Nguyễn Hưng Quốc - Người Việt ít tình cảm?

  • Bởi Trà Mạn
    13/04/2015
    7 phản hồi

    Người Việt thường nói, thậm chí, thường tự hào, là dân tộc ta có nhiều tình cảm, thường xem tình cảm như một yếu tố nổi bật, nếu không muốn nói là nổi bật nhất và cũng đẹp nhất của văn hóa Việt Nam. Người ta so sánh: trong khi văn hóa Tây phương chủ yếu có tính duy lý, văn hóa Việt Nam chủ yếu có tính duy tình; trong khi người Tây phương thường sống với những tính toán, cân nhắc, so đo về các lợi hại vật chất có khi một cách khá ích kỷ theo tinh thần cá nhân chủ nghĩa, người Việt, ngược lại, lúc nào cũng xem quan hệ giữa người với người, đặc biệt trong phạm vi gia đình và bạn bè, là tối thượng, có thể vì nó mà người ta sẵn sàng hy sinh và chấp nhận mọi thiệt thòi.

    Tôi rất muốn tin như thế. Và vì muốn tin như thế nên có lần, trong giờ thảo luận về đề tài gia đình trong một lớp học về văn hóa Việt Nam do tôi phụ trách, tôi sững sờ khi nghe một nữ sinh viên người Úc nhận xét: Người Việt Nam, ngay trong đời sống gia đình, có vẻ như rất ít tình cảm.

    Xin nói ngay là cô sinh viên Úc tuyệt đối không phải là người kỳ thị chủng tộc. Cô còn trẻ, mới ngoài 20, có bạn trai là người Việt Nam. Họ học chung một lớp ở trung học; đến năm lớp 12 thì yêu nhau, và tình yêu của họ kéo dài đến tận bây giờ, lúc cả hai đã sắp hoàn tất chương trình Cử nhân. Khác với các mối tình học trò ở Úc mà tôi thường chứng kiến, phần lớn chỉ thoáng qua, coi như những cuộc phiêu lưu thú vị nhưng ngắn ngủi, rồi sau đó, “anh đi đường anh tôi đường tôi”, tình yêu giữa hai người này có vẻ rất nghiêm túc. Cả hai đều nghĩ đến chuyện lâu dài. Cô sinh viên Úc, khi vào đại học, ghi danh ngay môn Tiếng Việt, và học rất giỏi. Không những học tiếng Việt, cô còn ghi danh vào tất cả các môn liên quan đến Việt Nam, từ văn hóa đến xã hội và chiến tranh. Cô học một cách cần cù, say mê và đầy quyết tâm. Mỗi lần chuyện trò, nhắc đến bạn trai và gia đình bạn trai, bao giờ cô cũng nói với một giọng âu yếm và đầy tha thiết. Cô vừa đi học vừa đi làm. Cuối năm, với số tiền dành dụm được, cô và bạn trai lại lặn lội về Việt Nam, đi thăm từ Nam chí Bắc, quan sát nếp sống và văn hóa Việt Nam cũng như cố gắng thực tập tiếng Việt. Dạy học đã khá lâu, thú thực, tôi chưa từng gặp một sinh viên Úc, nhất là sinh viên nữ nào, lại yêu một cách say đắm đến như vậy. Yêu một người rồi yêu một gia đình và cuối cùng, yêu một đất nước nghèo nàn và xa lạ.

    Xin mở một dấu ngoặc: Ở trên, tôi nhấn mạnh “nhất là sinh viên nữ”. Lý do là, trong gần 20 năm dạy tiếng Việt tại trường đại học Úc, tôi thường thấy các sinh viên Úc học tiếng Việt vì một trong ba lý do chính: vì nghề nghiệp (chủ yếu là một số nghề có liên quan ít nhiều đến cộng đồng Việt Nam: nhân viên xã hội, cảnh sát, giáo viên, v.v...); vì văn hóa (để biết thêm một cái gì khác và mới); và vì lý do tình cảm: có chồng/bạn trai hoặc vợ/bạn gái là người Việt. Thuộc loại cuối, theo ghi nhận của tôi, bao giờ nam cũng nhiều hơn nữ. Nói cách khác, một người đàn ông Úc có vợ hoặc bạn gái người Việt dễ có khuynh hướng học tiếng Việt hoặc thậm chí, ăn uống theo lối Việt Nam hơn là một phụ nữ Úc có chồng hoặc bạn trai người Việt. Tại sao có hiện tượng đó? Để trả lời một cách thuyết phục, chúng ta cần có những công trình nghiên cứu công phu và nghiêm túc, những điều nằm ngoài phạm vi của bài viết này. Xin đóng ngoặc.

    Trở lại với cô sinh viên Úc nêu trên. Nghe cô nhận xét là người Việt Nam, ngay trong phạm vi gia đình, có vẻ ít tình cảm với nhau, tôi rất ngạc nhiên và yêu cầu cô giải thích thêm.

    Hơi có chút lúng túng, cô nhấn mạnh là những nhận xét của cô đều có tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa, xuất phát từ những gì cô nhìn thấy từ gia đình và đại gia đình của người bạn trai. Chúng có thể không đúng. Nhưng tôi khuyến khích cô nói, cuối cùng, cô cũng cho biết: Lần đầu tiên cô đến nhà bạn trai của cô là nhân dịp sinh nhật của anh. Cũng có quà cáp. Cũng có bánh sinh nhật. Và cũng có đèn cầy. Như mọi gia đình Úc khác. Nhưng sau khi người bạn trai thổi đèn cầy và sau bài hát mừng sinh nhật, cô hình dung là mọi người trong gia đình sẽ ôm bạn trai của cô. Cô đứng lùi ra sau, dựa vào vách để nhường mọi người. Nhưng cô ngạc nhiên thấy chẳng ai ôm hay bày tỏ tình cảm gì với bạn trai của mình cả. Hát xong, thổi tắt đèn cầy xong, các phụ nữ trong gia đình, từ mẹ đến bà ngoại người bạn trai của cô, đều chạy ùa vào nhà bếp để chuẩn bị thức ăn; còn cánh đàn ông thì loay hoay chạy đi tìm bia rồi í ới cụng ly nhau “Dzô! Dzô!”. Hết.

    Từ đó, cô tiếp tục quan sát. Suốt mấy năm liền, đến nhà bạn trai vài lần một tuần; cũng như cùng bạn trai về thăm họ hàng ở Việt Nam mỗi năm một hai lần, cô hoàn toàn không bắt gặp một biểu lộ tình cảm nào giữa những người thân trong gia đình cả. Xa nhau cả mấy tháng hay cả năm, gặp nhau, mọi người nhìn nhau, cười. Rồi thôi. Không một cái ôm. Không một sự âu yếm nào, dù thật nhỏ.

    Một sinh viên Việt Nam trong lớp cũng nêu một nhận xét tương tự. Cô là du học sinh; bố mẹ còn ở Việt Nam. Sau mấy năm xa cách, bố mẹ cô quyết định sang Úc thăm cô. Cô ra phi trường đón. Đã ít nhiều quen với lối sống ở Úc, cô tưởng tượng gặp nhau, mọi người sẽ ôm chầm lấy nhau. Nhưng không. Gặp cô, bố mẹ cô chỉ cười nhẹ rồi nhìn quanh, ngắm cái này ngắm cái khác. Cô tiu nghỉu. Và buồn. Thấy có cái gì như hững hờ trong tình cảm của bố mẹ đối với cô.

    Cô sinh viên người Úc nói thêm: Cô nghi ngờ cái gọi là sự đùm bọc của người Việt Nam. Cô cho biết mẹ và dì của bạn trai cô sống với nhau. Cả hai đều góa chồng. Đối với người Tây phương, hai chị em, dù trong hoàn cảnh như thế, cũng hiếm khi sống chung với nhau, nhất là khi họ còn khá trẻ. Nhưng người Việt thì khác. Sống chung sẽ đỡ được nhiều gánh nặng về kinh tế. Nhưng cô không tin là có lợi về tình cảm. Cô nhận thấy, dù sống chung với nhau, hai người, nếu không cãi cọ thì cũng thường xuyên hậm hực với nhau. Gặp chị thì nghe nói xấu em. Gặp em thì nghe nói xấu chị.

    Một sinh viên Việt Nam khác, sành về văn chương Việt Nam, nhắc đến các cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhóm Tự Lực văn đoàn, để chứng minh quan hệ trong gia đình và đại gia đình Việt Nam, ngay từ xưa đã không hoàn toàn thuận thảo. Thì mọi người thuộc nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà. Có vẻ ấm áp. Nhưng quan hệ giữa họ với nhau thì có thật lắm vấn đề. Giữa bố mẹ chồng và con dâu. Giữa anh em với nhau. Giữa đám con rể và đám con dâu. Lúc nào dường như cũng có các cuộc chiến tranh âm ỉ.

    Qua những phát biểu của các sinh viên ở trên, tôi chưa muốn vội đi đến kết luận là người Việt ít tình cảm. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh điều này: sự phân biệt Đông và Tây bằng cách cho bên này là duy tình và bên kia là duy lý, theo tôi, chỉ là một sự phân biệt hời hợt. Sống ở Tây phương khá lâu, tôi đã từng cảm động trước tình cảm của một số bạn bè người Úc đối với gia đình của họ cũng như bạn bè của họ. Cũng như, cách đây bốn năm năm, tôi rất cảm động khi xem tivi, thấy tường thuật việc mấy người cựu chiến binh Úc đã lặn lội về Việt Nam tìm xác đồng đội của mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam hơn bốn mươi năm về trước. Vì tình bạn, họ đi Việt Nam, tìm về những chiến trường cũ, thuê người đào bới khắp nơi để tìm xác đồng đội. Công việc nặng nề, cực nhọc, có lúc gần như tuyệt vọng. Cuối cùng họ cũng tìm ra được một số mẩu xương. Họ gửi về Úc để thử nghiệm. Khi biết chắc chắn đó là hài cốt của đồng đội, họ mới báo tin cho chính phủ Úc và thân nhân của những người ấy. Trước những việc làm như thế, chẳng lẽ chúng ta lại cứ khăng khăng cho là người Tây phương nặng về lý trí hơn tình cảm ư?

    Tôi chỉ muốn lưu ý là chắc chắn người Việt không thiếu tình cảm, nhất là tình gia đình. Vấn đề chỉ là cách biểu hiện tình cảm của họ khác với người Tây phương. Vậy thôi.

    Nhưng cái khác ấy có nên hay không?

    Sau khi mẹ tôi qua đời vào năm 2000, một trong những điều khiến tôi ân hận nhất là, nhớ lại, thấy dường như, từ lúc trưởng thành, chưa bao giờ tôi ôm bà, vỗ về bà và nói thương bà. Như điều tôi thường làm với bạn bè người Úc.

    Nguyễn Hưng Quốc

    Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    "Sau khi mẹ tôi qua đời vào năm 2000, một trong những điều khiến tôi ân hận nhất là, nhớ lại, thấy dường như, từ lúc trưởng thành, chưa bao giờ tôi ôm bà, vỗ về bà và nói thương bà. Như điều tôi thường làm với bạn bè người Úc." Tôi cũng vậy! Dù có tự chế hay ko tự chế, những hành động yêu thương đơn giản nhất cũng nên làm. Hảy vứt bỏ những lề thói chẳng đâu ra đâu ràng buộc đến tận trong ... nảo dù chỉ để thể hiện mình yêu thương người.

    Chào 2 bác TUAN 344 và EFG,
    Hi hi, 2 bài trao đổi ý kiến của 2 bác, đều làm tôi thú vị. Cảm ơn nha.

    Chào bác Lương Ngọc Phát,
    Bác nhận xét hay quá: "Đông có cái gì Tây cũng y chang có cái đó. Có điều giữa các yếu tố cùng loại trong con người Đông Tây, to nhỏ đậm lợt không đồng nhau. [...] Vậy thôi, tự chế hành vi chứ không phải người Đông (có Việt) ít tình cảm. "

    Còn đoạn này:
    "Tuy nhiên, khi có người thân bị chết thì người Á Đông lại hô hố lên khóc bù lu bù loa..." thì theo tôi nghĩ có lẽ cả đời "ít biểu lộ" với nhau rồi, nên lúc vĩnh biệt người ta phải biểu lộ "bù" kẻo không bao giờ còn cơ hội.
    Qua đó, có cái gì đau đớn ân hận đã ít bày tỏ tình yêu thương nhau lúc còn sống. Hình như cúng giỗ thân nhân quá cố, ít nhiều cũng hàm tâm lý này.

    Còn dân Tây bình thản hơn chắc lúc thân nhân còn sống họ đã biểu lộ tình cảm đủ rồi, không ân hận gì, khỏi bù."

    Đấy là một cách giải thích đầy lý thú, mà tôi thấy đượm tính quảng đại, bác ái :)
    Tôi có một lối diễn giải, ít rộng lượng hơn, nó như thế này:

    Người Á Đông tự chế hành vi (dưới áp lực của văn hóa: tập quán, giáo dục vv), nhưng hành vi và lối ứng xử của con người thông thường xảy ra có tính cách bộc phát (chủ yếu là vô thức ) chứ ít khi do tính toán hoạch định trước. Vì thế họ thường lâm vào trạng thái bị ức chế thường xuyên (trừ lúc xỉn) và thường có dáng dấp điệu bộ ngượng ngạo, thiếu tự nhiên (đóng phim dở, kể cả các đoạn phim quảng cáo thuốc cao dán Salonpas dài 30 giây trên TV). Người Á Đông tìm cách tự chế nhưng không làm chủ được nội thể, trừ một số ít người có bản lãnh. Còn người Tây phương ít tìm cách tự chế hơn, họ chỉ tự chế khi nhận thấy hành vi của mình: phạm pháp, gây hại, làm phiền người khác, và họ "làm chủ" tình hình trong lúc giao tiếp hay hơn người Á Đông, nhờ thế mà có điệu bộ tự nhiên (và đóng phim hay hơn, kể cả những phim bộ kéo dài 4, 5 năm!).

    Một số dấu hiệu cho thấy người Á Đông không "làm chủ tình thế" trong khi giao tiếp: chậm hiểu (nhưng sau đó hiểu rất thấm, âm thầm nhai đi nhai lại) chậm trả lời nên có vẻ ngớ ngẩn, ngao ngáo mặc dù có thể thông minh hơn người Tây phương, khi không đối đáp liền được thì chỉ cười hí hí (dù là đang bị người ta chọc quê). Năng khiếu nói chuyện trước đám đông, tài ứng khẩu và tính hài hước dí dỏm trong lời đối thoại cũng đòi hỏi người ta phải làm chủ tình hình, thông suốt về mặt tâm lý và ý tứ, và đấy cũng là những thiếu sót trong kỹ năng giao tiếp của dân Á.
    Vì lý do nào đó mà sự ức chế bị gỡ đi, như khi tụm năm tụm ba, khi được đám đông hỗ trợ, hay khi có rượu vào, thì người Á Đông sẽ không tự chế nổi, "bùng nổ" ra và rất ồn ào. Nghe tin người thân bị chết cũng là một trong những biến cố quan trọng, làm họ không tự chế được.

    Tính tình con người có thể sửa được, nhưng phải làm từ nhỏ.

    “..Vậy thôi, tự chế hành vi chứ không phải người Đông (có Việt) ít tình cảm…”
    ---------------
    Có lẽ thế, “tự chế” có thể là kết quả sâu dày của sự "giáo huấn" ở phương Đông , có lịch sử rất lâu dài , là một phần của “Lễ” từng tồn tại trong từng mỗi gia đình, hàng mấy ngàn năm ! Đại khái, lớn lên phải“ Học ăn, học nói, học gói, học mở”, “ăn cho nên đọi , nói cho nên lời”…vv. hàng trăm thứ "thông tư dưới luật" khác nữa, buộc người ta phãi tự biết gìn giữ và luôn tư giám sát chính mình , thông qua ý thức khuông mẫu hành xử và coi trọng thái độ của người xung quanh ( để tự sửa mình ...tự phê ! bác Hồ cũng có nhắc các đồng chí của như bác thế ! Tiếc là bác mất, không còn ai…nhắc, nên mới… lạc đề ! He he ) .

    Ở đây, bài chủ nói về người Việt nên xin “khai triển” về “bọn ấy” tí nữa cho vui ! Ta vẫn biết, trong một con người, luôn có tốt ,xấu lẫn lộn , tức là vài tính xấu vẫn còn đó trong lòng người tốt, và ngược lại , những tính tốt vẫn còn đó trong lòng kẻ xấu ! Thế nhưng không như người Âu Tâu có cái nhìn công bằng, bao dung hơn nên thường nhìn cả hai mặt một cách tỉnh táo . Còn người VN , tuy cũng tương đối thông minh , nhạy bén , nhưng dường như đức tính ấy, tập trung mạnh vào việc nhìn ra điều xấu của người khác nhanh hơn , nhiều hơn …là nhìn ra điều tốt của kẻ ấy ? Dân VN có bản tính phê phán rất mạnh . phê phán người lạ và phê phán lẫn nhau. Người Việt cũng tự biết thế, nên do đó, thâm tâm ai nấy luôn ngại sẽ “bị người ta nói này , nói nọ“ ? Và tất cả đều tự nhiên mà cố gắng che đậy những lời nói , hành động nào mà hơi khác thường, trái khuấy, không quen thuộc với xung quanh , tạo lý do bị “người ta nói”. Lâu dần, không chỉ hình thành lối nghĩ bảo thù, gia trưởng, phép vua ( mới) thua lệ làng ( cũ) , mà đặc tính ấy dẩn đến cách sống khép kín, ngại bày tỏ, sợ thay đổi … Một kiều sống làm giãm sinh khí, thiếu tự do, giàu mặc cảm …của những tâm hồn yếu đuối, mất tự tin …chỉ chuyên lo sợ đủ mọi thứ chuyện !
    Và một trong các biểu hiện là việc ngại bày tỏ cảm xúc thực trong lòng mình. Là con người thông thường, ai gặp người yêu mà mình đang "trăm nhớ ngàn thương", lại không muốn ôm chầm ngay lấy mà âu yếm hôn hít cho thỏa mong đợi ? Nhưng làm thế giữa đám đông thì…”sợ người ta nhìn”, “ sợ người ta nói” ….He he ! Ai gặp người thân sau một thời gian xa cách, lại không mừng mừng tủi tủi …nhưng tỏ ra vồ vập “âu tây” quá thì lại không quen, vì có vẻ ...giả tạo, không thành thực…thế là đành vờ “giả tảng, ngó lơ” đi…Hì hì !... Nhưng điều ấy, như nhiều còm nói, hoàn toàn không có nghĩa là người ta sống lạnh lùng , không biết yêu thương ! Những người nào đã quen với các cách “biểu tỏ tình cảm” khác, tất nhiên có thể nghĩ lắm điều, nhưng cũng nên nghĩ thêm tí nữa…rằng chỉ là không quen, là hơi…khác biệt ! Không đáng làm to chuyện !

    Ta cũng thường thấy, các cặp yêu nhau ở Âu Tây, khi không muốn "I", "you" đơn điệu nữa, họ thường chọn những giá trị đáng yêu, đáng quý nhất trong lòng để gọi người tình, như "Con chó cưng", "con chim bồ câu bé nhỏ của anh...".vv nhưng , những cách xưng hô đầy âu yếm như thế , người Việt có vẻ lại không chịu nổi, có khi họ ngượng với chút quá đáng hay gượng ép trong kiểu gọi ấy chăng ? Hay , cũng có thể các giá trị "Âu Tây" như "chú chó nhỏ", "con chim câu bé bỏng"...vv , thường tồn tại trong ....bao tử người Việt, hơn là được dùng biểu tỏ thương yêu, âu yếm ? Hic !

    Xin chào bác TUAN 344,
    Dạo này có vẻ bác cũng ít phản hồi trên dđ DL há? Tôi cũng vậy, thỉnh thoảng ghé qua xem các cố nhân ngày nào có ai tái xuất hiện đặng chào hỏi một câu, mà hiếm gặp quá. Không biết các bác ấy mai danh ẩn tích đâu hết rồi? Tuy không mấy khi tham luận nữa, nhưng tôi vẫn không quên N.Jung, Tuan 34344, Phiên Ngung, Phong Uyên, Khách Kẹt Đường, TPP, Trần thị Ngự, cùng nhiều còm sĩ khác.

    Hi hi, nay vui gặp bác ở đây, chẳng lẽ lại không còm một phát, nên lại gỏ phím tào lao rằng: Theo tôi,
    văn hóa Đông Tây về nhân cách thì cũng chỉ một tổng thể "tính người" đầy đủ nhiều thành tố, Đông có cái gì Tây cũng y chang có cái đó. Có điều giữa các yếu tố cùng loại trong con người Đông Tây, to nhỏ đậm lợt không đồng nhau. Ví dụ về yếu tố tình cảm (cũng cần xác định ngữ nghĩa của 2 từ này, đúng ra "tình cảm" không chỉ là tâm lý yêu mến thôi đâu, mà nó bao hàm tất cả nhiều trạng thái cảm xúc khác mà người xưa quy nạp thành 7 nhóm cơ bản gọi là thất tình (vui mừng, tức giận, yêu thích, ghét bỏ, buồn bã, sướng khoái, ham muốn) với những cường độ và trường độ biến thiên. Lại xin v/d tình cảm tức giận, có nhiều cường độ và trường độ: Sân ( nổi điên, như lửa rơm cháy bùng, nhưng ngắn hạn, mau tàn nguội) - Phẫn (căm, như lửa củi ít bùng, khá nóng, chậm nhưng cháy bền hơn) - Hận ( đến từ từ âm ỷ như than hồng, nhiệt độ thấp hơn lửa ngọn, rất dai dẳng) - Não (bực bội khó ưa, không nóng lắm nhưng khó hết, nhớ tới là phiền lòng). Các tình cảm khác cũng tương tợ, không có thứ nào mẫu mực cố định mà luôn tăng giảm tùy thời tùy cảnh.

    Người Tây giỏi lý luận, thích ngó ra ngoại cảnh quan sát, nên họ giỏi logic học, khoa học kỹ thuật, lý tưởng làm chủ ngoại vật.

    Người Đông trực giác bén nhạy, hay suy đạc nội quan, nên giỏi về tôn giáo tín ngưỡng, lý tưởng làm chủ nội tại: Các đại tôn giáo, đại giáo chủ, đều phát tích ở phương Đông. Các môn Thiền học, Thần học cũng vậy.

    Ngó ra, nên Tây dễ hòa nhập bên ngoài, ôm, bắt tay, hôn, vỗ vai. Tây ăn mặc gọn, hở, phô thân thể (vẻ đẹp cơ bắp thể hình) cho dễ tiếp xúc với khách thể. Tình cảm các loại bộc trực ít che đậy.

    Ngó vô, nên Đông khó hòa hợp bên ngoài, đứng xa xa chắp tay vái chào, cho việc ôm hôn là sỗ sàng, nhỏ mà sờ chạm lớn là bất kính. Thất tình kín đáo không lộ. Đông ăn mặc thùng thình kín đáo, là phản ứng vô thức che đậy thật tướng hình thức tự nhiên bên ngoài, ưa luyện nội công-khí công để có sức mạnh ẩn tàng.

    Vậy thôi, tự chế hành vi chứ không phải người Đông (có Việt) ít tình cảm. Họ yêu cũng sâu sắc, họ thù cũng ghê gớm, ham muốn khoái lạc cũng vô tận..., trai gái Đông thời trước không dám sờ nhau công khai, nhưng trong chỗ kín đáo một ông có cả chục bà, dân số tăng chóng mặt.

    Còn cái vụ "ít biểu lộ các động tác tượng trương cho sự thân ái kiểu Tây như ôm ấp, hôn hít, tặng hoa, phát biểu lời nói trìu mến vv khi có nhiều người khác hiện diện cùng lúc. Tuy nhiên, khi có người thân bị chết thì người Á Đông lại hô hố lên khóc bù lu bù loa..." thì theo tôi nghĩ có lẽ cả đời "ít biểu lộ" với nhau rồi, nên lúc vĩnh biệt người ta phải biểu lộ "bù" kẻo không bao giờ còn cơ hội.
    Qua đó, có cái gì đau đớn ân hận đã ít bày tỏ tình yêu thương nhau lúc còn sống. Hình như cúng giỗ thân nhân quá cố, ít nhiều cũng hàm tâm lý này.

    Còn dân Tây bình thản hơn chắc lúc thân nhân còn sống họ đã biểu lộ tình cảm đủ rồi, không ân hận gì, khỏi bù.

    Nguyễn Hưng Quốc viết:
    Tôi chỉ muốn lưu ý là chắc chắn người Việt không thiếu tình cảm, nhất là tình gia đình. Vấn đề chỉ là cách biểu hiện tình cảm của họ khác với người Tây phương. Vậy thôi.

    Nhưng cái khác ấy có nên hay không?

    Sau khi mẹ tôi qua đời vào năm 2000, một trong những điều khiến tôi ân hận nhất là, nhớ lại, thấy dường như, từ lúc trưởng thành, chưa bao giờ tôi ôm bà, vỗ về bà và nói thương bà. Như điều tôi thường làm với bạn bè người Úc.

    Đoạn này cung cấp câu trả lời - mà tôi tin là đúng - cho cả tựa bài lẫn vấn đề được nêu lên trong bài. Cần phải nói thêm là người Việt/Tầu/Hàn/Thái vv khác với người Tây phương ở chỗ ít biểu lộ các động tác tượng trương cho sự thân ái kiểu Tây như ôm ấp, hôn hít, tặng hoa, phát biểu lời nói trìu mến vv khi có nhiều người khác hiện diện cùng lúc. Tuy nhiên, khi có người thân bị chết thì người Á Đông lại hô hố lên khóc bù lu bù loa, chảy nước dãi, lăn lộn xuống đất vv (xem thí dụ các đoạn video quay cảnh thân nhân của các nạn nhân tử nạn máy bay Mã Lai chẳng hạn), trong khi người Tây phương thì kềm chế hơn- mặc dù họ vẫn buồn - và có vẫn thể trả lời hay phát biểu trong những lúc như thế.

    Tôi là một người Việt, một thanh niên trưởng thành trong nước. Tôi thấy bài viết này hoàn toàn đúng (ít nhất là với gia đình tôi và gia đình những người tôi biết). Tôi cho rằng tình cảm của con người với bản chất tự nhiên của nó, vốn dĩ là chân thành. Nhưng càng trưởng thành tôi càng nhận ra nhiều vấn đề, có gì đó rất không ổn trong quan hệ người người với nhau (trong đất nước này), tôi cảm nhận sự luôn dè dặt trong thể hiện cảm xúc, nếu có gọi là yêu thương thì thường phải có điều kiện, tình cảm kiểu tranh thủ (đôi bên có lợi hay thêm người ủng hộ vậy), cảm giác luôn có gì đó hơi đề phòng, cảnh giác với nhau. Cái "chân thành" nhất mà tôi nhận thấy là kiểu tình cảm của người lớn với con nít (con nít mà lớn rồi là thấy khác ngay), kiểu như tình cảm yêu thương của bạn với một con cún con vô hại ấy; nữa là tình cảm luyến ái lúc yêu (hết yêu thì ko bàn vì tôi từng chứng kiến nhiều điều kinh khủng lắm khi mà người ta chia tay nhau), tôi ko chắc yêu có phải là loại đôi bên có lợi hay ko(?); bố mẹ với con cái giống như một thứ của cải để dành lúc về già (tôi chỉ viết những gì bản thân cảm nhận từ việc quan sát) nên quí tử có là phá gia tri tử thì cũng ráng mà yêu thương nó kẻo sau này biết nhờ cậy ai.... Nhiều, rất nhiều thứ không ổn xung quanh mấy cái giáo điều kiểu như là "Người Việt ta sống coi trọng tình cảm, chân thành thế này thế nọ" ...
    Rốt cuộc thì tôi cũng đã tìm ra cái gì là Thực Chất, như đã nói, tình cảm của con người vốn dĩ là chân thành, hẳn là có cái gì đã bóp méo nó, làm nó biến dạng, tạo ra cái kiểu văn hoá khốn nạn đến ngộp thở này , khiến người ta không thể đặt niềm tin của mình vào sự chân thành của người khác.
    Khi đọc "Cửu Bình", tôi đã khóc vì hiểu rằng mình đã tìm được câu trả lời cho những thắc mắc dai dẳng từ nhỏ tới lúc trưởng thành. Đọc "Trại Súc Vật" tôi đã biết được hoàn cảnh của bản thân và đất nước hiện tại là như thế nào. Càng nghiên cứu nhiều tư liệu tôi càng hiểu nhiều điều mà trước giờ bị người ta bịt mắt, trốn tránh.

    Tôi hiểu chủ nghĩa Cộng Sản chính là con quỉ tà mị quái thai, tàn phá tinh thần của trăm triệu người trên thế giới và đảng CS với XHCN là rác rưởi với thế hệ này và thế hệ tương lai của người Việt ra sao.
    Tôi tin chắc mình và rất nhiều rất nhiều đồng bào mong muốn cái chế độ khốn nạn của đảng CS mau chóng bị xụp đổ, trả lại sự tự do và thuần khiết cho chúng ta cả về thể xác lẫn linh hồn.