Nguyễn Trang Nhung - Đôi điều về nguyên tắc suy đoán vô tội và vụ án Hồ Duy Hải

  • Bởi Admin
    17/03/2015
    4 phản hồi

    Nguyễn Trang Nhung


    Chánh án TAND tối cao Trương Hòa Bình: "Chưa có căn cứ Hồ Duy Hải vô tội."

    Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc pháp lý quan trọng trong tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

    Trong pháp luật Việt Nam, nguyên tắc này được quy định ngay tại đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất, tức Hiến pháp, tại khoản 1, Điều 31 [1] như sau:

    "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật."

    Trình tự luật định ở đây là trình tự giải quyết một vụ án hình sự được quy định trong Bộ Luật Tố tụng Hình sự, cụ thể là BLTTHS 2003 hiện có hiệu lực thi hành [2].

    Một điểm quan trọng trong nội dung của nguyên tắc này là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Về phần bị can, bị cáo, họ có quyền, mà không có nghĩa vụ, chứng minh mình vô tội. Điều này cũng có nghĩa họ có quyền im lặng trong toàn bộ quá trình các cơ quan chức năng giải quyết vụ án. Điểm này được BLTTHS 2003 quy định rõ tại Điều 10 như sau:

    "Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

    Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội."

    Nguyên tắc suy đoán vô tội là một nguyên tắc pháp lý phổ quát. Tính phổ quát của nó được thể hiện ở sự thừa nhận không chỉ trong pháp luật của nhiều quốc gia, mà còn trong luật quốc tế, thông qua một số văn kiện và điều ước quốc tế như Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền 1948 [3] và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 [4]:

    Khoản 1, Điều 11 Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền 1948 quy định:

    "Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp."

    Khoản 2, Điều 14 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 quy định:

    "Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật."

    Bên cạnh đó, điểm g, khoản 3, Điều 14 cùng Công ước này quy định một người khi bị xét xử hình sự được bảo đảm:

    "Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội."

    Khi hiểu được nguyên tắc này, chúng ta sẽ thấy khẳng định của Chánh án TAND tối cao, ông Trương Hòa Bình, trong vụ án Hồ Duy Hải, rằng: "Chưa có căn cứ Hồ Duy Hải vô tội." [5] là một khẳng định trơ trẽn. Ông Bình nên tự vả vào mặt mình, và tất cả những ai hiểu nguyên tắc của pháp luật có quyền vả vào mặt ông.

    TN, 16/03/2015

    Chú thích:

    [1] Điều khoản trong Hiến pháp hiện hành, tức Hiến pháp 2013. Quy định này tương ứng với Điều 72 Hiến pháp 1992: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật."

    [2] Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2003
    http://www.moj.gov.vn/…/Vn%20bn%20php%20l…/View_Detail.aspx…

    [3] Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền 1948
    http://law.toaan.gov.vn/SPCDOC/docView.do…

    [4] Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966
    http://hcrc.hcmulaw.edu.vn/…

    [5] Chánh án TAND tối cao: 'Chưa đủ căn cứ nói Hồ Duy Hải vô tội'
    http://vtc.vn/chanh-an-tand-toi-cao-chua-du-can-cu-noi-ho-d…

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Lập luận của Trang Nhung và Kép Tư Bền đều một dùng 1 từ pháp lý chưa từng có: suy đoán vô tội - speculation of innocence, nhưng trong thuật ngữ luật chỉ có presumption of innocence.

    Theo nguyên tắc presumption of innocence - giả định vô tội - thì việc ông CATANDTC Trương Hòa Bình, trong vụ án Hồ Duy Hải, nói rằng: "Chưa có căn cứ Hồ Duy Hải vô tội" là một sự chổng đít mọi rợ đối với văn minh pháp lý hiện đại!

    Tác giả bài viết có vẻ chưa hiểu rõ lắm về nguyên tắc suy đoán vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự.

    Thứ nhất, đưa cả Tòa án (chính xác hơn phải là Hội đồng xét xử) vào số các cơ quan có trách nhiệm chứng minh tội phạm là không đúng. Chỉ có cơ quan điều tra và công tố mới có trách nhiệm đó. Hội đồng xét xử có nhiệm vụ trọng tài giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Nếu HĐXX có thẩm vấn bị cáo thì là để làm rõ vấn đề, chứ không phải để chứng minh tội phạm hay để gỡ tội.
    Thứ hai, linh hồn của nguyên tắc suy đoán vô tội không phải ở việc coi một người chưa bị kết án là vô tội - đây mới chỉ là nguyên tắc đối xử với nghi can, bị can, bị cáo, chứ chưa phải là kim chỉ nam cho hoạt động tố tụng, đặc biệt là hoạt động xét xử.
    Linh hồn của nguyên tắc này nằm ở chỗ: mọi chứng cứ, lập luận v.v... cần phải được xem xét theo hướng có lợi cho bị cáo, tức là HĐXX phải luôn luôn tâm niệm rằng bị cáo vô tội, bị cáo vô tội..., chừng nào bên buộc tội chưa thể đưa ra những bằng chứng, lập luận có sức thuyết phục mạnh đến nỗi không thể không tin rằng bị cáo đúng là phạm tội thật. Gọi là "suy đoán vô tội" chính là thế.
    Áp dụng nguyên tắc này chắc chắn sẽ làm gia tăng nguy cơ bỏ lọt tội phạm, nhưng điều quan trọng là nó giúp giảm tối đa khả năng oan sai.
    Nguyên tắc này vì thế chỉ là kim chỉ nam của HĐXX chứ không áp dụng cho cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra, ngược lại, luôn luôn nghi ngờ, luôn luôn xem xét mọi chứng cứ theo hướng có liên quan đến tội phạm. Điều này là cần thiết trong hoạt động điều tra, vì chỉ có thế thì từ những manh mối nhỏ mới có thể dẫn đến nghi can, và từ nghi can dẫn tới bị can.
    Dĩ nhiên một mặt cơ quan điều tra có quyền và có trách nhiệm nghi ngờ tất cả khi tiến hành điều tra, mặt khác trong lúc điều tra phải tuân thủ nguyên tắc đối xử với nghi can, bị can như với người vô tội, đảm bảo quyền con người.
    Về phát biểu của ông Trương Hòa Bình, tác giả đã quá lời khi công kích ông Bình. Thực ra ông Bình phát biểu như thế không sai chút nào. Ông ta không nói rằng "Hồ Duy Hải bị tử hình vì không có căn cứ vô tội", mà nói rằng "chưa đủ căn cứ để nói HDH vô tội", trong khi chỉ có căn cứ buộc tội, vì thế chưa thể tuyên bố ngay lập tức là HDH vô tội như đã từng tuyên với Nguyễn Thanh Chấn chẳng hạn.
    Nên nhớ, ông Bình phát biểu với tư cách Tòa án tối cao đang xem xét lại một bản án đã có hiệu lực, chứ không phải ông đang xét xử. Rõ ràng là khi chưa có bằng chứng cho thấy HDH vô tội thực sự thì ông chỉ có thể nói là "chưa đủ căn cứ để nói HDH vô tội". Còn việc các chứng cứ buộc tội mạnh đến cỡ nào mà HĐXX khi trước lại tuyên HDH có tội thì là việc khác, hai chuyện này không mâu thuẫn gì với nhau cả.

    Giả định vô tội (presumption of innocence) - không phải "suy đoán vô tội" - là một phần quan trọng của hệ thống pháp luật hình sự ở các nước văn minh.

    Về cơ bản, nguyên tắc này có nghĩa là nếu ai đó bị cáo buoc một tội phạm hình sự, họ không cần phải chứng minh họ vô tội. Nói cách khác, trừ khi các công tố viên có thể chứng minh họ phạm tội, họ có quyền được tha bổng vì không bị tìm thấy "có phạm tội".

    Công tố viên không chỉ phải chứng minh nghi phạm đã phạm tội, họ còn phải chứng minh là "không còn sự nghi ngờ hợp lý" nào (beyond readonable doubt) đối với việc chính can phạm đã thực sự ra tay làm tội phạm hình sự ấy.