Nguyễn Hưng Quốc - Người Việt Khinh người Việt

  • Bởi Trà Mạn
    09/03/2015
    7 phản hồi

    Nguyễn Hưng Quốc nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.

    Nhớ, có lần về Việt Nam, tôi được giới thiệu với một trí thức khá lớn tuổi ở Hà Nội. Chuyện gẫu, anh khoe anh đang sống chung với một phụ nữ Tây phương. Tôi không hỏi là hai người sống chung như vợ chồng hay bồ bịch. Thực tình, tôi cũng chẳng thấy có chút ngạc nhiên hay tò mò nào. Nhưng một lát sau thì anh bạn ấy lại hỏi tôi: “Chị nhà là người nước nào vậy, thưa anh?” Khi tôi đáp là người Việt, tôi thoáng thấy có chút thất vọng trong ánh mắt của anh. Tôi đoán chắc anh đang nghĩ thầm: Mẹ kiếp! Sống ở nước ngoài cả mấy chục năm mà vẫn cứ xài hàng nội!

    Khoảng giữa thập niên 1990, khi chính sách mở cửa về kinh tế của Việt Nam đã có nền tảng khá vững, nhiều trường đại học ở Tây phương, trong đó có Úc, tìm cách xây dựng các cơ sở giáo dục tại Việt Nam. Thoạt đầu, người ta nghĩ ngay đến lực lượng trí thức Việt Nam như những trung gian cực tốt: Họ biết cả hai ngôn ngữ và cả hai nền văn hoá. Thế nhưng, chỉ vài năm sau, phần lớn đều khám phá ra điều này: họ không thực sự cần trung gian lắm. Không phải những người trung gian ấy bất tài. Không phải. Lý do chính là vì chính quyền cũng như các trường học và công ty Việt Nam thường nghi kỵ các đồng hương của họ ở nước ngoài hơn là với người ngoại quốc. Người ngoại quốc nói gì người ta cũng yes, yes. Trong khi với các chuyên gia người Việt thì người ta lại hạnh hoẹ đủ điều.

    Tôi có một chị bạn lấy chồng Úc. Hai người đi về Việt Nam chơi. Có lần cần đến cơ quan công quyền để làm giấy tờ gì đó. Chị vợ vào năn nỉ ỉ ôi với một thứ tiếng Việt giọng Huế cực kỳ ngọt ngào. Chị bị từ chối một cách phũ phàng. Năn nỉ mấy cũng không được. Lát sau, nước mắt dầm dề, chị ra kể với ông chồng đang ngồi chờ ở phòng ngoài. Anh chồng người Úc bực tức cầm mớ giấy tờ vào thẳng trong phòng. Mấy phút sau, anh trở ra, miệng cười toe toét: Xong rồi! Từ đó, hai người rút kinh nghiệm: gặp bất cứ vấn đề gì cần giải quyết với người Việt Nam, anh chồng sẽ lao ra và chị vợ thì lùi lại sau. Bất kể người đối thoại có biết tiếng Anh hay không, mọi việc thường đều được giải quyết một cách nhanh chóng và ổn thoả.
    Mà hình như không phải chỉ ở trong nước.

    Nhớ, cách đây hơn mười năm, cái máy giặt ở nhà tôi bị trục trặc. Tôi điện thoại gọi một người thợ Việt Nam đến sửa. Vừa lúi húi sửa máy, anh vừa hất hàm hỏi tôi: “Anh làm nghề gì vậy?” Tôi đáp: Đi dạy học. Anh hơi ngạc nhiên. Lại hất hàm hỏi: “Dạy cấp mấy?” Tôi đáp: Đại học. Anh càng ngạc nhiên: “Dạy gì?” Tôi đáp cho qua chuyện: Thì dạy tiếng Việt lăng nhăng vậy mà. Anh phán ngay: “Ừ, thì cũng dễ!”
    Ừ, thì cũng dễ.

    Sau đó, trong một buổi nói chuyện phiếm, tôi kể cho một người bạn Úc đang dạy tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL) nghe. Chị nói là chị không hiểu được. Chị dạy ESL cả mấy chục năm nay, chưa bao giờ nghe bất cứ ai nói là dạy ESL dễ hơn dạy các môn khác. Chưa ai gọi English, ngay cả English as a second language, là tiếng “lít” như một số người Việt vẫn gọi tiếng Việt là tiếng “Mít” cả.

    Mà hình như tâm lý khinh thường người Việt và tiếng Việt đã có ngay từ xưa. Chữ Hán là chữ của thánh hiền. Người ta không dám vất hay đạp lên một mảnh giấy có vài chữ Hán nguệch ngoạc trên đó. Trong khi đó chữ Nôm thì lúc nào cũng bị coi rẻ: nôm na mách qué. Viết văn, muốn đi vào thiên cổ, thì dùng chữ Hán. Khi viết bằng chữ Nôm thì người ta khiêm tốn hẳn. Tài năng lồng lộng như Nguyễn Du cũng khiêm tốn: “Lời quê chắp nhặt dông dài / Mua vui cũng được một vài trống canh”. Các cây bút khác cũng thế. Trong Nhị Độ Mai: “Biết bao lời kệch tiếng quê / Thôi thôi bất quá là nghề mua vui”. Trong Phù dung tân truyện: “Lời quê chắp chảnh nên câu / Chép làm một truyện để sau mua cười”. Trong Bích câu kỳ ngộ: “Cũng xin góp một hội cười / Cùng mua mấy trống canh vui gọi là”, v.v… Đầu thế kỷ 18, dưới thời chúa Trịnh, các truyện “nôm na” ấy được xem là những “tiếng dâm” cần phải bị nghiêm cấm đấy!

    Dưới thời Pháp thuộc, óc tự ti và sùng ngoại càng lên cao. Trong những điều người ta mơ ước “ăn cơm Tàu, lấy vợ Nhật, ở nhà Tây”, chẳng có gì dính dáng đến Việt Nam cả. Cái gì lớn, tốt, đẹp thì được gọi là… “Tây” để đối lập với “ta”: hành tây, gà tây, khoai tây, v.v… Rồi “sang như Tây”, “đẹp như Tây”, “trắng như Tây”. Hết Tây thì đến Mỹ: xài Mỹ, giàu như Mỹ, sang như Mỹ, v.v…

    Gần đây thì có sự phân biệt giữa nội và ngoại. “Ngoại” đồng nghĩa với thật và chất lượng cao. “Nội”, ngược lại, hầu hết là kém, thậm chí, giả, hay nói theo tiếng thông dụng lâu nay là dỏm / dởm / rởm.

    Thành ra, có thể nói thái độ người Việt tự khinh người Việt, tiếng Việt và bất cứ thứ gì do người Việt làm ra có nguồn gốc sâu xa từ tâm lý thuộc địa. Hết thuộc địa của Tàu thì đến thuộc địa của Tây.

    Tàu đi rồi. Tây đi rồi. Tâm lý thuộc địa biến thành tâm lý hậu thuộc địa. Cũng vẫn là một nỗi tự khinh mình.

    Bạn có thấy vậy không?

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Trích dẫn:
    Thiết nghĩ "Người Việt Khinh người Việt " chỉ là một dạng khá cực đoan của hội chứng "Bụt chùa nhà không thiêng" mà ai / dân tộc nào cũng có nhiều hay it. Như (nghe nói) dân thượng lưu Nga thời Sa Hoàng dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau vì cho đấy mới là sang trọng, văn minh.
    Với người Việt, thường đồ ngoại vẫn có giá hơn. Nhỏ nhặt như trái dừa Xiêm, cái giường Lèo, hủ tiếu Nam Vang. Cũng nghe nói ở VN (miền Nam) dầu gió Miên đươc ưa chuộng; trong khi ở Kam thì dầu gió Chợ lớn lại rất có giá.

    Bác nói rất đúng. (Về chuyện người Nga quí tộc sính dùng tiếng Pháp thì các bác đọc tác phẩm "Chiến tranh và Hoà bình" của Lev Tolstoi sẽ rõ.)
    Ngoài ra tôi nghĩ dân mình thì xưa nay vẫn bị coi hay tự coi nhà nhược tiểu. Mà nhược tiểu thật chứ chẳng phải bị người ta đặt điều coi thường đâu.
    Vậy nên ngoài chuyện "bụt chủ nhà không thiêng" thì người Việt sính ngoại là từ thời cổ đại cơ. Hãy đọc bài "Hịch tướng sĩ" của Cụ Trần Hưng Đạo: tất cả các tấm gương điển tích đều lấy từ Tàu chứ không thèm mảy may nói dến các dũng tướng VN thời trước Nhà Trần như Ngô Quyền, Lí Thường Kiệt. Thời Pháp đô hộ thì "Đồng hồ Tây làm ra có bao giờ sai" (lời ông Nghị trong tác phẩm "Tắt Đèn" của cụ Ngô Tất Tố dù nó sai hàng tiếng đồng hồ so với tiếng chuông báo giờ của nhà ga xe lửa). Xin đừng cứ hở một tí thì đổ lỗi cho CS.

    Người Việt khinh ngườì Việt là hiện tượng mình tự khing mình, tức là mình biết những điểm yếu, thói xấu của mình. Có biết thì mới sửa được. Người mình khinh người mình, nhưng tôi chưa hề thấy ai nói rằng người Việt ngu dốt cả, không biết đây là điều vui hay buồn?
    Có một điều tôi thấy rất nguy hiểm là người Việt thù người Việt dẫn đến người Việt toàn giết người Việt thôi. Trước ta đánh nhau với Mỹ và miền Nam (gọi là Nam vì ở miền Nam chứ khối đân Bắc), nay chiến tranh kết thúc đã lâu, ta dã bình thường hóa quan hệ với MỸ, thế nhưng ta vẫn căm thù chế độ miền Nam và đối cxử tàn tệ với đồng bào miền Nam trước kia làm trong chính quyền Sài Gòn. Ngay người miền Nam với nhau họ cũng còn căm thù nhau.
    Tưởng mấy ông chủ tịch nước, thủ tướng là người miền Nam thì các ông ấy phải đối xử tử tế nhân đạo với những người miền Nam bị tù (gọi là người của chế độ cũ vì có cả người miền Bắc) nhưng không ngờ.
    Sao ta bình thường háo được với Mỹ mà ta không bình thường hóa được với người Việt chúng ta?

    [ Người Việt Khinh người Việt . . . Bạn có thấy vậy không? ]

    Thiết nghĩ "Người Việt Khinh người Việt " chỉ là một dạng khá cực đoan của hội chứng "Bụt chùa nhà không thiêng" mà ai / dân tộc nào cũng có nhiều hay it. Như (nghe nói) dân thượng lưu Nga thời Sa Hoàng dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau vì cho đấy mới là sang trọng, văn minh.

    Với người Việt, thường đồ ngoại vẫn có giá hơn. Nhỏ nhặt như trái dừa Xiêm, cái giường Lèo, hủ tiếu Nam Vang. Cũng nghe nói ở VN (miền Nam) dầu gió Miên đươc ưa chuộng; trong khi ở Kam thì dầu gió Chợ lớn lại rất có giá.

    người Việt khinh người Việt là một hệ quả của hang ngàn năm lịch sử. Xuất phát từ trãi nghiệm cay đắng của người nô lệ rồi nô dịch , bị đô hộ rồi nô dịch bởi cộng sản, người Việt là những cá thể cô đơn mà những tổn hại thường có lại do những người Việt khác ban cho. Trong chỗ người Việt với nhau rất hiếm khi người ta nhận được những điều tốt lành nên khinh bĩ hay thù ghét là điều khó tránh.

    Kết thúc bài so sánh giữa ta và Tây, cho là người mình coi Tây hơn, GS Hưng Quốc đặt câu hỏi:
    "Bạn có thấy vậy không?"
    Tôi xin trả lời ngay: Tôi không tin.
    GS Hưng Quốc chưa biết hết tình hình xã hội nước ta vì thời gian GS ở nước nhà ít quá (??) nên chưa tìm hiểu kỹ.
    Tôi xin đưa ra một thí dụ cụ thể là nhà nước mình có chinh sách ưu đãi người Việt hơn người Tây, đó là nếu bạn đi xe lửa thì người mình được ưu tiên trả tiền ít hơn Tây, nhiều cửa hàng, nhiều địa danh du lịch ghi rõ giá rõ giá dành cho người mình ít hơn giá cho Tây. Có cái người mình còn kỵ Tây nữa mà GS Hưng Quốc không biết, đó là xây nhà thì tránh hướng Tây. Gà công nghiệp có xuất xứ từ Tây, thế nhưng dân mình khoái gà quê hơn, giá gà quê made in Vietnam đắt hơn gà Tây nhưng dân mình vẫn mua gà ta.
    GS Hưng Quốc viết: "Trong khi đó chữ Nôm thì lúc nào cũng bị coi rẻ: nôm na mách qué." Chữ nôm có nguốn gốc từ chữ Hán, dân ta gọi là chữ Nho. Người dân bình thường không phân biệt được chữ nôm và chữ Hán, nên gọi chung hai thứ chữ này là chữ Nho. Thế thì làm sao "nhất bên trọng, nhất bên khinh được." Như vậy viết thế này "Trong khi đó chữ Nôm thì lúc nào cũng bị coi rẻ: nôm na mách qué" là không đúng. Nói "nôm na mách qué" là nói về nội dung tác phẩm.
    Truỵện Kiều của Nguyễn Du có nguồn gốc từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân là người Trung quốc. Cho nên dù Nguyễn Du có viết "mua vui cũng được một vài trống canh" chỉ là thái độ khiêm tốn chứ không phải là coi thường sản phẩm nôm na.
    Còn bản thân người Trung quốc cũng có câu "Ăn cơm Quảng Châu, ở nhà lầu, lấy vợ Nhật". Thế nhưng họ có coi thường dân tộc họ đâu. Họ vẫn tự hào hảo Hán đấy chứ.
    Kể chuyện nhân ngày 8-3: Niềm tự hào của phụ nữ Việt Nam
    Mấy bà ngồi bán hàng ngồi tán gẫu với nhau:
    - Đàn ông nước mình kém quá, cứ để mấy ông Tây tranh mất vợ.
    - Đúng đấy, thua xa chị em chúng mình. Đố bà Tây nào tranh được chồng của mình.

    Thành ra, có thể nói thái độ người Việt tự khinh người Việt, tiếng Việt và bất cứ thứ gì do người Việt làm ra có nguồn gốc sâu xa từ tâm lý thuộc địa. Hết thuộc địa của Tàu thì đến thuộc địa của Tây.
    He...He...He Bây giờ thì tôi được hiểu thêm về một góc trời khác có sự khác biệt hay không với quan điểm tiếng mẹ đẻ của mình?. Hệt như chỗ tôi đang khắc khoải, lay lắt sống đây, đa phần người ta có tiếng tây thì "tây u", tiếng việt thì "việt mù", thảm quá chẳng thể nào nói hết được chỉ có sự sung sướng, hãnh diện làm "vịt cừu" khi về quê thăm gia đình(trong túi có tiền trợ cấp xã hội) thì không bút nào tả xiết. Hệ quả của trăm năm trồng người đấy Hu!!! Hu!!! Hu!!!: Ối ông râu ơi là ông râu.