Triệu Bình Thanh - “Một chế độ mà sợ người dân hơn sợ giặc thì trước sau gì cũng bị diệt vong

  • Bởi Trà Mạn
    28/04/2015
    18 phản hồi

    Triệu Bình Thanh


    GS TSKH Vũ Minh Giang, Chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN, nguyên Phó Giám đốc ĐHQGHN, sinh năm 1951, giữ nhiều cương vị lãnh đạo, quản lý quan trọng trong ĐHQGHN.

    DL - “Một chế độ mà sợ người dân hơn sợ giặc thì trước sau gì cũng bị diệt vong. Đó là bài học chúng ta cần ghi nhớ.- GS TSKH Phạm Minh Giang, chuyên gia cao cấp, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo ĐHQGHN đã nói như vậy nhân dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    + Thưa ông, ngày 30/4 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước luôn là sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc ta. Cảm nhận của ông ngày 30/4 năm nay có gì khác so với thời điểm 30, 20 năm trước đây không?

    -Có thể nói ngày 30/4 là cái mốc cực kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Khi lần đầu tiên nghe tin giải phóng miền Nam- thống nhất đất nước tôi đã vô cùng xúc động, vui sướng và tự hào. Sau bao nhiêu năm chiến tranh thảm khốc, đất nước được giải phóng, giang sơn thu về một mối. Đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra sẽ được hàn gắn. Đất nước sẽ được xây dựng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, người dân sẽ hạnh phúc hơn.
    Tuy nhiên những năm tháng chiến tranh, ngày 30/4 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước không thể nào quên ấy càng lùi xâu vào quá khứ thì tôi càng cảm thấy có gì đó day dứt, có điều gì đó còn chưa trọng vẹn. Có thể là đất nước ta phát triển không được như mong đợi của mình 40 năm trước. Khối đại đoàn kết dân tộc- sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam đã được minh chứng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, sau 40 năm rồi vẫn chưa hoàn thiện. Tư tưởng thắng thua, thành phần, lý lịch, phân biệt đối xử giữa người Việt Nam với nhau trong và ngoài nước vẫn còn ăn sâu vào đầu óc một bộ phận không nhỏ người Việt Nam chúng ta. 4-5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một tài sản, nguồn lực, vật lực vô giá với đất nước. Nếu chúng la làm cho mọi người Việt Nam-con Lạc cháu Hồng đồng tâm, hợp lực để xây dựng đất nước thì đấy sẽ là động lực, sức mạnh to lớn để xóa nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước phát triển phồn vinh; bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
    Khi tôi sang giảng dạy ở Nhật. Nhiều giáo sư người Nhật đã nói với tôi rằng, các ông đang có một số lượng người làm ăn sinh sống ở nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ, Canada, Anh, Pháp… đáng mơ ước đối với nhiều nước. Lực lượng này sẽ đóng góp rất lớn cho đất nước các ông; các ông phải biết trân trọng và làm mọi cách thu hút tiềm năng chất xám cũng như tiền bạc của công động này để xây dựng đất nước.

    + Vai trò quan trọng của hòa giải, hòa hợp dân tộc không phải là những nhà lãnh đạo Việt Nam không chú trọng. Bằng chứng là ngay khi bước từ cầu thang máy bay xuống sân bay Tân Sơn Nhất sáng 1/5/1975 Tổng bí thư thời bấy giờ là ông Lê Duẩn đã nhấn mạnh trong bài phát biểu của mình vấn đề hòa giải dân tộc. Rồi sau này Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã không chỉ một lần nói về tầm quan trọng cuả vấn đề này. Tuy nhiên nói đã không đi đôi với làm….!

    -Hòa giải dân tộc là vấn đề nan giải, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Mấy chục năm chiến tranh đã để lại những di chứng hết sức nặng nề. Nó phân hóa người Việt Nam khá sâu sắc. Chiến tranh không đơn thuần chỉ là cuộc chiến của hàng triệu sĩ quan, binh lính của hai phía: Việt Nam DCCH và Chính quyền Sài Gòn, mà kéo theo đó là cả hai khối người: Bộ máy hành chính, công chức, viên chức của Chính phủ, những người dân ở ở miền Bắc; rồi người dân ở các vùng do Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, các vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát. Vì vậy để hóa giải rồi tiến tới hòa giải và hòa hợp là cả một quá trình lâu dài, phức tạp. Công việc đã khó như vậy lại cộng thêm với những điều kiện, hoàn cảnh và cả những sai lầm đáng tiếc đã làm cho tiến trình này diễn ra chậm hơn sự kỳ vọng của chúng ta.

    Thưa ông, ông có thể phân tích rõ thêm về nguyên nhân vì sao sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước lại có tới hàng triệu người Việt Nam di tản?

    -Nguyên nhân thì có nhiều, tôi chỉ xin đưa ra vài lý do, mà theo tôi, là nguyên nhân chính. Thứ nhất là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là thắng lợi lớn làm nhiều người choáng ngợp nghĩ rằng chúng ta đã thắng trong chiến tranh thì không việc gì chúng ta không làm được. Hai là, tư tư tưởng thắng thua (người thắng trận thì cao ngạo, người thua thì cay cú), địch ta, ý thức hệ được thể hiện quá rõ ràng. Thứ ba là những khó khăn và thiếu sót trong quản lý, điều hành nền kinh tế đã làm cho đời sống rất khó khăn. Nhiều người, chủ yếu là sĩ quan, binh lính và những người nằm trong bộ máy hành chính của chính quyền Sài Gòn đã ra đi để tìm cuộc sống với hy vọng tốt đẹp hơn.

    + Về hòa giải, hòa hợp dân tộc đã được nói rất nhiều. Tuy nhiên dưới cái nhìn của ông thì chúng ta cần hòa giải cái gì và ai hòa giải với ai?

    -Trước hết người Việt Nam chúng ta phải hóa giải cái đầu mình đã. Ở nước ta hiện nay còn có những người sợ nói về vấn đề hòa giải dân tộc. Họ nghĩ rằng nếu nói về vấn đề này sẽ làm giảm ý nghĩa của thắng lợi, đánh đồng ta với địch. Lại có người có tư tưởng là ta chỉ việc hòa giải với người Việt Nam ở nước ngoài. Một khi còn có tư tưởng hòa giải là “ban ơn” thì không thể có hòa giải, hòa hợp dân tộc. Muốn hòa giải để tiến tới hòa hợp dân tộc chúng ta phải hết sức chân thành, độ lượng, lấy đại nghĩa làm trọng, lợi ích dân tộc phải được đặt lên trên hết. Người Việt Nam với nhau không có thắng và thua.
    Trong lịch sử Việt Nam Trần Nhân Tông đã để lại bài học tuyệt vời về hoà hợp và hoà giải. Chiến thắng lừng lẫy giặc Nguyên Mông, Hoàng đế Trần Nhân Tông bước vào những ngày hòa bình thịnh trị bằng chính hòa giải và hòa hợp. Ngay khi từ phòng tuyến kháng chiến trở về Thăng Long, việc đầu tiên vị Hoàng đế chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc ấy bắt tay vào là đốt toàn bộ những sổ sách ghi chép bằng chứng của những người đã trót phản bội đầu hàng giặc. Sử gia Ngô Sĩ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” khi mô tả lại sự kiện này đã viết: “Trước kia, người Nguyên vào cướp, vương hầu, quan lại nhiều người đến doanh trại giặc xin hàng. Đến khi giặc thua bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc”.
    Rồi chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay sau cách mạng Tháng Tám, Người đã tập hợp được một Chính phủ với nhiều thành phần, giai tầng tham gia. Nhiều nhân sĩ, trí thức đã rời bỏ cuộc sống sung túc ở nước ngoài về tham gia khác chiến.

    + Vậy còn đối với người Việt Nam ở nước ngoài thì sao, chúng ta cần làm gì và chú trọng hòa giải như thế nào?

    -Như tôi đã nói ở trên, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận cực kỳ quan trọng của dân tộc Việt Nam. Không nên có khái niệm Việt kiều yêu nước. Đã là người Việt Nam thì ai cũng yêu nước cả. Có người còn lưu luyến với quá khứ, với chế độ mà mình đã từng phục vụ cũng là chuyện bình thường. Ta cần hiểu họ. Trong một chuyến đi Paris giảng bài, tôi ghé một quán ăn của một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Khi biết tôi từ miền Bắc qua, ông cứ khinh khỉnh. Một lần tôi bắt chuyện với ông: “Ông có biết vì sao tôi ngày nào cũng đến ăn ở quán này không?”. Ông ta hỏi: “Vì sao?”. Tôi bảo đây là quán nấu ăn rất ngon, hơn nữa có ông chủ là người Việt ngồi ngậm tẩu thuốc, người phục vụ là người châu Âu. Tôi thấy hay hay và tự hào về người Việt Nam. Thế là ông đổi thái độ, trò chuyện rất hồ hởi, và ông càng ngạc nhiên hơn khi biết tôi là giáo viên thỉnh giảng của Trường Đại học Pari 7. Ông hỏi rất nhiều chuyện về tình hình trong nước; quan tâm đến đời sống, văn hóa trong nước. Tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa là phải lấy đại cục làm trọng; đặt lợi ích dân tộc lên trên hết để ứng xử, để thu phục lòng người, để hóa giải những vướng mắc và đi đến hòa hợp dân tộc.
    Một điều mà tôi muốn nói tới nữa là chúng ta cần chú trọng hòa giải thế hệ thứ hai người Việt Nam ở nước ngoài. Vì đây là lực lượng trẻ, có trình độ chuyên môn, có trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, sẽ đóng góp được nhiều cho đất nước. Đối tượng cuối cùng cần hòa giải là… tất cả những đối tượng còn lại.

    +Thưa ông, còn người Việt Nam trong nước với nhau thì sao, có cần phải hòa giải không?

    -Tôi cho rằng trong một xã hội còn có những ý kiến khác nhau là chuyện bình thường. Chúng ta cần tôn trọng và sẵn sáng đối thoại để tìm ra tiếng nói chung trong việc xây dựng đất nước. Đó cũng chính là hòa giải. Cũng chính vì thế mà song song với việc phát triển kinh tế chúng ta đang cải cách thể chế, từng bước xây dựng một xã hội dân chủ, chú trọng phát triển hài hòa giữa cuộc sống vật chất và tinh thần.
    Lịch sử đã cho ta thấy những bài học giá trị. Chế độ nào chú trọng phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa, được người dân đồng lòng, yêu quý thì tồn tại khá dài. Ngược lại chế độ nào hà khắc, độc tài thì sớm bị diệt vong. Đời nhà Minh, đặc biệt là đời Đường ở Trung Quốc tồn tại khá lâu, hàng trăm năm. Vì thể chế này chú trọng tới phát triển văn hóa, được lòng dân. Còn Tần Thủy Hoàng, xây dựng nhiều đền đài thành quách, Vạn Lý trường thành, nhưng quản lý đất nước vô cùng hà khắc. Ai trái ý là cắt lưỡi bêu riếu giữa chợ. Nhưng rồi tồn tại cũng được có vài chục năm.
    Đọc hồi ký của nhà sử học Trần Huy Liệu (ông từng giữ nhiều vị trí lãnh đạo cấp cao như Bộ trưởng Bộ Thông tin Tuyên truyền trong chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) tôi rất thấm thía một ý ông nói là một chế độ mà sợ người dân hơn sợ giặc thì trước sau gì cũng bị diệt vong. Đó là những bài học chúng ta cần ghi nhớ.

    Xin cám ơn ông!

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    18 phản hồi

    Tên tác giả viết:
    Trần Bảo Ninh – Gửi bạn TPP ( khách viếng thăm )
    Con người mới sinh ra không ai biết đi , biết chạy ngay mà phải tập , có khi nhiều lần vấp ngã . Quá trình nhận thức sự thật cũng không kém khó khăn như vậy , nhất là khi sự thật lại bị che phủ bằng một mặt nạ nhân từ và những câu chuyện huyền thoại . Sống trong một môi trường xã hội có bộ máy tuyên truyền một chiều tinh khôn và một bộ máy đàn áp khổng lồ thì quá trình nhận thức sư thật càng khó khăn gấp bội . Hơn nữa phần đông các nhà khoa học kỹ thuật thường muốn yên thân để phát triển tư duy nghiên cứu khoa học , trừ khi tính mạng và sự nghiệp nghiên cứu khoa học của họ bị đe dọa . Vì thế , chỉ nên trách những ai cố tình bỏ qua sự thật , bao che và tiếp tay cho kẻ xấu . Vả lại nếu bạn đã từng thuộc về những người phê phán sai lầm của bên thắng cuộc đã bỏ cùng một giọ tất cả những ai đã cộng tác với chính quyền đối phương là ngụy , là xấu , là cần cải tạo thì chẳng lẽ đến nay bạn lặp lại sai lầm của họ ? . Nên tỉnh táo , tránh khắt khe , cố chấp để tránh vô tình đẩy những người tử tế nhập cuộc với kẻ xấu và tự cô lập mình. Đó cũng cũng là để tránh mắc lừa bọn DLV đấy , bạn ạ -

    Im lặng, nhắm mắt trước cái ác là đồng loã, là tiếp tay cho cái ác ngày càng sinh sôi nẩy nở.
    Hiện tại của xã hội Việt Nam không chỉ do đảng Cộng Sản gây ra mà còn là sự im lặng, nhắm mắt , làm ngơ, sợ hãi trước bạo quyền của tuyệt đại đa số dân Việt Nam, trong đó là những trí thức.
    Tui đã, sẽ tiếp tục làm y chang ý bạn viết: " Vì thế , chỉ nên trách những ai cố tình bỏ qua sự thật , bao che và tiếp tay cho kẻ xấu".
    Có rất nhiều người không hề nhìn nhận rằng, trong quá khứ họ đã tiếp tay cho cái ác và ngày hôm nay im lặng là vàng, mũ ni che tai, tệ hơn hết là tiếp tục tiếp tay, để cái ác tồn tại.
    Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại. Có bao nhiêu người thật tình hối hận vì đã làm ác, tiếp tay cho cái ác? Đã làm gì để chuộc lại sai lầm trước đó?
    Hay miệng thì "Nam Mô A Di Đà Phật" tay thì vung gươm cầm súng, tiếp tục nả đạn, tiếp tục chém giết người khác cả tinh thần lẫn vật chất như nhà nước Việt Nam Cộng Sản và bè lũ đang làm với nhân dân Việt Nam?

    Trần Bảo Ninh – Gửi bạn TPP ( khách viếng thăm )
    Con người mới sinh ra không ai biết đi , biết chạy ngay mà phải tập , có khi nhiều lần vấp ngã . Quá trình nhận thức sự thật cũng không kém khó khăn như vậy , nhất là khi sự thật lại bị che phủ bằng một mặt nạ nhân từ và những câu chuyện huyền thoại . Sống trong một môi trường xã hội có bộ máy tuyên truyền một chiều tinh khôn và một bộ máy đàn áp khổng lồ thì quá trình nhận thức sư thật càng khó khăn gấp bội .Hơn nữa phần đông các nhà khoa học kỹ thuật thường muốn yên thân để phát triển tư duy nghiên cứu khoa học , trừ khi tính mạng và sự nghiệp nghiên cứu khoa học của họ bị đe dọa . Vì thế , chỉ nên trách những ai cố tình bỏ qua sự thật , bao che và tiếp tay cho kẻ xấu . Vả lại nếu bạn đã từng thuộc về những người phê phán sai lầm của bên thắng cuộc đã bỏ cùng một giọ tất cả những ai đã cộng tác với chính quyền đối phương là ngụy , là xấu , là cần cải tạo thì chẳng lẽ đến nay bạn lặp lại sai lầm của họ ? . Nên tỉnh táo , tránh khắt khe , cố chấp để tránh vô tình đẩy những người tử tế nhập cuộc với kẻ xấu và tự cô lập mình . Đó cũng cũng là để tránh mắc lừa bọn DLV đấy , bạn ạ .

    PvH viết:
    Thế mới biết ngựời VN, nhất là người MN thủa xưa còn biết đâu là cái xấu đâu là cái tốt. Chỉ tiếc rằng, đáng lý ra thay đổi chính quyền thì họ lại dại dột nghe theo cs thay đổi chế độ.

    Bạn PVH, chỉ có một thiểu số người miền Nam dại dột nghe theo lời xúi dục của Việt Cộng thui bạn ạ. Số còn lại là bị áp đặt.
    Hiệp định hoà bình Paris 1973 chưa ráo mực, Việt Cộng đã ị lên hiệp định này, tiếp tục tấn công, xua quân tràn xuống miền Nam rồi cướp được chính quyền VNCH ở miền Nam, ngày 30 thăng tư 1975.

    @ bạn ma VNCH, những lời bạn viết ra, chưng minh bạn đã bị nhiễm nặng, để mở mang trí thức, tầm hiểu biết, đề nghị bạn tìm hiểu thêm về VNCH.

    chuckn viết:
    Có những cái phải người trong cuộc thì mới hiểu rõ. Ông nêu ví dụ bà Nguyễn Thị Năm thì tôi xin nêu một ví dụ khác ông Trịnh Văn Bô là một nhà tư bản lớn nhưng được trọng dụng, được tin tưởng làm nơi ở của Cụ Hồ khi Cụ mới từ núi rừng Việt Bắc về HN. Sau này ngôi nhà rất lớn trên phố Hoàng Diệu ngay cạnh ngôi nhà ĐT Võ Nguyên Giáp sau một thời gian CP mượn đã trả lại nguyên vẹn cho con trai của cụ Bô. Cả hai cụ ông và bà đều được ghi công. Ông nêu ví dụ Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và ông Trần Đức Thảo thì tôi nêu rất nhiều các nhà trí thức từ Pháp về trong đó có các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, BS Hồ Dắc Di, BS Tôn Thất Tùng, BS Phạm Ngọc Thạch, BS Đặng Văn Ngữ, các chí sĩ quan lại cũ như Phan Kế Toại, Huỳnh Thúc Kháng, , Đức Cha Lê Hữu Từ của giáo phận Bùi Chu, và ngay cả cựu hoàng Bảo Đại đều được Cụ Hồ trực tiếp trọng dụng

    Những người bạn nêu là những người "khôn ngoan" biết im lặng là vàng, như
    sau 75 đến bây chừ cũng có nhiều trí thức được nhà sản trọng dụng đó chớ, coi, những trí thức phản chiến, trí thức đối lập thời VNCH, nào là Nhuận, Mẫm, Nguyễn Đăng Hưng.... sau này là Ngô Bảo Châu, Nguyễn Thanh Sơn ....

    Tên tác giả viết:
    Mặc dù ông Hồ Chí Minh đã khóc lóc nhận sai lầm về CCRĐ

    Trời nước mắt cá sấu mà cũng tin sao?
    Tui đêk thấy giọt nước mắt nào trong tấm hình chụp "bác" khóc sau CCRĐ, chỉ thấy "bác" cầm cái khăn mù xoa trên tay thui.

    Hồng Hà – Hai nhà trí thức Nguyễn Mạnh Tường , Trần Đức Thảo phạm tội gì mà bị hành hạ đến khi gần chết ?
    Về Nguyễn Mạnh Tường ( 1909-1997 ) : Ông sinh ra tại làng Cổ Nhuế , huyện Từ Liêm , Hanoi . Năm 1927 ông sang Pháp học tại trường Đại học Montpellier , đậu cử nhân Văn năm 1929 , đậu cử nhân Luật năm 1930 . Tháng 5/1932 ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Luật . Một tháng sau , vào tháng 6/1932 ông lại bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Văn chương Pháp . Hiệu trưởng đại học Paris 7 nói về Nguyễn Mạnh Tường như sau :” Đã mấy chục năm qua , tại nước Pháp chưa có 1 sinh viên Pháp hay 1 sinh viên quốc tế nào lập được kỷ lục đạt 2 bằng tiến sĩ ở độ tuổi 23 như Nguyễn Mạnh Tường “.
    Ông về Việt Nam , tháng 4/1946 tham gia Đoàn Chính phủ VNDCCH dự hội nghị trù bị Đà Lạt ( trước khi họp hội nghị Fontainebleau ).Vào năm 1954 , ông tham gia đoàn tiếp quản Hanoi , được giữ chức giám đốc đại học Luật Hanoi kiêm phó giám đốc đại học sư phạm Hanoi và được phong Giáo sư .
    Ông đã phạm tội gì ?
    Ngày 30/10/1956 , với tư cách Luật sư , ông đã đọc 1 bài diễn văn tại MTTQ Hanoi , phân tích sai lầm của ĐLĐVN về chế độ pháp trị trong chiến dịch CCRĐ ở miền Bắc ( 1953-1956) . Trong diễn văn ( đăng tại www.talawas.org) ông nói :” Với tinh thần thận trọng của người trí thức , không bao giờ được quên trách nhiệm của mình trước những người vô tội đã chết oan . Họ chết không do bàn tay địch mà do chính bàn tay ta . Ta phải cương quyết rút ra bài học kinh nghiệm đau đớn này và sửa chữa sai lầm mà họ là nạn nhân . Sai lầm này là biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những sai lầm trong sự lãnh đạo của ĐLĐVN . Trong CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức , đưa ra khẩu hiệu “ thà chết oan 10 người còn hơn sót 1 địch “ thì không những đã quá tả một cách vô lý mà còn là phản lại cách mạng nữa . Đáng lẽ khẩu hiệu pháp lý phải là :” Thà sót 10 địch còn hơn để 1 người bị chết oan “. Mặc dù ông Hồ Chí Minh đã khóc lóc nhận sai lầm về CCRĐ và ông Trường Chinh bị thôi chức tổng bí thư nhưng sau bài diễn văn này , Nguyễn Mạnh Tường đã bị tước hết mọi chức vụ , bị cấm giảng dạy , bị cấm hành nghề Luật sư . Một khi bị cấm hành nghề thì không còn chế độ cung cấp tem phiếu thực phẩm . Ông bị dồn vào tình thế vô cùng khó khăn trong cuộc sống . Ông mất năm 1996 , sau khi sang Pháp và xuất bản cuốn hồi ký “ Người bị rút phép thông công “ ( L' excommunié).
    Về Trần Đức Thảo ( 1917-1993) : Ông sinh ra tại làng Song Tháp , thị xã Từ Sơn , tỉnh Bắc Ninh . Năm 1936 ông sang Pháp học trường Đại học sư phạm Paris . Năm 1942 ông tốt ngiệp thạc sĩ triết học hạng nhất , khi đó mới 26 tuổi . Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học tại Pháp , ông đã viết thư gửi về Tổ Quốc , bày tỏ tình yêu nước đối với đất nước vừa giành được độc lập tháng 8 năm 1945 . Bức thư này đã được in trên báo Cờ Giải phóng , cơ quan của Đảng cộng sản Đông Dương . Năm 1952 , ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp . Năm 1955 , ông trở thành giáo sư triết học và là Phó giám đốc đại học sư phạm Hanoi , Trưởng khoa Lịch sử của 2 trường đại học sư phạm và đại học tổng hợp Hanoi .
    Ông phạm tội gì ?
    Vào thời gian có phong trào dân chủ Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc , Trần Đức Thảo công bố 2 bài báo của ông bàn về tự do , dân chủ . Ông bị quy tội có dính líu đến phong trào này , bị tước chức Phó giám đốc đại học sư phạm Hanoi , chức Trưởng khoa Lịch sử , bị cấm giảng dạy . Ông phải dịch sách , dịch các giấy tờ lặt vặt để sống , bán dần các bộ từ điển quý mang từ Pháp về để có tiền sinh sống . Ông bị cắt đứt mọi liên hệ với bên ngoài , thật sự bị cô lập ngay giữa đồng bào của mình . Ông không bị tù , không bị hành hạ thể xác nhưng bị công an bao vây , cô lập , không cho ai được tiếp xúc . Có thời gian ông phải đi cải tạo lao động , chăn bò ở Ba Vì . Bề ngoài triết gia có vẻ có cuộc sống bình thường nhưng thực tế ông phải sống hoàn toàn cô đôc như ở hoang đảo . Với trí thức , đó mới thật là sự tra tấn tinh thần dã man hơn cả việc bị hành hạ thể xác . Năm 1991 , ông được sang Paris chữa bệnh và mất tại Paris . Tro hài cốt của ông phải để hơn một tháng dưới gầm cầu thang nhà tang lễ Phùng Hưng Hanoi rồi mới được đem chôn ở nghĩa trang Văn Điển.
    Nói về Trần Đức Thảo , giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng ở Việt Nam , bản thân ông và các đồng nghiệp chỉ là những người nghiên cứu và giảng dạy triết học , người duy nhất được coi là nhà triết học thì chỉ có Trần Đức Thảo .
    GS triết học Bùi Văn Nam Sơn nhận xét : Trần Đức Thảo là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học .
    Ngày 7/5/2012 , lớp hậu sinh của giáo sư Trần Đức Thảo tổ chức hội thảo quốc tế tại trường đại học sư phạm Hanoi về “ tư tưởng triết học và giáo dục của Trần Đức Thảo “ ( xem www.vietnamnet.vn/vn/giao-duc/120213/) . GS Nguyễn Đình Chú tham luận cho rằng Trần Đức Thảo là một con người đặc biệt , thuộc thế hệ vàng một đi không trở lại trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 20 , học hành bài bản ở nước ngoài và trở về tham gia cách mạng . GS Phạm Thành Hưng nói :” Trần Đức Thảo vừa là sản phẩm , vừa là nạn nhân của thời đại . Ông không thể thành thiên tài mà chỉ là một thần đồng triết học vì ông đã chấp nhận làm một trí thức hiến thân cho cách mạng “ . Số phận của Trần Đức Thảo nghiệt ngã chẳng ai bằng . Ông đã gặp bi kịch từ khi về nước , suốt cuộc đời làm triết học trong hoàn cảnh phi triết học . Trần Đức Thảo đã để lại một di sản khổng lồ gần 200 tác phẩm bằng tiếng Việt , tiếng Pháp và tiếng Đức . Các tác phẩm của ông đang được nghiên cứu nhiều ở nước . Vị giáo sư cao tuổi Nguyễn Đình Chú cho rằng một đất nước muốn trở nên hùng cường không thể không có triết học , tuy vậy nghiên cứu khám phá thấu đáo , toàn diện tư tưởng triết học Trần Đức Thảo là việc không dễ , vì đòi hỏi phải có trình độ tiếng Pháp , đặc biệt tiếng Đức phải thật giỏi và quan trọng nhất là phải có năng lực tư duy trìu tượng khoa học mà thế mạnh của người Việt lại là tư duy cụ thể . PGS Phạm Thành Hưng cho rằng di sản của triết gia Trần Đức Thảo còn là bài học về nhân cách của người trí thức và đó cũng là bài học làm người ./.

    chuckn (khách viếng thăm) viết:
    Có những cái phải người trong cuộc thì mới hiểu rõ. Ông nêu ví dụ bà Nguyễn Thị Năm thì tôi xin nêu một ví dụ khác ông Trịnh Văn Bô là một nhà tư bản lớn nhưng được trọng dụng, được tin tưởng làm nơi ở của Cụ Hồ khi Cụ mới từ núi rừng Việt Bắc về HN. Sau này ngôi nhà rất lớn trên phố Hoàng Diệu ngay cạnh ngôi nhà ĐT Võ Nguyên Giáp sau một thời gian CP mượn đã trả lại nguyên vẹn cho con trai của cụ Bô. Cả hai cụ ông và bà đều được ghi công.

    Sau khi “cách mạng” thành công, ông Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước thì bà Hoàng Thị Minh Hồ lại lâm vào cảnh … mất nhà. Đó là nửa phần sự thực còn lại của câu chuyện mà nhà báo Hoàng Thùyy đã không kể kết, hay nói một cách không mấy lịch sự là ông ấy “nhất định dấu biến đi cứ y như là mèo dấu cứt” vậy. Phần nửa sự thực này mới được công luận biết đến qua một tác phẩm mới (Bên Thắng Cuộc) của một nhà báo khác, Huy Đức:

    “Năm 1954 từ nơi tản cư trở về, gia đình ông Trịnh Văn Bô không còn một căn nhà nào để ở, cho dù trước đó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang và nhiều dinh thự khác như 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng Tiền… Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

    Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

    Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập(298).

    Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.

    Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”. Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS như Archimedes Patti và Allison Thomas. Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

    Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con. Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.

    Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

    Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều. Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.

    Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được.

    Sở dĩ tôi loay hoay gần tiếng đồng hồ để ráp hai bài báo (thượng dẫn) với nhau vì bên dưới bài của tác giả Hoàng Thùy có vị độc giả, quí danh là Lê Tùng, đã cảm khái ghi lại dòng chữ phản hồi như sau: “Đọc bài viết, tôi cảm phục gia đình bác quá. Đó là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ chúng cháu.”

    “Thế hệ trẻ chúng cháu” cần một tấm gương, chứ không phải là một mảnh gương đã bị đẽo gọt bởi những ông nhà báo bất lương, và bất trí – cỡ như ông Hoàng Thùy hoặc Ngọc Niên, thuộc Cơ Quan Trung Ương Hội Nhà Báo Việt Nam (*). Mồm miệng họ thì lúc nào cũng xoen xoét nói đến “sự thực” và “lương tâm chức nghiệp” mà suốt đời cầm bút luôn chỉ viết phân nửa sự thực thôi.

    T.N.T

    (Trích "Sổ tay thuờng dân" Tưởng Năng Tiến
    https://tuongnangtien.wordpress.com/2013/07/04/mot-tam-guong-sang-cho-the-he-sau/)

    Ngô Xuân Hòa – Các nhà khoa học nên suy nghĩ kỹ nếu có ý định về VN .
    Ông Giang là người có tấm lòng tốt với tổ quốc nên có ý khuyên các nhà khoa học Việt kiều về nước góp phần xây dựng nước nhà . Tuy nhiên , nếu các bạn đã nhiều năm “ tạm đầy đủ “ về kinh tế ở nước ngoài thì hãy cân nhắc cụ thể về quyền lợi kinh tế , mức lương bạn sẽ được hưởng ,để có sự chuẩn bị trước cả tinh thần và vật chất , khỏi hoang mang bất ngờ .
    Hiện nay thang bảng lương 2015 đã được chính phủ CHXHCNVN công bố và đang áp dụng như sau :
    Tất cả các công chức viên chức được xếp ngạch CC-VC loại A1 ( gồm : Chuyên viên , Kế toán viên , Nghiên cứu viên , Kỹ sư , Giảng viên , Giảng viên trung học , Thư viện viên , Huấn luyện viên . Lưu ý rằng : dù bạn là cử nhân , thạc sĩ , tiến sĩ , được đào tạo trong nước hay từ nước ngoài cũng không phân biệt mà được gộp chung vào ngạch chuyên viên )
    Trong thời gian thử việc , nếu bạn làm việc ở Hanoi , TPHCM thì mức lương bạn được hưởng bằng 85% mức lương tối thiể , tức là 0,85 x 3, 100 triệu VND = 2,64 triệu VND/ tháng , tương đương 124 USD/tháng hoặc 4,8 USD/ngày .
    Nếu thử việc thành công , trong 3 năm đầu , hệ số lương của bạn so với mức tối thiểu là 2,34 . Khi đó mức lương của bạn sẽ là 3,100 triệu x 2,34 = 7,254 triệu VND/ tháng , tương đương 340 USD/tháng hoặc 13,00 USD/ ngày .
    Nếu bạn được đề bạt là trưởng phòng một công ty nào đó thì bạn được cộng thêm vào lương hệ số phụ cấp trách nhiệm từ 0,3 đến 0,7 tùy theo quy mô của công ty . Tuy nhiên các cấp trưởng chỉ dành cho ai đã là đảng viên cộng sản .
    Đã có nhiều thạc sĩ , tiến sĩ khoa học công nghệ du học tự túc , tốt nghiệp từ Pháp , Đức về nước cũng chỉ được hưởng mức lương chuyên viên loại A1 như nói trên . Do đó bạn nên cân nhắc thật kỹ lưỡng trước khi quyết định một việc lớn như thế này . Bạn có thể tìm thang bảng lương này trên trang mạng của Bộ Lao động CHXHCNVN rất dễ dàng .

    Nguyễn Hai – Có nên đem đola về đầu tư làm ăn ở VN không ?
    Thưa ông Giang . Người Nhật nói đúng . Bọn Việt kiều yêu nước có nhiều đôla và chất xám .Chúng tôi muốn đem đô la về nước đầu tư làm ăn , góp phần phát triển kinh tế quốc nội . Nhưng chính sách của nhà nước VN sáng nắng chiều mưa chẳng biết đâu mà lường trước . ĐCS vẫn còn đó . TBT NPT nói vẫn kiên định với CN Mác Lê , với CNCS ( CNXH là gì nếu không phải giai đoạn đầu của CNCS ?).
    Liệu ông có dám bảo đảm cho chúng tôi sẽ không mất vốn đola bằng chính sách trưng thu cộng sản như hồi đánh tư sản miền nam sau 30/4/1975 không ?

    KIÊN – HN : Trao đổi ý kiến với ông CHUCKC ( khách viếng thăm )
    Chào ông CHUCKC . Ông có phải người trong cuộc không nhỉ ? Hồi ông Bô cho CP mượn nhà ông mấy tuổi ? Tôi hỏi vậy vì không thấy ông cho biết ông Bô đã cho CP mượn bao nhiêu nhà ( nhiều đấy ) mà sau nhiều năm đòi ông ấy chỉ đòi được 1 nhà thôi . Ông còn quên 1 người khác có tình tiết tương tự ông Bô , đã cho CP mượn nhiều nhà ở HN mà chật vật lắm cũng chỉ đòi được 1 nhà tôi . Đấy là ông Đỗ Đình Thiện . Cụ Huỳnh chỉ làm việc cho cụ Hồ ít lâu rồi từ quan về quê không thấy ông nói . Các ông Huyên , Nghĩa , Di , Tùng , Thạch , Ngữ sở dĩ không bị hành hạ như ông Thảo , ông Tường vì các ông ấy đâu có dám công khai phê bình ĐLĐVN về sai lầm CCRĐ và trấn áp phong trào dân chủ Nhân Văn Giai Phẩm như 2 ông Thảo và Tường . Còn ông Tạ Quang Bửu . Chắc chắn ông không biết rằng ông Bửu đã mất chức Bộ trưởng Bộ Đại học VNDCCH vì ông Bửu thẳng thắn phản đối cả ông Ba Duẩn về chính sách ưu tiên con ông cháu cha , dốt không đạt điểm thi tuyển vẫn được vào đại học . Ông nêu tên nên tôi phải trao đổi ý kiến cụ thể .Tôi không có ý chê các ông Huyên , Nghĩa , Di , Tùng … nhưng đó là sự thật mà sự thật thường làm nhiều người không vừa lòng . Mong ông thông cảm .

    Trích dẫn:
    Bài này của ông Giang nghe được đấy nhưng còn vài chỗ chưa thành thật : -Ông nêu gương chính sách đoàn kết của Cụ Hồ sau ngày CM tháng 8 . Nhưng ông giải thích thế nào về trường hợp ông Trần Đức Thảo , ông Nguyễn Mạnh Tường , bà Nguyễn Thị Năm …?

    Có những cái phải người trong cuộc thì mới hiểu rõ. Ông nêu ví dụ bà Nguyễn Thị Năm thì tôi xin nêu một ví dụ khác ông Trịnh Văn Bô là một nhà tư bản lớn nhưng được trọng dụng, được tin tưởng làm nơi ở của Cụ Hồ khi Cụ mới từ núi rừng Việt Bắc về HN. Sau này ngôi nhà rất lớn trên phố Hoàng Diệu ngay cạnh ngôi nhà ĐT Võ Nguyên Giáp sau một thời gian CP mượn đã trả lại nguyên vẹn cho con trai của cụ Bô. Cả hai cụ ông và bà đều được ghi công. Ông nêu ví dụ Luật sư Nguyễn Mạnh Tường và ông Trần Đức Thảo thì tôi nêu rất nhiều các nhà trí thức từ Pháp về trong đó có các ông Nguyễn Văn Huyên, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, BS Hồ Dắc Di, BS Tôn Thất Tùng, BS Phạm Ngọc Thạch, BS Đặng Văn Ngữ, các chí sĩ quan lại cũ như Phan Kế Toại, Huỳnh Thúc Kháng, , Đức Cha Lê Hữu Từ của giáo phận Bùi Chu, và ngay cả cựu hoàng Bảo Đại đều được Cụ Hồ trực tiếp trọng dụng.

    Xuất phát từ vô minh
    Bị lòng tham che phủ
    Đảng cộng sản Việt Nam
    Giữ độc quyền cai trị
    Không chia sẽ quyền lực
    Xã hội không dân chủ
    Bốn mươi năm giải phóng
    Thể hiện quyền lợi nhóm
    Ngày một càng rõ ràng
    Cán bộ là đảng viên
    Có chức quyền rất giàu
    Gọi là tư sản đỏ
    Người nhân dân lao động
    Càng ngày càng nghèo khó
    Đến một lúc nào đó
    Tức nước sẽ bỡ bờ
    Và bây giờ Chính quyền
    Đang thực sự sợ dân
    Đảng đang lo củng cố
    Quân đội và công an
    Phải bảo vệ Đảng trước
    Vận mệnh của đất nước
    Bốn mươi năm thống nhất
    Ngoại bang đang nhòm ngó
    Là Trung Quốc Cộng sản
    Nội sâm đang phá hoại
    Là đảng viên tham nhũng
    Là một người công dân
    Ai cũng đang lo ngại
    Cho tương lai Việt Nam

    THAM THỦNG THÚNG THUYỀN
    Phóng trụ hựu trú lọng tham nhũng tái thảm nhung
    Lê Chiêu Thống cõng Phành mang Thung
    Lợn lòi Túng Dẫn đường cùng
    Ích Tắc Trần phùng duyên nợ bọ hung
    Bom Vươn đạn viết cái đùng
    Sông Đáy Kỳ Cùng một dạ Tất Trung
    Cha con tình nghĩa lạnh lùng
    Trống đánh thì thùng thuyền thúng ra khơi
    Táng sân Trương quỷ lên đời thành sự do trời nhân họa tả tơi
    Mâm xôi cỗ thịt được mời
    Sổ hưu lấy lời ổ bánh mỳ lơi
    Cau trầu vôi vẫn còn vơi gặm nhấm tơi bời nước bọt chằng rơi
    Dân oan khúc lắm người ơi nhập gia tùy tục quan xơi hết rồi
    Tuyên cha tổng bí hết hơi
    Lâu la cơm hớt di dời cây xanh
    Chặt nhanh chém gọn lá cành canh ram cám lợn tẩu nhanh qua Tầu
    TÂM THANH

    Dù nói lung tung nhiều”vấn đề” , ông Giang , một đảng viên cao cấp của Việt cộng , vẫn “đau lòng” vì không thấy HHHG diễn đúng kịch bản , ông than thở “….4-5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là một tài sản, nguồn lực, vật lực vô giá …(đảng ta thèm quá mà chỉ vì …lý lịch nên mất, thật uổng !- EFG dịch giùm ) – Ông cũng nói bóng gió, tỏ ra có nỗi đau vì thấy sự nguy hại tột cùng của quan niệm “Địch-Ta”, bản lĩnh gác cửa của Việt cộng …Do đó, bài này cũng nên đọc sơ sơ …khỏi ngáp !

    Về chuyện “ Sợ” ( là ông Giang vay mượn từ câu của người khác, do ông cũng đang rất sợ ) thì thiển nghĩ- Chế độ Việt Cộng là …Sợ đủ mọi thứ, giặc cũng sợ, dân cũng sợ, đến bong bóng bay, áo dài …vv, cũng sợ ! Mà họ sợ nhất là “kẻ đồng chí” của họ ! Việt cộng thật ra, luôn sống trong sợ hãi vì không một ai có thể tin một ai ! Khi sợ quá nhiều thứ và quá …sợ, bọn lưu manh côn đồ thường không biết làm sao hơn là làm…liều, làm ác ! Việt cộng từng chứng minh điều ấy !
    Một chính quyền tốt và đủ giỏi sẽ Biết khi nào cần “ Hèn với dân”, Biết khi nào cần “Ác với giặc” ! Còn Việt cộng, mọi lúc mọi nơi “ Hèn với giặc, Ác với dân “ ! Tất cả chỉ vì…Sợ ! Việt cộng ngày nay á ? Đó là bọn người sợ ngay cả cái bóng của mình ! He he

    Ma VNCH (khách viếng thăm) viết:
    “Một chế độ mà sợ người dân hơn sợ giặc thì trước sau gì cũng bị diệt vong", Rất đúng! Ví dụ cụ thể để chứng minh luận điểm đó rất đúng: Đó là chế độ VNCH. Dưới chế độ VNCH ai cũng bị nghi ngờ là VC, có dính líu đến VC hoặc thân VC là đều bị bát bớ, giam cẩm, tra tấn, thậm chí thủ tiêu, giết chết, ngay cả các quan chức cao cấp, tướng lĩnh, sỹ quan quân đội, cảnh sát của chế độ VNCH cũng bị nghi ngờ... Kết quả là VNCH bị diệt vong trưa 30/4/1975.
    Tôi bổ sung thêm: Một chế độ mà từ tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, tổng trưởng, quan chức cao cấp, quan chức đứng đầu tỉnh, thậm chí thời gian đầu khi chế độ mới ra đời là quan chức đứng đầu huyện, đầu xã, tướng lĩnh, sỹ quan... đều xuất thân từ việc đi lính cho giặc ngoại bang (giặc Pháp). Đó là những kẻ bán nước, vong bản, phản quốc, phi dân tộc, phản dân tộc thì trước sau gì cũng bị nhân dân tiêu diệt. Ví dụ cụ thể để chứng minh điều rất đúng: Đó là VNCH.
    Còn chế độ VNCS hiện tại thì nó chưa chết, nên chưa thể là ví dụ cụ thể để chứng minh luận điểm trên.

    Thế mới biết ngựời VN, nhất là người MN thủa xưa còn biết đâu là cái xấu đâu là cái tốt. Chỉ tiếc rằng, đáng lý ra thay đổi chính quyền thì họ lại dại dột nghe theo cs thay đổi chế độ.
    Ngày nay sau mấy chục năm hưởng thụ sự giáo dục và tuyên truyền của cs người dân chẳng còn biết thế nào là xấu, thế nào là đúng là sai. Đám quan lại cs so với đám quan chức hủ lậu của VNCH thì chúng vượt qua tất cả mọi mặt từ sự bỉ ổi, tham lam, độc ác, dốt nát đến trộm cắp lưu manh, phản dân phản quốc... nhưng dân chúng vẫn không tức giận mà lắm kẻ còn thấy đáng yêu nữa, như MA VNCH nói trên đây là một ví dụ, do đó sự diệt vong không chỉ sẽ đến đối với chế độ mà có thể với cả dân tộc nữa.

    Ma VNCH: "Còn chế độ VNCS hiện tại thì nó chưa chết, nên chưa thể là ví dụ cụ thể để chứng minh luận điểm trên."
    ---------------------
    Từ ngày có cntb chưa có một quốc gia tư bản nào tự diệt vong nhưng những nhà nước độc tài, cộng sản thì có quá đủ ví dụ để chứng minh. Cái nhà nước csvn hiện nay do vậy chắc chắn không ngoại lệ cho dù đồng chí cố tình không thừa nhận những cái thối tha của nó. Rất có thể vì đồng chí hoặc cha anh đồng chí chính là những kẻ hiện nay đang nằm trong guồng máy đục khoét quốc gia, trong băng đảng trộm cắp của dân. Thật nực cười cho cái gọi là yêu nước, vì dân tộc kiểu cs.

    “Một chế độ mà sợ người dân hơn sợ giặc thì trước sau gì cũng bị diệt vong", Rất đúng! Ví dụ cụ thể để chứng minh luận điểm đó rất đúng: Đó là chế độ VNCH. Dưới chế độ VNCH ai cũng bị nghi ngờ là VC, có dính líu đến VC hoặc thân VC là đều bị bát bớ, giam cẩm, tra tấn, thậm chí thủ tiêu, giết chết, ngay cả các quan chức cao cấp, tướng lĩnh, sỹ quan quân đội, cảnh sát của chế độ VNCH cũng bị nghi ngờ... Kết quả là VNCH bị diệt vong trưa 30/4/1975.
    Tôi bổ sung thêm: Một chế độ mà từ tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng, tổng trưởng, quan chức cao cấp, quan chức đứng đầu tỉnh, thậm chí thời gian đầu khi chế độ mới ra đời là quan chức đứng đầu huyện, đầu xã, tướng lĩnh, sỹ quan... đều xuất thân từ việc đi lính cho giặc ngoại bang (giặc Pháp). Đó là những kẻ bán nước, vong bản, phản quốc, phi dân tộc, phản dân tộc thì trước sau gì cũng bị nhân dân tiêu diệt. Ví dụ cụ thể để chứng minh điều rất đúng: Đó là VNCH.
    Còn chế độ VNCS hiện tại thì nó chưa chết, nên chưa thể là ví dụ cụ thể để chứng minh luận điểm trên.

    Bài này của ông Giang nghe được đấy nhưng còn vài chỗ chưa thành thật :
    -Ông nêu gương chính sách đoàn kết của Cụ Hồ sau ngày CM tháng 8 . Nhưng ông giải thích thế nào về trường hợp ông Trần Đức Thảo , ông Nguyễn Mạnh Tường , bà Nguyễn Thị Năm …?
    - Ông nói muốn hòa giải hoà hợp dân tộc thì bên thắng cuộc không nên tỏ thái độ ban ơn với bên thua cuộc . Rất đúng . Nhưng ông lại tỏ thái độ rất lợi dụng . Đây này : ông viết đối tượng chủ yếu cần hòa giải hòa hợp là thế hệ Việt kiều thứ hai vì trong họ mang nhiều CHẤT XÁM mà trong nước không có . Thái độ này không khác lắm với một số người trước đây đã viết cần hòa giải với Việt kiều vì trong họ có nhiều ĐÔ-LA , hàng năm kiều hối gửi về biết bao nhiêu đấy thôi .Thái độ lợi dụng sẽ tạo ra chính sách lợi dụng thì sao hòa giải thành công . Cái cốt tử là có hòa giải hòa hợp dân tộc được thì mới an dân , xã hội mới phát triển thì ông lại không nói đến một lời nào . Đáng tiếc , đáng tiếc lắm thay.
    Ngô Phù Sa