Linh Hoang Vu - Đo lường nghèo ở Việt Nam như thế nào?

  • Bởi Trà Mạn
    17/04/2015
    2 phản hồi

    Linh Hoang Vu

    Thế nào là nghèo ở Việt Nam? Khi tôi lớn lên ở Hà Nội trong những năm cuối thập kỷ 1980, có thể thấy cái nghèo ở khắp mọi nơi. Hầu hết người dân Việt Nam khi đó hẳn là sống ở mức dưới chuẩn nghèo quốc tế (1,25 đô-la một ngày). Bởi lẽ vào thời gian đó chưa có các cuộc khảo sát mức sống để đo lường nghèo nên cũng không có một cách thức rõ ràng để xác định như thế nào là nghèo. Người giàu thời đó là người nào trong nhà có xe máy hay TV, còn người nghèo là những người ăn xin ngoài đường hay người nào không có đủ gạo để ăn. Trong cuộc khảo sát sớm nhất được thực hiện vào năm 1992 và 1993, có khoảng 64% dân số được coi là nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế. Sau hai thập kỷ thì chỉ có khoảng dưới 3% dân số là nghèo theo chuẩn nghèo này trong khi tình trạng đói ăn đã được xóa bỏ.

    Đo lường nghèo ở Việt Nam có sự phức tạp do có nhiều phương pháp khác nhau khiến cho ngay cả các chuyên gia cũng thấy bối rối. Trong một báo cáo mới xuất bản gần đây có tên “Demystifying poverty measurement in Vietnam” [Giải thích về đo lường nghèo ở Việt Nam], chúng tôi điểm lại các vấn đề liên quan tới đo lường nghèo ở Việt Nam cho độc giả phổ thông, những người không phải chuyên gia trong lĩnh vực này, cũng có thể hiểu được. Báo cáo này là một phần trong chuỗi báo cáo Nghiên cứu Thảo luận Phát triển Việt Nam sẽ được xuất bản thường kỳ nhằm chia sẻ kết quả các các nghiên cứu đang được tiến hành và trao đổi ý tưởng về các vấn đề phát triển.

    Ở Việt Nam hiện nay, có hai phương pháp chủ yếu để đo lường nghèo. Phương pháp thứ nhất do Bộ Lao động, Thương binh và Các Vấn đề Xã hội (gọi tắt là phương pháp MOLISA) áp dụng nhằm đưa ra cách phân loại để xác định những đối tượng được thụ hưởng trong các chương trình giảm nghèo của cả nước cũng như để theo dõi tình trạng nghèo trong ngắn hạn. Một phương pháp riêng biệt khác được Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới (gọi tắt là phương pháp GSO-WB) áp dụng chủ yếu để tìm hiểu về những thay đổi tình trạng nghèo trong dài hạn. việc áp dụng các phương pháp khác nhau để theo dõi thay đổi tình trạng nghèo và để định hướng các chương trình của chính phủ cũng là hình thức phổ biến trên thế giới.


    Hai phương pháp này khác nhau ở một số khía canh. Thứ nhất, phương pháp MOLISA sử dụng thu nhập như là chỉ tiêu phúc lợi trong khi phương pháp GSO-WB sử dụng tiêu dùng. Trong bước thứ hai, cả hai phương pháp đều sử dụng “chi phí cho các nhu cầu cơ bản” để xác định chuẩn nghèo. Việc này được bắt đầu bằng cách áp dụng một mức tiêu dùng calorie tối thiểu để đẩm bảo cho sức khỏe. Trong bước thứ ba, trong khi các thước đo nghèo dùng phương pháp của GSO-WB được xác định trên cơ sở dữ liệu từ khảo sát hộ gia đình thì các thước đo nghèo của MOLISA căn cứ vào Tổng Điều tra Nghèo Toàn Quốc được thực hiện 5 năm mỗi lần. Trong những năm không có Tổng điều tra, MOLISA sẽ thực hiện cập nhất danh sách nghèo trên cơ sở tham vấn ở các thôn bản, tức là trong các cuộc họp thôn/bản tại đó người dân sẽ bình bầu hộ nào nghèo và hộ nào không.

    Hình dưới đây chỉ ra xu hướng thay đổi theo thời gian của các phương pháp đo lường nghèo thường hay được sử dụng. Dễ thấy là dù áp dụng phương pháp nào, chúng ta đều thấy được tiến trình giảm nghèo nhanh chóng ở Việt Nam.


    Hướng đến tương lai

    Đo lường nghèo ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải một thách thức được tạo ra từ thành công của quá trình giảm nghèo nhanh trong hai mươi năm qua. Do tỷ lệ nghèo giảm liên tục theo thời gian nên cần có sự điều chỉnh việc chọn lựa các thước đo phù hợp. Nhìn về tương lai, bằng một số phương pháp dự báo đơn giản, chúng tôi ước lượng là tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc tế 1,25 đô-la một ngày, hiện nay đã ở mức rất thấp ở Việt Nam, sẽ giảm xuống gần bằng 0 vào năm 2020. Tương tự, chuẩn nghèo 2 đô-la một ngày cũng sẽ nhanh chóng trở thành không phù hợp với Việt Nam trong tương lai gần. Cùng kịch bản dự báo nói trên, tỷ lệ nghèo chung sử dụng chuẩn nghèo của GSO-WB sẽ giảm xuống còn 8% vào năm 2020.
    Với mục đích đo lường nghèo, chuẩn nghèo GSO-WB sẽ còn tiếp tục được sử dụng trong nhiều năm tới. Tuy nhiên, tới một lúc nào đó, rất có thể là tỷ lệ nghèo đo lường theo phương pháp này sẽ giảm tới mức thấp quá khiến cho một lần nữa, sẽ cần cập nhật phương pháp để phản ánh sự thịnh vượng đi lên của đất nước và những khát vọng lớn hơn của người dân Việt Nam.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Có đôi khi, không thể đồng ý hoàn toàn với Goethe, vì trong vài trường hợp, lý thuyết thật “xanh tươi” mà “cây đời” thì sao cứ…”xám xịt” ? He he.
    Tác giả bài chủ dẫn ra và so sánh nhiều khái niệm “Nghèo”, và vài “cách Tính Nghèo”…vv. Còm sĩ tui, tất nhiên chẳng phải chuyên gia hay nhà chiến lược, tuy vậy có vài yếu tố thực tế ,thiển nghĩ, quý vị “lý thuyết gia” thế này chớ có bỏ qua khi làm phép “Toán Nghèo” ở VN XHCN. Tạm tóm tắt , có 03 điểm lưu ý :

    1/ Mức khả tín từ các số liệu thống kê thu thập được ?
    Nhất là những “số liệu” đã được “xào nấu, tính toán kỹ lưỡng “ và được “công bố” bởi …một Chính phủ Độc tài Toàn trị và Nói láo không hề ngừng nghỉ suốt 85 năm! He he ! Các số liệu mà Việt cộng công bố, chính là nơi các” lý thuyết gia vứt tế” thường bị dập mũi như đụng vào tường gạch ! Ví dụ gần nhất : Con số GDP làm té ngữa mọi loại “lý thuyết gia” vừa qua …cùng với câu la làng của chính những “chuyên gia” trong chăn :“ .. không hiểu căn cứ vào đâu …mà nói thế !”-Nghe đâu còn số ấy cũng gây vài cơn bão nguyền rủa trên các trang mạng XHDS VN. Hoặc, câu “Nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn… “ Hu Hu…

    2/ Suy luận qua bản chất thực của một “nền Kinh tế” ?
    Xét đến phần chìm của tản băng “thành tựu Kinh…thế” rực rỡ , dùng logic mà diễn giải, luận đoán Ví dụ như… “định hướng XHCN” tức là là cách phát biểu “huyền bí” về các quyết định tập trung mọi nguồn lực kinh tế để “hướng”đến các ưu đãi to lớn, mạnh mẽ và vĩnh viễn đối với các con cưng DNNN của băng đảng. Tức “cướp tất, cướp sạch” qua các loại chủ trương đường lối Kách mệnh.

    3/Quan sát cái “thực trạng” dễ thấy nhất , biểu hiện rõ nhất của một “nền Kinh tế” ?
    Nguồn thu chi chủ yếu từ đâu ? Tôi có biết một ông cụ, ghét lý thuyết Kinh thế phức tạp, chỉ thích “quy đổi” mọi thứ “phát triển và thành tựu” thành ra …"kí lô gạo" ! Ông thích nhẩm , thời cụ Diệm, lương thợ bèo nhất là bao nhiêu kí lô gạo/ tháng…vào năm nọ kia…là bao nhiêu ?, còn nay là bao nhiêu …vv. Tui thấy vị “ lý thuyết gia “ ấy của tui thật vô cùng dễ hiểu và luôn chính xác !. Sự trược giá của đồng tiền , do không biết làm ăn hay bế tắt, gian lận tham nhũng ...khi quy ra kg gạo thì rất chi đáng …buồn . Nhất là ngày nay, nghe nói một cuốn sổ tiết kiệm, sau 20 năm “quy ra” được một ổ bánh mì, một cuốc xe ôm ( là không có tiền thối lại, chưa có tiền pourboire đấy nhé ?! Còn nếu , dân đói đi vay tiền Việt cộng thì khác một chút , vay một ngàn sau 15 năm thì "trả lãi" 47,88 triệu... http://vietnamnet.vn/vn/kinh-t... Ha ha !) …Rồi chuyện ( ăn cắp) quỹ Bảo hiểm , quỹ Hưu trí….Hoặc nếu quan sát ngành nghề kiếm sống phổ biến của người trong độ tuổi làm việc có hiệu suất cao nhất….thì, ở VN XHCN, ta sẽ thấy thất nghiệp ,thiếu thốn, và tha phương cầu thực tỉ lệ rất đông đảo, rất phổ biến…Khi người công nhân phải nhịn không dám mua cả quả trứng gà , chén cơm chan nước mắt, Lể -Têt phải tha phương, không đủ tiền về quê…đó gọi là “ngưỡng nghèo” hay là gì ?…
    Không phải nghèo nữa….mà phải thẳng thắng gọi đó là Đói ?!

    Sau hai thập kỷ thì chỉ có khoảng dưới 3% dân số là nghèo theo chuẩn nghèo này trong khi tình trạng đói ăn đã được xóa bỏ.
    ---------------------------------------------
    Chỉ cần áp dụng CNTB mới có 20 năm mà đã vậy. Thế mới thấy tiếc cho cái khoảng thời gian chổng mông xây dựng xhcn. Biết bao con người, biết bao cuộc đời đã phải sống trong cảnh đói đến chết vào giai đoạn đó. Nếu áp dụng cả chính trị tư bản thỉ không những no cơm ấm áo mà còn có cả tự do nữa. Cộng sản ngu lâu là như vậy.