Thủ tướng Úc bảo vệ quyết định cắt giảm 11 tỉ USD viện trợ nước ngoài trong chuyến viếng thăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

  • Bởi Admin
    20/03/2015
    3 phản hồi

    Calla Wahlquist
    Athena chuyển ngữ

    Mới đây trong cuộc họp báo chung với thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, ông Tony Abbott đã bảo vệ quyết định của chính phủ Úc trong việc cắt giảm 11 tỷ đô ngân sách viện trợ nước ngoài.


    Tony Abbott (bên phải) tại buổi họp báo với Thủ tướng Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: Mike Bowers, Guardian

    Nguyễn Tấn Dũng và Tony Abbott đã trả lời truyền thông sau một buổi gặp chính thức, trong đó ông Dũng đã ký "tuyên bố tăng cường quan hệ Đối tác toàn diện" giữa hai nước với Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Julie Bishop.

    Khi được hỏi liệu ông có cảm thấy bối rối khi phải giải thích việc cắt giảm ngân sách viện trợ với thủ tướng Dũng, ông Abbott nói rằng Úc chỉ “cắt giảm một khoản rất khiêm tốn” nhưng phần còn lại sẽ tập trung vào những nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bao gồm cả Việt Nam.

    “Hãy nhìn xem, điều quan trọng là các nước phải đảm bảo rằng họ có nền kinh tế nội địa ổn định, bởi nếu nền kinh tế của bạn chẳng ra gì, thì bạn sẽ rất khó để trở thành bạn bè và hàng xóm tốt,” ông Abbott cho biết.

    Ông cũng nói thêm rằng “mục đích của việc viện trợ không phải để tạo ra mối quan hệ phụ thuộc lâu dài, mục đích của viện trợ là để đảm bảo rằng những quốc gia được giúp đỡ để phát triển đến một mức mà họ không cần đến khoản viện trở nữa."

    “Và với việc tăng trưởng kinh tế vững chắc mà Việt Nam đã thu được trong mấy năm gần đây, đặc biệt là dưới sự quản lý của thủ tướng Dũng, thì điều đó có nghĩa là sự cần thiết cho các gói viện trợ sẽ giảm dần qua từng năm.”

    Khi nghe phiên dịch viên dịch lại câu cuối cùng của thủ tướng Abbott, ông Dũng đã mỉm cười và từ chối trả lời câu hỏi liệu ông có phiền lòng về những ảnh hưởng từ việc cắt giảm viện trợ lên người dân Việt Nam không.

    Chính phủ Úc đã viện trợ cho Việt Nam 140 triệu USD trong ngân sách 2014/15.

    Bản tuyên bố khẳng định một lần nữa mối quan hệ thương mại, an ninh, giáo dục và văn hóa giữa Việt Nam và Úc.

    Nói chuyện thông qua phiên dịch viên, ông Dũng cho biết tuyên bố vừa rồi sẽ “tăng cường” mối quan hệ giữa hai nước và sự tham khảo trong các lĩnh vực giáo dục và nông nghiệp, cũng như nâng cao hợp tác an ninh và quốc phòng.

    Đứng đầu các mối quan tâm chính là vấn đề tự do hàng hải ở biển Đông và một thỏa thuận nhằm “kiềm chế và tránh bất cứ điều gì có thể gây căng thẳng trong khu vực.”

    Ông Abbott cho biết mối quan hệ Úc – Việt Nam đang trở nên “thắm thiết hơn” và sẽ được nâng cao hơn nữa bằng hiệp định TPP, vốn đang trên bàn đàm phán.

    “Chúng ta đã phát triển thịnh vượng trong hòa bình suốt 40 năm qua nhờ có sự ổn định trong khu vực, và bất cứ điều gì phá hủy sự ổn định này chúng ta đều sẽ lên tiếng và hợp tác để điều đó sẽ không xảy ra.”

    Trong buổi sáng ngày thứ Tư khi đến Tòa nhà Quốc hội, đoàn đại biểu của ông Dũng đã phải đối mặt với những người biểu tình ủng hộ nhân quyền. Rất nhiều người trong số đó là công dân Việt Nam – Úc, đã công bố bản báo cáo đặc biệt của Liên Hợp Quốc về vấn đề tự do tôn giáo và tín ngưỡng, trong đó chỉ ra rằng “không gian hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng vẫn bị hạn chế rất nhiều và không an toàn” ở Việt Nam.

    Báo cáo viên đặc biệt, Heiner Bielefeldt, cho biết Việt Nam đã vi phạm điều khoản khi không cho phép ông gặp gỡ tiếp xúc với người dân, một số người mà ông gặp thậm chí đã bị “đe dọa, thẩm vấn và đánh đập” trước và sau chuyến viếng thăm của ông.

    Tất nhiên, phía Việt Nam bác bỏ báo cáo này.

    Chủ đề: Đối ngoại

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    AUSTRALIA'S QUIET VIETNAM DIPLOMACY
    By Helen Clark

    Australian Prime Minister Tony Abbott this week met his Vietnamese counterpart Nguyen Tan Dung in Canberra. It was the second visit by the Vietnamese leader, but the first time since he and Abbott have met.

    The meeting produced a new “Enhanced Comprehensive Partnership,” which follows on from 2009’s “Comprehensive Partnership.” The new agreement encompasses many areas, from defense and trade to human rights (albeit tangentially), as well as collaborations from scientific through to transnational crime and education and working holidays. Trade is important and Vietnam is Australia’s fastest growing trade partner within ASEAN; two-way trade was at A$7.3 billion ($5.5 billion) from 2013-2014. The Trans Pacific Partnership is also a part of the new agreement.

    However, the main goal of the meeting seemed to be security. Defense ties have been increased, through commitments to peace, regional stability, and working through regional organizations such as ASEAN and APEC. South China Sea tensions are an obvious focus. Both nations “agree on the urgent need to conclude a code of conduct for the South China Sea”; restraint should be exercised and the importance of the UN Convention on the Law of the Sea noted. Vietnam forged a strategic partnership with the Philippines earlier this month. Abbott and Dung say Australia and Vietnam enjoy a more mature bilateral relationship. Vietnam has been busy forging many relationships in recent years and strengthening its position through appointments such as a non-permanent seat on the UN Security Council. Varied ties, with the U.S. and Russia as well as with middle powers like Australia, have characterized the once-isolationist communist nation this century as much as its rapid economic growth has.

    For Australia, whose Asian Century can seem a little China-centric, it’s a chance to become more involved with a growing trade partner and more involved in the region, bolstering its reputation (or its hope) as a middle power with some heft and wide but strong ties.

    None of this has particularly excited the Australian public, however. Coverage was sparse and what mentions there have been of the Australian prime minister’s work this week largely involved reports of his offending the Irish Taoiseach with his St Patrick’s Day address, released a few days before March 17. However an op-ed from the Australian director of Human Rights Watch, Elaine Pearson suggested that it’s not only morally right but in Australia’s interests to bring up human rights issues in Vietnam with Dung. After all, Australia glossed over them under the former Sri Lankan regime and this has come to be seen as a black mark against the country by the new government. Will Australia’s relative public silence on the jailing of bloggers, the locking up of activists, and the lack of religious freedom end up biting it in the tail, should the communist government be forced out and democracy flourish? It is not an entirely fair comparison as Vietnam’s Communist Party does not look to be going anywhere in the near future.

    We’ve written before about the different tack Australia takes to human rights in Vietnam compared with America’s more strident efforts. Two-way human rights dialogues have been a feature of relations for over a dozen years but, as Pearson pointed out, they go on behind closed doors, conducted by mid-level officials. The lack of transparency makes it hard to tell what is being accomplished. This is far from the Barack Obama’s mentioning of specific bloggers in a speech or human rights conditions being attached to increasing ties. The U.S. approach may be a doubled-edged sword. As we noted last year, then-recently released activist Cu Huy Ha Vu, who went to the U.S. after his prison stint, said in a Washington Post op-ed that the regime treated prisoners of conscience as commodities to trade with the U.S. in return better security, trade and aid benefits. With this reasoning, while Australia does not often publicly call for the release of prisoners it also does not give Vietnam incentives to round them up.

    Whether increasing ties in the future mean Australia will have to more thoroughly address human rights abuses in Vietnam may in fact depend very much on domestic political will in Australia. Despite overseas democracy party Viet Tan having branches in the country they are not the strong political force they are in the States, which has always been one of several factors in the nation’s public calls for greater freedom and better human rights. Of course there’s an outside chance that if religious repression increases, especially against Catholic groups in provinces such as Nghe An, Australia may have to work harder to improve freedoms or risk dealing with more asylum seekers.

    Helen Clark was based in Hanoi for six years as a reporter and magazine editor. She has written for two dozen publications including The Diplomat (as Bridget O’Flaherty), Time, The Economist, the Asia Times Online and the Australian Associated Press.

    Common Security Concerns behind Autralia's "Enhanced Partnership" with Vietnam

    By CHRISTOPHER BRUCE ROBERTS

    A new agreement between Australia and Vietnam could lead to"friendly" navies patrolling the South China Sea to counter China's claims and actions.
    The past six years have witnessed a significant convergence of interests between Australia and Vietnam in the economic, political, and security spheres. On Wednesday, the prime ministers of both nations will sign an "Enhanced Comprehensive Partnership" that will build on the original "2009 Comprehensive Partnership" and subsequent 2010 "Plan of Action".
    The range of issues addressed by the new document include people-to-people links, human rights, scientific collaboration, the environment, education, aid, agriculture, and trade. Two-way trade helps to reinforce progress with the other issues and has achieved significant growth from a meagre $42 million in 1990-91 to $7.3 billion in 2013-14.
    Beyond trade, the agreement is noteworthy for a stronger emphasis on improved inter-governmental relations and co-operation on defence and security matters. Australia was one of the first Western countries to engage Vietnam, and the associated goodwill has contributed to early and tangible co-operation including military exchanges, training, naval visits, and high-level defence dialogue. That said, the Enhanced Comprehensive Partnership seeks to strengthen these relations to "reflect ... a more mature bilateral relationship ... [and] the current dynamics of our region". The document declares that a "second Plan of Action" will deliver new and refocused priority areas of co-operation.
    A new agreement with Australia could lead to"friendly" navies patrolling the South China Sea to counter China's claims.
    Consequently, 18 out of 44 paragraphs and clauses confront, in one form or another, common security challenges through increased defence co-operation and other activities. For example, eight of these paragraphs address the need to co-operate in regional institutions including the Association of Southeast Asian Nations and the East Asia Summit. Several more sections in the declaration raise the importance of working together to strengthen the United Nations and international law. The desired outcome of these provisions is encapsulated in Clause 2.1: that the "security and prosperity of both countries is linked to stability in the Indo-Pacific region". Just how feasible are these goals and aspirations?
    China's rising military and paramilitary assertiveness in the South China Sea is the key concern underpinning much of the relevant text. Thus, Clause 2.4 cites the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea and calls on "all parties to exercise restraint and refrain from actions that could increase tensions in the region". The clause adds that "[b]oth countries agree on the urgent need to conclude a code of conduct for the South China Sea".
    Since the first comprehensive partnership, Beijing has continued to reassert its claim to 80 per cent of the South China Sea in a manner that breaches the provisions of UNCLOS. More disturbingly, Beijing has (misguidedly) attempted to change the legal facts on the ground by demonstrating "effective control". These actions include unilateral fishing bans, the location of a deep sea oil rig (HD-981) about 120 nautical miles from Vietnam's coast, and the occupation of maritime features in disputed territory. Most recently, satellite imagery has revealed land reclamation projects with significant strategic implications including military ports, airfields, and resupply facilities.
    These concerns are beyond the sole capacity of any two nations to address. Therefore, the document rightly emphasises the need for Australia and Vietnam to work together in broader multilateral contexts. Thus, a draft text for a joint communique to be issued on Wednesday declares that the "Enhanced Partnership" will serve as a bridge to a future "strategic partnership". One outcome of this could be regular joint naval patrols.
    Vietnam has already negotiated 13 other strategic partnerships (including with Russia, India, and Japan) and is negotiating the content of its 14th with the Philippines. Strategic partnerships with key allies of the US – eg, Australia, the Philippines and Japan – could pave the way for trilateral naval patrols and, eventually, multilateral patrols including Indonesia and India. Through regular dialogue and interaction, as envisioned by the Enhanced Partnership, a de facto security regime could organically emerge.
    The increased presence of "friendly" navies in the South China Sea will provide a degree of deterrence against future coercive action. Certainly, the simultaneous escalation of military tensions in the East China Sea (north-east Asia), amid China's rapid military modernisation, has strengthened the potential for such multilateral co-operation.
    However, continued economic dependence on China by many economies, together with a strategic divide along democratic/authoritarian lines, will inhibit such co-operation. For non-claimant states – eg, Australia – where as much as 36.7 per cent of exports go to China, it is hard to imagine that possible Chinese economic wrath wouldn't figure into calculations about whether to defend the interests of other countries and/or international law and order. Thus, a parallel story would be to examine how a potential security regime could diversify economically.
    Nonetheless, the current agreement is what it states – comprehensive – and Vietnam and Australia must now agree on a new Plan of Action to realise the important objectives that it espouses.

    Associate Professor Christopher Roberts is director of executive education at the School of Humanities and Social Sciences, UNSW at the Australian Defence Force Academy.

    Trong hơn nửa thế kỷ qua, từ khi CS lên cầm quyền thì Việt Nam luôn luôn sống nhờ vào viện trợ của nước ngoài, trước kia thì nhờ vào các nước trong phe XHCN, hồi chiến tranh thì lấy lý do chiến tranh, nay hòa bình thì vấn đề viện trợ và nợ nước ngoài lại tăng lên. Trong chiến tranh thì dưới sự lãnh đạo của Đảng CS người Việt trở thành lính đánh thuê, nay không còn đánh nhau thì lấy lý do hàn gắn các vết thương chiến tranh. Nếu mở mắt ra mà trông thì thấy người NHật cũng dân châu Á như mình, nhưng sau chiến tranh họ có nhờ nước nào viện trợ vật chất đâu mà họ còn tiến như vũ bão, vượt cả những nước thắng trận.
    Các nước tư bản họ chẳng dại gì khi dốc hầu bao cho một nước luôn luôn phản thùng, đi ngược lại trào lưu của họ và cũng là trào lưu chung của thế giới. CS là nhờ tư bản để xây dựng CNXH ư? Đừng hòng, quan hệ giữa CS và TB là quan hệ đối lập nước và lửa, họ chẳng dại gì nuôi một kẻ muốn vươn lên để rồi phản thùng diệt lại họ. CS cho rằng quan hệ với TB chỉ là sách lược, sau đó quay ngoắt 180 độ. Ngửa tay xin tiền TB nhưng lại tôn thờ hai tay trùm CS rậm râu với mục đích tiêu diệt TB vì cho rằng TB bóc lột.
    Nếu thủ tướng Dũng thông minh thì phải hiểu điều này.
    Có câu chuyện Việt kiều ở Úc tặng thủ tướng Dũng bức hoành phi có dòng chữ
    NHIỆT LIỆT HOAN NGHÊNH ĐM ĐCS
    Thủ tướng Dũng hỏi ĐMĐCS là cái gì?
    Thì Việt kiều giải thích ĐMĐCS là đổi mới ĐCS.
    Thế là thủ tướng 3X hí hửng:
    Tôi lên làm TBT thì tôi sẽ
    ĐỔI MỚI (ĐM) MẠNH MẼ HƠN, ĐỔI MỚI (ĐM) QUYẾT LIỆT HƠN, ĐỒI MỚI (ĐM) TRIỆT ĐỂ HƠN.
    ĐMĐCS