Truyện ngắn cuối tuần - Dạ Ngân - Khoang tàu chật quá

  • Bởi Biên tập viên
    09/05/2015
    0 phản hồi

    Truyện ngắn của Dạ Ngân

    Nhà văn Dạ Ngân, tên thật là Lê Hồng Nga, sinh năm 1952 tại Long Mỹ, Hậu Giang, Hội viên hội Nhà văn VN từ năm 1987, chị đã từng làm Trưởng Ban Văn xuôi, tuần báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam.

    Dạ Ngân đựợc nguời đọc hâm mộ bởi các tập truyện ngắn Tản mạn hồn quê ( 2007), Nước nguồi xuôi mãi( 2008), hoặc các tiểu thuyết: Ngày của một đời (1989), Mẹ Mèo - (tiểu thuyết cho thiếu nhi1992) v.v

    Dạ Ngân tâm sự: "Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là con đường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút. Dù vậy, vẫn hơn, vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình. Văn chương hoàn toàn xứng đáng được coi như đạo, vì sứ mệnh giải bày và cứu rỗi của nó. Tôi mộ Đốt (Dostoyewsky), đó là tác giả người ta có thể đọc ở mọi thời kỳ, mọi giai đoạn của cuộc đời. Có lẽ vì vậy mà tôi không dung hoà được với những gì nhè nhẹ, thoang thoáng, đèm đẹp. Tận cùng, đó là phương châm sống, phương châm viết của tôi và tôi không lùi bước khi phải trả giá. Nhưng tôi có sự ôn hoà của người miệt vườn và thích được ứng xử ôn hoà, để được yên tĩnh và thanh thản mà tận cùng với văn chương."

    Vì trung thành với sứ mệnh của mình, Dạ Ngân đã bị hội Nhà văn Việt Nam gạch tên khỏi danh sách hội viên.

    DL xin giới thiệu một truyện ngắn của chị.

    Lần nầy, cũng như mọi lần trước, tôi lại về Nam bằng tàu hoả, lại chọn khoang sáu giường không máy lạnh, lại nằm tầng giữa cho vừa túi tiền và cũng không bị những người đi cùng ngồi chiếm chỗ. Con gái tôi từ Cần Thơ gọi ra eo éo: “ Mẹ U năm mươi rồi, thong dong đi, tiết kiệm làm gì, Con gửi vé máy bay ra cho mẹ há?” Tôi nghiêm giọng: “Con thấy có việc gì nằm mà cũng ra tiền không? Mẹ lên tàu, nằm ngủ hai đêm, tiết kiệm ít nhứt cũng tám trăm ngàn so với đi máy bay, tiền đó tha hồ quà cáp cho mọi người, hiểu chưa?” Nó càu nhàu: “Thôi, cãi lý với mấy ông mấy bà nhà văn mệt lắm!”, nói xong cúp máy cái rụp. Quả, cái lý của bọn trẻ chúng nó nhiều sức thuyết phục hơn, cái lý tươi tắn, được việc mà lại phong lưu còn chúng tôi thì vẫn cái lý của kẻ chắt bóp quen đời. Chỉ có người điên mới mê máy bay, nếu có vé bao của con gái gửi ra thì vừa thong thả vừa ấm lòng nhưng lại thấy thương con, lẽ nào mẹ chưa già mà con đã phải lo gánh đỡ.

    Thủ tục đơn giản hành lý vừa phải, tâm trạng thư thái, tôi bước lên tàu với tư thế một người từng trải đường xá. Hoặc là anh vào ga sớm để không phải chứng kiến cảnh chen lấn di chứng từ hồi tản cư chạy loạn, hoặc là vào chậm hẳn khi mọi người cùng khoang đã yên vị hết rồi. Trong cẩm nang ba mươi sáu chước đi tàu của chồng tôi, chỉ còn hai chước trên là dùng được.

    Đầu hành trình bao giờ kính tàu cũng trong, sàn tàu cũng sạch sẽ và toa_lét cũng có mùi nước xã. Nhũng toa nằm không máy lạnh bao giờ cũng ở giữa tàu, đầu kia của dân nghèo ngồi ghế hạng bét và đầu này là của những toa bốn giường có nệm và có cả la_va_bô trong khoang. Khi tôi lách vào, cái khoang không giàu cũng không quá nghèo của tôi chỉ mới thấy có một đôi xăng_đan da đã cũ của một hành khách đàn ông trên tầng ba. Tôi lẹ làng đẩy hai túi xách của mình vào gầm giường tầng một để rút lên giường mình cho khỏi vướng những người sẽ vào sau. Nghe động, người đang nằm trên kia thò đầu nhìn xuống: một cái đầu hói trắng toát như đá và hai hó mắt âm u kỳ quặc. Thôi thì không ai chọn được quê hương thì cũng không ai chọn được hàng xóm và hành khách chung tàu.

    Một đám phụ nữ lách vào khoang, vừa ngồi ghé xuống hai giường tầng một đã mở vòi nói như ở chốn không người. Nghe qua đoán biết họ là một cô con gái, một cô con dâu và một cô cháu họ áp một ông cụ lần đầu tiên và một mình đi vào Sài Gòn. “Cụ nhá, tàu bây giờ cửa nẻo kín đáo không sợ gió máy, cũng không sợ cái bọn ném đá dọc đường”, “Cụ nhá, yên tâm, ngắm cảnh, ăn ngon, ngủ khoẻ, sang ngày kia mở mắt ra là đã thấy anh cả con ở ga Hoà Hưng rồi”, “Cụ mặc nguyên thế, vào tới Đà Nẵng mới ấm, lúc đó hẵng hay cụ nhá”. Ông cụ cỡ ngoài bảy mươi, có vẻ rù rờ hơn tuổi, không nói gì, chỉ ậm ừ cười cười cho yên. Người đàn ông tầng ba nãy giờ vẫn thò cổ nhìn chằm chằm xuống đám phụ nữ liên tục “cụ nhá” kia, cất giọng “ Này, chị áo trắng ngồi ngoài cùng ơi, nhờ chị đưa hộ tôi đôi xăng đan với”. Một lần nữa tôi phải tò mò ngước nhìn và không khỏi kêu thầm: Quái, sao trên đời lại có cái giọng nói rin rít nhoè nhẹo như một thứ nhựa nào đó và, khi nó đi cùng với bộ mặt chưa cắt nghĩa được thì muốn thông tin điều gì? Người phụ nữ áo trắng cúi xuống cầm lên đôi dép: “Gớm, cẩn thận thì không thừa nhưng hơi lộ liễu đấy ông anh ơi”. “V..â..n..g..”_ người ấy dài giọng, một kiểu tự vệ cũng rất ư là kỳ quặc.

    Còn lại ba giường chưa có người, như mọi khi, tôi lại thấy mong mong, tò mò. Dù gì họ, những hành khách chưa biết mặt mũi và giới tính ấy cũng sẽ hít thở một bầu không khí với mình suốt ba mươi chín giờ, sẽ cùng ăn với mình hai bữa chính và một bữa phụ, sẽ cùng chia sẻ với mình một phong cảnh đẹp _ nếu tương đồng _ và sẽ cùng chịu rủi ro nếu có. ở chiếc giường còn lại tầng trên, đối diện với gả cất dép ấy dứt khoát phải là một người không già, vì phải leo lên và nằm được trên đó là phải có sức khoẻ. Lâu nay khi cả hai vợ chồng cùng vào Nam, chúng tôi luôn chọn đôi giường trên đó để vừa tiết kiệm lại vừa gần quạt với gần đèn, nói theo phép thắng lợi tinh thần mà chúng tôi nguyện sẽ là đồ đệ trung thành, mãi mãi.

    Cửa khoang xuất hiện hai người, đúng hơn, người con trai thì vẹo vọ vào, phía sau cậu ta là một cô gái rất trẻ tay xách nách mang. Ba phụ nữ đi tiễn ông lão đứng dậy ồn ào cáo về để trả chỗ cho khách mới.Chàng trai quăng mình một cách khó nhọc xuống giường,một chân teo nhỏ lõng thõng và cái chân trụ cột còn lại cũng chẳng khoẻ mạnh gì. Cậu sôi nổi bày vẽ cho cô gái thu xếp đồ đạc, cái giọng Sài Gòn vang và hào sảng lạ lùng có lẽ vì nó đi cùng đôi chân ươn yếu trên cái cơ thể đang gây cho người khác cảm giác ái ngại. Cô gái vừa lăng xăng xếp đặt theo ý chàng trai vừa líu lo lại bằng giọng Hải Phòng rất trong và rất truyền cảm. Tôi ở Bắc chưa nhiều nhưng cũng đủ thâm niên để phân biệt đâu giọng Hà Tây, đâu giọng Thanh Hoá hay đâu là giọng Nghệ Tĩnh. Người Hải Phòng phóng khoáng, bộc trực nên giọng của họ, đàn ông cũng như đàn bà đều cởi mở, chan hoà. Khi cô gái trèo lên chỗ nằm đối diện với giường của tôi thì tôi nhận thấy cánh tay phải của cô ấy là tay cán giá, vì vậy mà chàng trai phải đứng lên đỡ giúp cô dù đôi chân của cậu ta không làm được điều mình muốn. Gã đàn ông hói trán trên cùng chép miệng: “Hai người mà có một rưỡi, hay nhỉ!” Ông cụ ngồi thu lu trên chỗ của mình không hiểu sao lại cười khì, cười cái câu của gã ở trên hay cười cái đôi “một rưỡi” ấy?

    Tàu rời ga. Cô bé ngồi lom khom trên giường háo hức như một cô nhỏ lần đầu tiên được đi xa: “Thế là khoang mình thừa một giường hở cô?” Một đôi môi xinh và một cung cách lễ phép đặc biệt. “Đi đường dài trống một giường thì dễ thở được một chút chớ sao cháu”_ tôi đáp. “Nhưng như thế thì tàu hoả cũng ế khách hở cô?” Tôi chặc lưỡi: “Máy bay còn ế, huống chi tàu hoả, cháu. Vé vẫn đắt so với túi tiền của dân mình!” “Cô người Sài gòn à cô?” “Không, cô người Cần Thơ bị trời đày làm dâu xứ lạnh”. Cô gái cười khanh khách rồi nhóng người nhìn xuống dưới cười tiếp: “Thế cháu theo anh ấy vào Nam thì cũng trời đày à cô?” Tôi cũng cười theo: “Không, chúng ta đang tự đày mình”.

    Chàng trai bên dưới vẫy vẫy ra hiệu cho cô gái trở xuống ngồi cùng, một lần nữa cánh tay cán giá lại phải làm khổ cô nàng khi phải leo trèo. Tôi ngồi dậy đỡ giúp: “Các cháu nhỏ gọn, sao không nằm cùng ở dưới đi cho tiện?” Chàng trai cười vang: “Nhà tàu có đòi giấy đăng ký kết hôn không mà cô xúi cháu?” Cô gái gần như chồm lên người anh thanh niên đấm yêu lia lịa. Tôi nhoẻn cười nằm xuống để nhấm nháp một cảm giác vui sướng lan truyền: sự không hoàn chỉnh của cơ thể họ đi với vẻ thanh xuân ríu rít của họ giống như tiếng suối giữa đồi trọc, sự có mặt nầy giống như một liều thuốc chắc để giúp ta chịu đựng hai đêm một ngày bên cái gã ôm dép kia. Tôi tiếp tục lắng nghe, họ cười, họ thủ thỉ, họ rúc rích khẽ khàng trong khi gã tầng trên thì cứ để đèn sáng trưng mà hút thuốc, thỉnh thoảng còn nhóng cổ xuống xem bên dưới diễn ra trò gì

    Sau thủ tục soát vé lần cuối và phát nước uống của nhà tàu, tiếng xình xịch đều đều bắt đầu ru tôi. Nằm mà cũng ra tiền, tôi mỉm cười tự thưởng thói AQ của mình. Đèn trên trần vẫn sáng choá, đôi trẻ bên dưới hình như đang ngồi thu vào nhau ở một góc giường, yên lặng. Ông cụ nông dân chung tầng với họ thỉnh thoảng ho mà không thấy khạc, chắc là không biết khạc vào đâu.

    *
    Khi tôi tỉnh giấc thì nhânviên nhà tàu đã mang bữa sáng tới. Sắp qua Đèo Ngang, rừng chồi và cây thổ cư của vùng bán sơn địa trong sớm thu đẹp hiu hắt. Một vùng nhiều văn nhân, một nữ thi sĩ khi qua còn ưu ái để lại một bài thơ bất hủ nữa. Đẹp thì nghèo, hay đẹp vì nghèo? Trong tâm trạng mỗi khắc đang mỗi được gần các con hơn một chút tôi cẩn thận trèo xuống. Đôi bồ câu có vấn đề về chân và cánh kia chắc đã dậy từ sớm, tươi tỉnh bên nhau như là họ có thể ngồi như vậy mà đi cùng trời cuối đất, “Cô ngủ tốt hở cô?”_cô gái mau mắn hỏi. Tôi cảm ơn và trả lời. Chàng trai ngập ngừng: “Sao cháu thấy cô quen quen?” Tôi thường bị hỏi như vậy, có lẽ người ta có nhìn thấy ảnh tôi trên báo, trên sách, hay thuần tuý vì tôi có vẻ giống một cô chị miệt vườn nào đó. “Thì cô cháu mình vừa quen nhau được mười hai tiếng rồi còn gì” _ tôi nói qua qua và không khỏi ngạc nhiên với những gì mình đang thấy: một cái đầu vững chãi, một mái tóc đen mướt dồi dào để chấm vai trông rất là nghệ sĩ, một gương mặt nâu nâu nhiều trán và cái nhân trung đặc biệt sâu trên đôi môi đầy đặn chắc chắn phải có đời sống tin thần hết sức lành mạnh và ấm áp. Ơi trời, tôi lại kêu thầm, tại sao trên đôi chân bại liệt kia lại có một cái đầu đẹp đẽ và sinh động dường ấy, hay đó là sư bù trừ muôn đời bí ẩn của tạo hoá, hay chỉ vì khi bị đánh gục chỗ nầy thì con người ta lại cố gắng mạnh mẽ lên ở chỗ khác? Chàng trai giống như một chiếc độc bình kỳ lạ mà cô gái là cái giá đỡ để cả hai bổ sung và tôn vinh nhau. Tôi nhìn họ ngưỡng mộ: “Các cháu đi trăng mật, đúng không?” Cô gái lại chúm chím: “Anh Bổn cháu có hiệu may ở Hà Nội. Anh ấy đưa cháu về ra mắt ba mẹ anh ở Sài Gòn”. Tôi tiếp tục ngạc nhiên: “Hai chân cháu yếu vậy, may máy sao được?” Chàng trai bình thản: “Cháu chuyên cắt cho thợ người ta may”. Cô gái nhí nhảnh tiếp: “Anh ấy cắt giỏi lắm, đẹp lắm cô ơi”. Tôi gật đầu nồng nhiệt: “Cô biết, cô biết!” Cô gái tròn mắt sung sướng: “Cô từng may đo ở cửa hiệu của anh ấy rồi, đúng không cô?” Tôi muốn ôm chầm lấy hai cô cậu nhưng chỉ nói: “Không, cô hay mặc đồ hàng thùng vừa rẻ vừa độc chiêu. Nhưng nhìn người thì cô biết”.

    Tôi ngồi sang giường của đôi trẻ để trả chỗ bên ông cụ cho gã tầng ba vừa đi vệ sinh vào. Chao ơi, khi ở tư thế ngồi, giữa ban ngày ban mặt, chỉ cách nhau chưa đầy một thước, trông gã càng ấn tượng hơn. Gã chừng năm mươi lăm tuổi, tầm thước, gồ ghề, gi-lê nhiều khoá khoác ngoài, cái nhom người nếu không đi với bộ mặt ấy thì chắc không có vấn đề gì cho người khác. Vậy thì gương mặt ấy làm sao? Xin thưa, mọi thứ ở nó cùng toát lên sự tăm tối, bỉ ổi, nhất là cái trán hói khi nhìn gần, nó như được dán bằng ni lông bóng và nó bó cứng trong đó sự độc địa như là bẩm sinh. Gã đi vệ sinh bằng đôi dép nhựa của ông cụ trong khi đôi dép da của gã đã được mang xuống và để không, chắc gã sợ nó bị ướt. Cuộn cái bàn chải trong khăn mặt, gã khuỳnh tay ngồi nhìn gằn gằn hết lượt đám người đi cùng. Tôi thấy cô gái Hải Phòng cũng đang nhìn lại gã, nín thở, cảnh giác và như thể đang phải tự vệ. ánh mắt gã dừng lại với cô gái: “Cháu dân Hải Phòng?” Cô gái mím miệng lắc đầu, không nói. “Trả lời thì chết à?” _ gã trách cứ, thô bạo. Chàng trai kéo người yêu dựa sát vào mình: “Cái ông nầy, làm quen kiểu gì vậy hả?” Cô gái vùng khỏi cánh tay cuả người thanh niên, khẽ chồm về phía gã ta dài môi tức giận: “Tôi không phải ở Hải Phòng nứa, được chưa?”

    Thật khác thường , thật kỳ quặc. Nó không giống một cuộc làm quen thông thường cho dù có một phía khiến người ta ác cảm và dè chừng. Từ đó gã lầm lì ngồi, lầm lì ăn hết cái bánh bao sáng và lại rút lên giường của mình. Sau đó tôi thấy cô gái rút cây viết và cuốn sổ tay trong túi của chàng trai viết viết cái gì đó rồi đưa cho người yêu đọc. Gập sổ lại, cả hai nói với nhau bằng mắt hồi lâu rồi im lặng, như vừa nãy trước mắt tôi họ đang bay lượn thì giờ đây họ đã rơi xuống và đang vỗ về vết đau của nhau. Ông cụ giường bên kêu với lên: “Này, ông gì đó ơi, quên dép đây này”. Ông nhìn tôi cười cười, đôi mắt hiền từ và ranh mãnh. Không nghe trên đó nhờ vả gì, cũng là sự im lặng chìm đắm và kỳ lạ.

    *
    Xế chiều, tàu ghé ga Diêu Trì. Cả khoang không ai xuống ga, trừ gã trên tầng ba, khi lên , gã cầm theo nửa con gà luộc, thứ gà chạy nổi tiếng của vùng nầy, tức là gà nuôi thả, chúng tự đào bới giun dế đá sỏi rồi lớn lên, thơm tho, chắc nịch. Gã chiếm lấy bàn ăn và một góc giường của ông cụ, mời chiếu lệ mọi người rồi nhẩn nha ăn, có cả rượu Tây đựng trong một cái chai dẹp mang theo. Nhìn gã ngồi khuỳnh khoàng đã thấy chướng mắt, ở đay còn xé, nhai và nốc nữa thì thật là tối tăm mặt mũi. Đôi trai gái ấy ngồi dồn vào nhau, chịu đựng bằng cách áp mặt vào cửa kính để ngắm cảnh, cũng là để khỏi để mắt đến gã kia. Một bên ăn và uống và rất nhiều tiếng động, một bên không thèm biết đến sự thô bỉ đó, khác nào giữa hai bên đã nổ ra một cuộc chiến không tuyên bố. Tôi bỏ ra ngoài và vớ được một cái ghế cóc nhựa, tôi thấy nhẹ nhàng hẳn bên hành lang, cạnh nhữnh cái bình bọt đá.

    Lát sau gã trán bó đi ra ngoài rửa ráy, khi về hắn hướng thẳng về phía tôi, không biết xoay ở đâu ra mà cũng một chiếc ghế nhựa màu đỏ. Tôi thật sự bối rối, bộ dạng nầy là gã sẽ đi đến chỗ tôi để cùng ngắm cảnh đây, đứng lên ngay thì quá lộ liễu còn ngồi lại với gã thì có khó chịu nào hơn. Gã đặt ghế, ngồi xuống, mà là quay mặt hẳn vào tôi, nói ngay: “Tôi biết chị, chị có tin là tôi biết chị không?” “Có thể” , tôi đáp lập lờ. Gã ngừng lại để dùng móng tay cạy ra một miếng thịt gà ở kẽ răng, búng nó xuống sàn tàu, tiếp: “Tôi biết chị vì tôi biết chồng chị, biết nhiều nữa là khác”. Tôi chột dạ: “Ông anh làm quen hay đang doạ tôi đó?” Gã cười, người hảo hán thì sẽ vỗ đùi và cười bật ra cười tràn, thân thiện, đằng nầy gã gầm mặt xuống rồi tiếng cười khục khục mới bật ra, trông thật khó coi: “ Tôi biết vì anh ấy là nhà văn từng sống ở Hải Phòng, từng đến Xí nghiệp chỗ tôi đi thực tế”. Thì ra vậy. Hắn bắt đầu kể về sở thích bơi lội của chồng tôi, về tài đi biển như là thuỷ thủ của anh và cả thói quen lên bữa ăn là hỏi có cà pháo không? Gã làm tôi thú vị bởi cái trí nhớ của gã. Đầu óc tôi bắt đầu sáng ra, ông chồng tôi thường kể có một tay cán bộ Xí nghiệp vận tải nào đó có bộ mặt “một lần nhìn cho mãi mãi” và anh đã dùng gã làm nguyên mẫu cho một truyện ngắn dù hai người chỉ quen sơ vì không bao giờ có nhu cầu muốn gặp lại. “Hình như hồi xưa anh là chánh hay phó văn phòng của một xí nghiệp vận tải, đúng không?” Gã có vẻ mừng vì hình như gã có được nhắc đến trong câu chuyện của vợ chồng tôi. “Anh ấy thường nhắc với chị thế à?” Thật bất hạnh cho một người khi anh ta tưởng mình đã gây được ấn tượng đẹp cho người khác, Tôi hỏi tránh đi: “Nghe nói sau này anh lên giám đốc?” Gã gật gù: “Phải, tôi lên giám đốc!” Tôi kêu thầm, trời ơi, đó là con đường tất yếu của các chánh phó văn phòng hoặc thư ký riêng, vì các vị cất nhắc họ hoặc không biết có cái môn gọi là nhân tướng học hoặc được nịnh mãi rồi thì cứ cũng thành bồ câu. “Giám đốc xí nghiệp sao giờ phải đi giường tầng ba với dân nghèo?” _ Tôi hỏi mỉa. Bây giờ gã mới cười lớn, ngửa cổ cười, thật sự cười, như mọi gã đàn ông bị thấu cáy: “Tôi... tôi ngã ngựa rồi. Thế nào mà anh nhà chả nghe nói, báo chí họ bôi đầy ra!” Những lời sau gã lại nói gằn và lại nhìn chòng chọc vào người đối diện như đang sẵn sàng chiến đấu với sự khinh rẻ chắc chắn là thường trực từ những người chung quanh.

    Tôi thấy đã đến lúc phải đứng lên. Tôi chịu đựng con người nầy như thế là đủ rồi.

    Bữa ăn chiều gã ngồi tại chỗ trên tầng ba chứ không xuống nữa. Cuối bữa, trong cái hộp nhựa gã nhờ tôi chuyển xuống chỉ thấy còn cơm và rau, gã thuộc loài ăn thịt không biết chán. Đêm đó, trước khi chợp mắt, tôi còn thấ cậu thợ may rất ư nghệ sĩ ấy xoa xoa vuốt vuốt mái cái tay cán giá của cô người yêu, không hiểu sao họ rất ít nằm, có lẽ họ sợ họ không kềm chế được khi nằm nên chỉ ngồi sát vào nhau thì thầm không dứt.

    Sáng hôm sau, tàu vào ga sớm hơn lịch trình năm phút để cánh nhà tàu được điểm thi đua. Mọi lần những người đồng hành tưởng đã thân nhau lắm lắm bỗng trở lại trạng thái xa lạđường ai nấy đi và chắc chắn là sẽ không bao giờ có dịp ngồi chung khoang tàu nữa. Thế nhưng lần nầy, giữa tôi và đôi bồ câu non tơ kia có sự bịn rịn thật lòng. Bằng cả hai tay, cậu thợ may đưa cho tôi một cái card thơm: “Cháu hy vọng sẽ được cô làm khách hàng. Giờ cô ráng ở lại để tiếp ông đây, mình đâu có hy vọng nhờ gì cái ông trên đó. Tụi cháu tự đỡ nhau được, cô đừng lo”. Quả nhiên tôi phải ép vào tránh đường cho cô cậu ấy lách ra và nghĩ nhất định mình sẽ nán lại để giữ ông cụ ngồi yên trong khoang cho đến khi người nhà của ông tìm thấy ông qua cửa sổ. Tôi thấy cô gái dần dừ, một đường mắt sắc lạnh quét lên tầng ba rồi cô dúi nhanh vào túi áo khoác của tôi mảnh giấy, dặn nhỏ: “Chừng ra khỏi ga, cô cố bắt kịp cái ông trên kia rồi đưa giúp cháu mẩu giấy nầy, cô nhá”. Tôi không nghi ngờ gì, tôi tin đó là một mẩu giấy quan trọng chứ không chỉ là những lời chỉ trích gã ta đã ôm dép lên giường hay đã ăn và nhai thịt gà như một con cáo. Ga Sài Gòn chộn rộn đám trẻ con đi hôi chai hôi lon lẫn với tiếng chèo kéo của cánh xe đẩy, tôi ấn sâu mảnh giấy vào túi để nhô đầu ra cửa sổ cùng với ông cụ tìm con trai ông.

    Khi ra tới gần cửa ga, tôi đảo mắt tìm, gã giám đốc ngã ngựa đã vượt lên trước tôi vì gã chỉ có một chiếc cặp xách nhẹ tênh. Không sao, gã vẫn ở trong tầm mắt tôi, ra ngoài kia tôi sẽ gọi giật lại để đưa cho gã mẩu giấy nầy. Bỗng dưng một toán công an ba người chực sẵn đâu đó bổ ra kéo gã sang bên và giữ lại. Tôi cũng bị một cô nhân viên nhà tàu chặn ngang: “Xin lỗi, mời chị đứng sang bên. Chị làm ơn cho xem chứng minh thư”. Một sự nhầm lẫn tai hại gì đây? Tôi nghe một cơn lạnh chạy dọc xương sống, một nỗi sợ chưa từng trải qua, việc nầy có liên quan gì đến mẩu giấy trong túi đây không? Lập tức tôi nhớ lại bộ phim Băng _ cốc Hô_ ten và chợt nghĩ, hay là trong túi xách của mình đã có ai đó gửi hê_rô_in vaò để nó lọt qua cửa và sau đó bọn chúng sẽ tìm cách giật lại? Tôi thì có liên quan gì đến cái gã có cái trán dán cao su đang bị công an điệu ra bằng cửa ngách của nhà ga? Cô nhân viên nhoẻn cười xin lỗi lần nữa, lần đầu xin lỗi vì nghĩ tôi là Việt kiều cần phải truy thu tiền vé cho khỏi thất thoát và lần nầy, lần nầy xin lỗi vì họ đóan lầm. Chắc chắn thứ quần áo hàng thùng độc chiêu của tôi đã khiến họ tưởng tôi là Việt kiều đi bằng vé cho dân nội quốc.

    Sau sự kiện hiểu lầm biến tôi từ một con mụ chuyên phép thắng lợi AQ lên hàng Việt kiều thì tôi vẫy ngay một chiếc taxi ra Xa cảng miền Tây. Nhưng tôi vẫn không khỏi bứt rứt: cái gã ngã ngựa ấy bị “mời” đi vì tội danh gì, một kẻ đang bị truy nã, hay một mắt xích của một đường dây đang bị phanh phui, hay thuần tuý vì trong chiếc cặp của gã có một hoặc nhiều bánh hê-rô_in? Tôi chưa từng thấy ai bị bắt ngay sát mũi mình, ấn tượng đó làm tôi bần thần mãi, giống như trong chiến tranh, cảm giác ác nghiệt sẽ rất khác khi có người bị thương hay bị chết ngay trước mắt mình

    Hồi lâu sau tôi mới sực nhớ đến mảnh giấy của cô gái có cánh tay bị cong vênh trong khoang tàu. Chữ viết vội, vẻn vẹn mấy dòng: “Này ông hói, ông không biết tôi là đứa nào nhưng tôi thì biết ông quá rõ. Tôi là con bé hàng xóm của nhà ông hồi xưa, con Cầm, ông nhớ ra chưa, cái con Cầm bị vợ ông gạt ra từ trên gác xuống hôm bà ấy bán vé cho người ta leo lên sân thượng nhà ông xem xác chết ấy, ông nhớ ra chưa? Đồng tiền nhà ông sạch và đẹp nhỉ? Chào ông”.

    Một lần nữa trí nhớ đã vỡ oà trong đầu tôi: Chồng tôi kể rằng ở Hải Phòng năm ấy, một vụ giết người xảy ra và người ta đã tìm thấy dưới cái giếng cạnbỏ không mấy cái xác bị lấp vôi. Trong lúc công an đào lên, dân chúng tò mò bu đen bu đỏ, có bà vợ của một ông cán bộ đã nghĩ ra kế bán vé cho người ta đứng trên sân thượng nhà bà để xem cho rõ. “Mụ ta bán vé, em biết không _ chông tôi hay trở đi trở lại câu chuyện bán vé trên bằng vẻ mặt khiến tôi luôn phải nhăn nhó theo _ sao chúng nó có thể nghĩ ra một cách kiếm tiền Tê_nác_đi_ê thế không biêt!”. Thật không sao lý giải nổi sự đê tiện của con người. Không ngờ trong đám trẻ con hồi đó có một cô bé đã bị gạt cho té, có lẽ vì cô nhỏ là hàng xóm, mà hàng xóm thì đâu thể thu tiền, chắc vậy.

    Thật là chật chội và nhiều xô đẩy, vần lắc cái cuộc đời ghê gớm nầy. Tôi mở mảnh giấy ra lần nữa, rồi lần nữa, không phải để thuộc lòng nội dung trong đó mà để ngắm nghía nét chữ của bàn tay thuộc về cánh tay đau khổ của cô gái. Sáng và đẹp và chắc chắn sẽ hanh thông, may mắn, đó là cảm giác còn lại trong tôi về một cô gái và một đôi trẻ đang tựa vào nhau đi, chân trời góc biển. Sự bù đắp của họ khiến ta có quyền tin rằng trời luôn có mặt và trời đã không bao giờ bỏ sót ai cả.

    Tam Đảo tháng 4/2004

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi