng để luyện óc phân tích cho học sinh VN khi tìm hiểu về lịch sử VN sau này, và cũng để cho chúng hiểu rằng thời còn CS ở VN, con người ta đã bị NGU hóa và mê muội đến mức nào!!!!

    Wiki viết:
    Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) là một nhà cách mạng, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20.
    .....
    Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó ông hoàn toàn tin tưởng[48] vào chủ nghĩa cộng sản.

    Viết rì thì viết nhá, dzưng trước khi viết thì tìm tài liệu dìa "bác" nhá. Đừng có phủ nhận "công lao" sáng lập đảng của " bác" nhá. Có hiểu chữ sáng lập đảng hông? Nà sáng kiến rùi lập ra (đảng) nhá, là đầu đảng (cướp) nhá.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh

    Đây nữa nhá: Lịch sử đảng Cộng sản VN nhá.

    wiki viết:
    Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc triệu tập các đại biểu cộng sản Việt Nam họp từ ngày 6 tháng 1 năm 1930 [7] đến ngày 8 tháng 2 năm 1930 tại Hương Cảng, trên cơ sở thống nhất ba tổ chức cộng sản tại Đông Dương (Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh

    Cứ trống đánh xuôi kèn thổi ngược nà thế lầu hử? biểu Wiki viết sai thì tâu lên TW đảng để bỏn ra lệnh cho tay sai sửa lại nhá. Nhớ, trước khi sửa lại thì đốt cho sạch miẹ tài liệu ở nước ngoài nhá, ở Trung cộng còn đầy ra nhá.

    cbn.

    Đúng là
    BÀI NÀY CÓ NHIỀU CHI TIẾT THIẾU CHÍNH XÃC VÀ MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH THIẾU KHÁCH QUAN, MỘT CHIỀU.
    Chẳng biết ông này có học ở Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc hay chỉ tham khảo một số tài liệu mà viết bài này có những chi tiết và nhận đình không đúng là điều dễ hiểu.
    Nên nhớ rằng Borodine là đặc phái viên của Liên xô bên cạnh Tưởng Giới Thạch chứ không phải là người bên cạnh Mao. Liên xô muốn xây dựng Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn theo hình mẫu Đảng CS Liên xô. Còn cố vấn cuả Mao thì lại là đại sứ của Mỹ ở Thụy Sĩ, sau này theo Mao lên tận Diên An.
    Đảng CS Trung quốc cũng thanh trừng nội bộ kinh khủng lắm, đổ máu nhiều , Đảng CS của Hồ Chí Minh cũng bị ảnh hưởng, chẳng kém. Chính ông Trần Phú đề nghị khai trừ Hồ ra khỏi Đảng.
    Còn Stalin thì tống Hồ đi tù ở Siberi. Trên đường đi thì chính ông Hoàng Văn Hoan đã cứu Hồ và đưa về Trung quốc. Bà vợ ông Lưu Thiếu Kỳ là Vương Quang Mỹ mua quần áo cho Hồ cải trang và cưu mang hồ một thời gian dài. Ông Hoàng Văn Hoan thời làm phó chủ tịch quốc hội đã phải sang Trung quốc lánh nạn vì tệ bè phái của CS.
    Lê Kỳ Sơn viết: "Vào thời điểm ấy, ông (Hồ) chưa có điều kiện nghiên cứu chủ nghĩa Mác một cách hệ thống, nên đã không được thừa nhận là một người cộng sản thuần thành, " không hiểu rõ chủ nghiã Mác thế nào mà rước nó về làm hại đất nước, xem những nước quanh ta, họ không theo CN Mác thì họ tiến như thế nào. Vậy mà ông Lê Kỳ Sơn còn đánh giá "Do những chuẩn mực đạo đức không sớm được thể chế hóa thành luật, nên bản thân tấm gương đạo đức của Cụ Hồ cao đẹp," Hãy xem cuộc đời tư của ông cụ cả vợ con và anh chị em trong gia đình thì như thế nào mà kết luận như vậy? Cụ có mấy vợ, mấy con, con sống con chết thế nào, ông Kỳ Sơn có biết hay cuộc đời cụ KỲ QUẶC QUÁ, KHÓ MÀ BIẾT HẾT SỰ THẬT?
    Ông Kỳ Sơn còn viết: "Công lao to lớn của Cụ Hồ đối với sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc là điều không ai có thể phủ nhận" thì không hiểu ông có mở mắt ra mà xem những di sản của cụ Hồ để lại cho dan tộc ta ngày nay hay không? Ông có thừa nhận là trong hai cuộc chiến tranh mà có vai trò của cụ Hồ cộng hai cuộc chiến tranh sau khi cụ Hồ đã chết làm ta hao người tốn của và tình hình nước ta tụt hậu rồi xã hội đầy rẫy tham nhũng mọi mặt đạo dức kỷ cương, pháp luật và các mặt xã hội khác đều đang xuống cấp nghiêm trọng hay không?
    Những thành quả ấy là do người ta học tập tấm gương đạo đức của cụ Hồ nhà ông đấy.
    Chẳng biết ông Kỳ Sơn viết cho người ta đọc thì ông có đọc những phản hồi người ta viết về ông không? Nếu có đọc thì lần sau rút kinh nghiệm, đừng viết hồ đồ như viết bài này nữa. Nếu ông tham khảo tình hình Trung quốc thì ông thấy có hiện tương rất hay mà ta có thể học tập rút kinh nghiệm:
    - Khi Trung quốc tôn Mao lên tận mây xanh, cho Mao đúng cả 10/10 thì tình hình Trung quốc bi đát, thiếu thốn nghèo khổ
    - Khi Trung quốc cho Mao có 7/10 công và 3/10 tội thì tình hình Trung quốc tiến lên một bước.
    - Khi cho Mao 7/10 tội và chỉ có 3/10 công thì Trung quốc lại tiến lên bước nữa.
    - Đến khi người ta thay ảnh Mao trên các bức tường quảng cáo bằng ảnh của các cô diva thiếu vải thì Trung quốc trở thành nền kinh tế thứ hai toàn cầu.
    May là Mao tỉnh ngộ không xây lăng để ẩn xác trong đó. Nếu Mao còn xác thì có lẽ người Trung quốc quảng xác Mao ra đường. Nay Trung quốccó còn ai bốc Mao như ta bốc ông Hồ lên đâu. Điều anỳ có nghiã bỏ tệ sùng bái cá nhân và mở rộng dân chủ thì nước ta sẽ tiến lên.
    Sùng bái cá nhân là chủ trương của Đảng CS vừa thể hiện thiếu dân chủ vừa là biện pháp ngu dân.
    Muốn khoa học nước nhà tiến lên thì yếu tố đàu tiên là phải coi nhà khoa học có vị trí hơn đảng viên, để họ phấn đấu cho kho học, hơn là phấn đấu vào Đảng.
    Điều này không thấy ông Lê kỳ Sơn nêu ra. Chẳng hiểu ông có đồng ý với tôi không?
    Nga, Tàu bảo "trí thức là cái cục cứt" Việt Nam đưa trí thức vào đầu bảng phải tiêu diệt (trí phú địa hào...) mà bảo phát triển khoa học thì chỉ có là những thằng điên.

    Một bài cóp nhặt, nhạt nhẽo với nội dung bồi bút kiếm tiền mua sôi sáng. Muốn viết cho tử tế hơn cần chịu khó học hõi thêm nhiều hoạ chăng sẽ được tô phở nóng

    Có mấy cụ cách mạng lão thang bảo rằng bài này nói lên nửa sự thật là nói dối, tác giả có cái nhìn hạn hẹp nên nhiều khi lý giải sai, tóm lại đây là loại bài viết công phu, dài dòng nhưng rẻ tiền, bênh vực một chiều, tưởng như thiên hạ dốt như hồi CCRĐ. Có thể tóm tắt là dân tộc ta khác các dân tộc cùng khu vực Đông Nam Á, là ta không làm chủ vận mệnh dân tộc ta mà toàn bị nước ngoài chi phối. Đảng CS đeó có sáng tạo gì mà ngu dốt nên toàn copy Nga và Tàu một cách máy móc.Cùng thời điểm sau thế chién II, nhiều dân tộc khác cũng giành được độc lập nhưng không tốn xương máu như ta. Hồ CHí Minh chuẩn bị đánh chiếm miền Nam ngay sau khi được chia miền Bắc năm 1954, gây ra cuộc huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt. Tại sao Hồ nghe lệnh Tàu tàn sát mấy chục vạn đồng bào mình trong CCRĐ? Tinh thần dân tộc để đâu? Giải phóng đồng bào để giết hại đồng bào mà là yêu nước à? Lời cụ Nguyễn Trãi "Việc nhân nghiã cốt ở yên dân" sao Hồ không học?
    Lại nói về Phap luật thì vừa CM tháng Tám xong là Hồ giải thể ngay trường luật. Ông Kỳ Sơn này có kiến thức lịch sử thật KỲ LẠ.
    Nếu có thời gian thì có thể trích dẫn từng câu, từng dòng của bài viết này mà hoạnh lại. Có thể nói những điều cụ Hồ thay đổi cách ứng xử lúc nhu lúc cương là do lúc yếu thì thế này, lúc khỏe thì thế khác, Hồ là con người thớ lợ, tráo trở, lật lọng, CS gọi là sách lược. Cụ Hồ đánh giặc, rồi đánh cả dân (cứ đánh giặc xong là đánh dân) và đánh cả những người cùng phe nhưng khác chính kiến. Các còm đã nêu dẫn chứng khá đầy đủ. Ông tác giả này đéo chiụ đọc nên nói liều và nói bừa. Hay là CS thuê ông viết bài này?
    Tác giả quên cụ Hồ là con người mác xít "Bàn đá chênh vênh dịch sử Đảng". Tác giả ca ngời Hồ nhưng lại trích dẫn lời TRẦN DÂN TIÊN. Tác giả có biết Trần Dân Tiên là ai không? Đó là ông Ké tên gốc là Nguyễn Sinh Côông quê ở làng Sen Nam Đàn Nghệ An đấy. Lấy tên Trần Dân Tiên là thể hiện động cơ hoạt động TIỀN TRÊN DÂN.
    XÁC ĐỊNH TÀU LÀ KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP MÀ SAU NÀY CÒN QUỴ LỤY MAO SẾNH SÁNG.
    Chúng tôi là những người đã từng một thời trực tiếp cầm súng chiến đấu dưới lá cờ của Đảng, thực hiện lý tưởng cao đẹp của Hồ Chủ tịch. Nhân ngày sinh lần thứ 125 của vị cha già dân tộc, chúng tôi chỉ biết thể hiện lòng tôn kính với người bằng cách mượn bàn phím kể vài dòng liên quan đến người (đéo phaỉ là con vật):
    Cuộc thi tìm diễn viên đóng vai Hồ chủ tịch
    Có rất nhiều giám khảo nổi tiếng nhưng tuổi đời còn trẻ, chưa hiều về con người thật của Hồ chủ tịch như thế nào, chỉ có một vị giám khảo cao niên, trước đã từng được tiếp xúc với bác nhiều lần vì đã trực tiếp quay phim bác.
    Nhiều thí sinh vào thi và thử vai. Nhiều giám khảo trẻ tuổi đều ưng và khen thí sinh giống Hồ Chủ tịch. Thế nhưng vị gám khảo già lắc đầu.
    Có một thí sinh vào thi, vị giám khảo này ngắm nghiá thí sinh này rất kỹ và cho thí sinh này trúng tuyền, được vinh dự đóng vai bác Hồ trong phim sắp ra.
    Các thí sinh trẻ ngạc nhiên hỏi vì sao vị giám khảo già lại chọn thí sinh này thì vị giám khảo già trả lời:
    - Nó có đôi mắt rất giống Hồ chủ tịch và đặc biết cái mồm cười thì giống Hồ chủ tịch như đúc.
    - Mắt và mồm giống như thế nào? - Các giám khảo trẻ cùng hỏi.
    - Đôi mắt thể hiện rất gian manh và tàn ác.
    - Thế còn cái mồm cười thì như thế nào?
    - Cười đểu đểu.

    Tên tác giả viết:
    Những người phê phán Hồ Chí Minh thường cho rằng mọi tai họa mà dân tộc và đất nước phải gánh chịu hơn nửa thế kỷ qua, phải được xét từ gốc, từ nhân tố khởi nguyên: ấy là do Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam! Sự thật là như thế nào rất cần được làm rõ.

    "Bi kịch" ?
    Đó là tội ác & tội phản quốc của Việt cộng Hồ chí Minh và bọn cộng sản VNDCH & bọn cộng sản Lao động Tàu đẻ & bọn trí thức lá mặt lá trái, aka trí thức cộng sản chân chính tim đỏ thẻ đỏ, trí thức kiki, trí thức đảng lãnh đạo, chứ "bi kịch" cái gì!

    Ở Pháp, ở Mỹ, ở nước Anh cũng có cộng sản. Nhập cảng & phổ biến chủ nghĩa cộng sản vào VN chưa phải là tội ác lớn lắm.

    Tội ác là Hồ chí Minh & bọn cộng sản Lao động tàu đẻ & trí thức cộng sản VNDCCH đã xử dùng bạo lực tàn ác, vô cùng tàn ác, khủng bố & cưỡng bức người dân VN vào dưới ách cai trị & chế độ cộng sản tội ác của chúng, xong chúng rêu rao "Nhân dân VN theo bác Hồ chí Minh đảng Lao động xây dụng chủ nghĩa xã hội"

    Tội ác, tội phản quốc là khi bạo lực tàn ác của bản thân chúng không đủ để khuất phục người VN, thì Hồ chí Minh & Võ Nguyên Giáp & Phạm văn Đồng & bọn cộng sản VNDCCH & trí thức cộng sản VNDCCH đã hồ hởi mở rộng biên giới Việt Hoa ruớc giặc tàu vào VN, dựa vào sự chống lưng đỡ đầu của giặc tàu, dựa vào súng đạn & bạo lực cộng sản của giặc tàu mà ăn cắp cuộc kháng chiến, mà xích hóa VN, mà đàn áp cưỡng bức người VN vào dưới ách cai trị cộng sản tội ác của chúng, từ đó dẫn VN vào sự nô thuộc giặc tàu.

    Đối với lịch sử VN, đối với tiền nhân VN, luôn luôn răn dạy & nghiêm cấm con cháu VN rước giặc tàu vào VN, luôn luôn răn dạy & nghiêm cấm con cháu VN dựa vào giặc Tàu mà tranh đoạt quyền lực nội bộ, luôn luôn lên án là phản quốc những hành động rước giặc tàu vào VN, dựa vào giặc tàu mà tranh đoạt quyền lực giữa nội bộ VN,

    thì hành động của Hồ chí Minh & Võ NGUyên Giáp & Phạm văn Đồng rứoc giặc tàu cộng sản Mao trạch Đông vào VN từ những năm 50, rõ ràng là tội phản quốc,

    *****

    Hồ chí Minh từng hô hoán "thà ăn cứt tây còn hơn hửi rắm Tàu & thà hửi rắm tây còn hơn ăn cứt tàu..." chứng tỏ Hồ chí Minh biết cái hại của giặc tàu đối với VN

    Nhưng tại sao trong khi cố gắng đẩy tàu Tưởng ra, Việt cộng Hồ chí Minh lại rước giặc tàu Mao trạch Đông vào VN?

    Vì giặc tàu Mao trạch Đông sẵn sàng chống lưng đỡ đầu cho Việt cộng Hồ chí Minh làm vua VN, cho Hồ chí Minh đuọc làm Lê cHiêu Thống đệ nhị,

    Hồ chí Minh đã chí tình phạm tội mãi quốc cầu vinh

    Chẳng có "bi kịch" quái gì ở đây cả