Có hay không sự biến tưởng của tiền công trả cho người lao động?

  • Bởi Khách
    16/04/2015
    0 phản hồi

    Độc giả Dân Luận

    Một nhà nước hay một thể chế bất kỳ đều phải quan tâm đến an sinh của xã hội và mong muốn đảm bảo sự an sinh cho xã hội đó mới có thể ổn định và phát triển xã hội mà mình quản lý.

    Trong bài viết này tôi chưa bàn đến vấn đề an sinh xã hội mà tôi muốn nói tới sự mẫu thuẫn bất công trong luật pháp của Việt Nam. Trong khi nhà nước luôn tuyên truyền và ghi vào các bộ luật: đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội luôn luôn bảo vệ quyền lợi cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhưng trên những bộ luật và các văn bản pháp luật có đúng không? Chưa nói khi thực hiện các cơ quan quản lý có thực hiện đúng quy định pháp luật hay còn gây cản trở hoặc có dấu hiệu tham nhũng để quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bị “bóc lột”.

    Theo luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ban hành ngày 20/11/2014 có hiệu lực ngày 01/01/2016.

    Điều 85. Mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc:

    1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật này, hàng tháng đóng bằng 8% mức tiền lương tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất. Người lao động quy định điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật này, hàng tháng đóng bằng 8% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất.

    2. Người lao động quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật này, mức đóng và phương thức đóng được quy định như sau: a) Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối với người lao động đã có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần; b) Phương thức đóng được thực hiện 3 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Người lao động đóng trực tiếp cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài hoặc đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trường hợp đóng qua doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp thu, nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động và đăng ký phương thức đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Trường hợp người lao động được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động mới ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng bảo hiểm xã hội theo phương thức quy định tại Điều này hoặc truy nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội sau khi về nước.

    3. Người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng bảo hiểm xã hội tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

    4. Người lao động quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật này mà giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động thì chỉ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này đối với hợp đồng lao động giao kết đầu tiên.

    5. Người lao động hưởng tiền lương theo sản phẩm, theo khoán tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức đóng bảo hiểm xã hội hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.

    6. Việc xác định thời gian đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng lương hưu và trợ cấp tuất hằng tháng thì một năm phải tính đủ 12 tháng; trường hợp người lao động đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu tối đa 06 tháng thì người lao động được đóng tiếp một lần cho số tháng còn thiếu với mức đóng hằng tháng bằng tổng mức đóng của người lao động và người sử dụng lao động theo mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ việc vào quỹ hưu trí và tử tuất.

    7. Việc tính hưởng chế độ hưu trí và tử tuất trong trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội có tháng lẻ được tính như sau:
    a) Từ 01 tháng đến 06 tháng được tính là nửa năm;
    b) Từ 07 tháng đến 11 tháng được tính là một năm.

    Điều 86. Mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động

    1. Người sử dụng lao động hàng tháng đóng trên quỹ tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và h khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
    a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản;
    b) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    c) 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất.

    2. Người sử dụng lao động hàng tháng đóng trên mức lương cơ sở đối với mỗi người lao động quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
    a) 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
    b) 22% vào quỹ hưu trí và tử tuất.

    3. Người sử dụng lao động hàng tháng đóng 14% mức lương cơ sở vào quỹ hưu trí và tử tuất cho người lao động quy định tại điểm i khoản 1 Điều 2 của Luật này.

    4. Người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 85 của Luật này.

    5. Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp trả lương theo sản phẩm, theo khoán thì mức đóng hằng tháng theo quy định tại khoản 1 Điều này; phương thức đóng được thực hiện hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần.

    6. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết khoản 5 Điều 85 và khoản 5 Điều 86 của Luật này.

    Như vậy tiền công người lao động có đúng chỉ phải bỏ ra để đóng quỹ bảo hiểm xã hội là 8% mức lương tháng còn người sử dụng lao động phải đóng là 18% mức lương tháng của người lao động không?

    Theo luật kế toán, chuẩn mực kết toán thì người lao động phải trừ các quỹ: 8% BHXH + 1,5% BHYT + 1% BHTN + 1% LPCĐ và chi phí lao động trực tiếp, cùng chi phí chung (LĐ gián tiếp) được tính vào giá thành sản phẩm bao gồm tiền công trong tháng + 24% gồm 18% BHXH + 3% BHYT + 2% LPCĐ + 1% BHTN. Chứng tỏ 24% này không phải là lợi nhuận mà nó thuộc tiền công của người lao động được tính vào giá thành. Nhưng tại sao khi sang luật BHXH nó lại biến thành tiền của người sử dụng lao động phải đóng vào quỹ BHXH cho người lao động.

    Sự biến tướng này đã gây thiệt hại cho người lao động ở ngay phương thức chọn hình bảo hiểm an sinh cho mình vì theo quan điểm của tôi sẽ có nhiều hình thức an sinh: gửi tiết kiệm tại ngân hàng, mua các sản phẩm của các công ty bảo hiểm hoặc đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội v.v….

    Sự biến tướng này gây sự quan liêu thiếu trách nhiệm ở tổ chức BHXHVN không tạo ra những sản phẩm bảo hiểm như các công ty bảo hiểm khác để người lao động lựa chọn. Làm thất thoát 35,5% tiền công của người lao động khi doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động không đóng các quỹ cho người lao động.
    Sự biến tướng này tạo kẽ hở pháp luật để các doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động “bóc lột” từ 24% đến 35,5% tiền công của người lao động khi cố tình không đóng các quỹ. Sự biến tướng này tạo sự hiểu lầm của tổ chức công đoàn cho rằng 2% trên mức lương tháng là tiền của người sử dụng lao động cấp cho công đoàn, nên không dám đấu tranh cho những quyền lợi của giai cấp công nhân. Nhưng thực tế 2% là tiền công của người lao động, chưa kể tổ chức công đoàn hiện nay có nhiều dấu hiệu cấu kết với người sử dụng lao động để “bóc lột” giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

    Sự biến tướng này tạo sự hiểu lầm của người lao động, số 24% mức lương tháng là của người sử dụng lao động nên không dám đấu tranh đòi hỏi quyền lợi chính đáng của mình khi bị xâm phạm.

    Không dám tổ chức một công đoàn độc lập thực sự đấu tranh cho quyền lợi của mình vì nghĩ 2% kinh phí công đoàn là do tiền của người sử dụng lao động cấp cho công đoàn, thực tế là tiền của chính mình tất cả là 3% lệ phí công đoàn trên mức lương tháng.

    Tại sao? Tại sao? Tại sao? Do thiếu hiểu biết hay có sự cố tình ở đây ……

    P/S: Yêu cầu nhà nước VN phải sửa lại các bộ luật cho phù hợp với luật kế toán, chuẩn mực kế toán để thực sự công khai, minh bạch tạo sự công bằng bình đẳng giữa các doanh nghiệp cũng như người lao động được công bằng, bình đẳng với người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
    Giai cấp công nhân có quyền thành lập công đoàn độc lập vì lệ phí 3% công đoàn là do tiền công của người lao động đóng góp để công đoàn hoạt động đấu tranh cho chính quyền lợi của mình. Những lãnh đạo công đoàn không được là những đảng viên của những tổ chức chính trị để tổ chức công đoàn thực sự mang tính độc lập và tính chất xã hội dân sự thuần túy mà thôi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi