Trương Minh Nhật - "Lợi ích" - "Chi phí" trong lý thuyết Lựa chọn công

  • Bởi Admin
    16/04/2015
    0 phản hồi

    Trương Minh Nhật

    Với một người lãnh đạo tập thể hoặc nhóm lãnh đạo quốc gia, người ta thường hay đánh giá ở hai mặt là tài và đức. Trong đó cái đức quan trọng nhất là họ có ra các quyết định phục vụ lợi ích của số đông chịu ảnh hưởng của những quyết định đó hay không. Có một lý thuyết rất thú vị chỉ ra động cơ của chính trị gia, từ đó mà cảnh giác trước mấy lời 'do dân, vì dân'. Phải luôn giám sát họ, nếu được thì kiểm soát luôn càng tốt :-).

    Lựa chọn công (LCC) là một lý thuyết kinh tế nhưng nó không đi giải thích hành vi của các chủ thể kinh tế mà là các chủ thể ra các quyết định công như lãnh đạo, chính trị gia, các đảng phái chính trị; không phải giải thích hoạt động của thị trường mà là nhà nước, bộ máy hành chính, cơ chế bầu cử, hành vi của cử tri. Vì vẫn là một lý thuyết kinh tế cho nên nó vẫn đặt trên các tiên đề của kinh tế học về hành vi con người như tính duy lý và sự tư lợi. Nếu mỗi cá nhân luôn cố gắng tối đa hóa lợi ích của mình khi tham gia hoạt động kinh tế, họ sẽ làm những việc mà lợi ích lớn hơn chi phí. Tương tự như vậy, mỗi chính trị gia đều tối đa hóa quyền lực, làm sao lên vị trí cao hơn, làm sao tại nhiệm được lâu hơn.

    Với việc xem hoạt động chính trị như một hoạt động kinh tế, LCC đưa ra lập luận mạnh mẽ để giải thích động cơ của các chính trị gia khi đưa ra các quyết định tập thể hay các chính sách công. Đó là mô hình lợi ích tập trung - chi phí phân tán, các quyết định có lợi ích được tập trung cho một nhóm nhỏ người trong khi chi phí được dàn trải cho một số lượng lớn người thì có động cơ thúc đẩy hơn.

    Ví dụ như trường hợp lấp sông Đồng Nai, giả sử việc lấp sông đem lại lợi ích trực tiếp rất lớn cho nhà đầu tư và tạo ra một tác động tiêu cực cũng lớn tương xứng cho người dân. Nhưng khi được khi thiệt hại được chia cho quá nhiều người dân thì động lực để một người dân đứng lên phản đối quyết định đó là rất ít nếu họ phải bỏ ra một chi phí quá lớn cho việc điều tra, đánh giá mức độ thiệt hại, theo đuổi quá trình pháp lý để kiện hay ngăn chặn thực thi quyết định. Do đó, nhà đầu tư có động lực mạnh mẽ để vận động đưa ra quyết định, còn người dân thì có một động lực quá yếu để phản đối quyết định (chi phí> thiệt hại). Hay như việc vì sao chính phủ luôn có xu hướng mở rộng, sao việc cắt giảm ngân sách lại khó khăn,các công trình như tượng đài 400 tỷ lại được thực hiện, … vì lợi ích luôn tập trung và trực tiếp cho một số người, còn chi phí lại phân tán và gián tiếp đối với nhiều người nên sẽ gặp ít phản đối.

    Nó còn giải thích rất tốt cho các chính sách mang tính mị dân, để lấy được phiếu bầu của một nhóm cử tri như trợ giá cho nông dân bằng ngân sách, nâng mức thuế đánh vào các sản phẩm nhập khẩu với hiệu ứng tiêu cực là số đông sẽ mua hàng hóa với giá cao hơn, tiền thuế của mình được sử dụng cho mục cá nhân của chính trị gia. Việc đặt gánh nặng nợ công lên thế hệ tương lai để chi trả cho các chính sách ngắn hạn cũng là một kiểu như thế, nhưng ở đây còn tệ hơn vì thế hệ tương lai còn không thể có tiếng nói vì chưa kịp ra đời !

    Còn trong những nhà nước không theo mô hình dân chủ, sẽ có một lớp công dân có quyền lực nhiều hơn các lớp công dân khác, thì các quyết định tập thể được ra đời để phục vụ lợi ích cho nhóm công dân đó, có thể gọi đó là nhóm đặc quyền - đặc lợi. Rõ ràng khi nhóm đặc quyền - đặc lợi càng nhỏ thì lợi ích bị chia ra ít hơn, do đó động cơ thu hẹp và bảo vệ, không chia sẻ quyền lợi của nhóm đặc quyền - đặc lợi này càng lớn mạnh. Còn thiệt hại càng chia cho càng nhiều người (số đông) thì động cơ để họ chống lại nhóm này càng yếu.

    Từ đó thì suy ra các yếu tố để số đông chống lại các nhóm đặc quyền:

    - Lợi ích đem lại cho nhóm lợi ích không đủ lớn

    - Thiệt hại đem lại cho mỗi cá nhân (sau khi chia) ra đủ lớn

    - Chi phí để một hoặc một nhóm nhỏ cá nhân bỏ ra để họ chống lại nhóm độc quyền đủ nhỏ.

    Chỉ xét tới yếu tố cuối cùng thì mình muốn nhấn mạnh vai trò của công nghệ trong việc tìm kiếm, đưa thông tin và nối kết mọi người. Ngoài ra là việc tự do thảo luận, tự do hội họp, lập hội. Khi các quyền tự do đó được bảo đảm, ví dụ tự do ngôn luận sẽ giúp chi phí thông tin giảm xuống, một nhà nghiên cứu về môi trường được nói một cách tự do thì người dân ở những vùng bị thiệt hại sẽ có thêm thông tin với chi phí rẻ hơn là họ phải đi điều tra để bảo vệ môi trường, hay số người tham gia nhóm chống lại số đông tăng lên, nghĩa là chi phí bị giảm xuống, điều đó giúp cho động lực chống lại nhóm lợi ích mạnh mẽ lên.

    Hay như việc thu nhỏ mô hình, quyết định của một ông tổ trưởng nếu đem lại lợi ích cá nhân mà gây thiệt hại chung để bị phản đối hơn với vô số quyết định ảnh hưởng tới 90tr dân của một thủ tướng. Người dân Hà Nội phản ứng với việc chặt hay (thay thế?) cây xanh vừa rồi trong khi người dân Việt Nam tặc lưỡi trước nạn phá rừng cũng là vì vậy. Nó dễ thấy, không tốn chi phí để lên rừng khảo sát, chịu thiệt hại ngay lập tức chứ không phải đợi tới vài năm nữa để thấy rõ vai trò của rừng đầu nguồn.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi