Nguyễn Hưng Quốc - Văn hoá bạo động

  • Bởi Admin
    03/03/2015
    2 phản hồi

    Nguyễn Hưng Quốc


    Trên đường, quẹt xe nhau một tí: dừng lại chửi bới nhau, thậm chí, thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Trong quán nhậu, giữa những lúc ồn ào hò la dzô dzô, bỗng dưng nỗi quạu, nhào tới vung tay thọi nhau chí choé làm náo động cả quán.

    Tôi có một sinh viên người Úc rất mê Việt Nam. Cứ hễ có chút tiền là anh ấy bay đi Việt Nam. Mỗi năm đi Việt Nam ít nhất một lần. Tôi hỏi: Anh mê nhất ở Việt Nam điều gì? Anh đáp: Tình người. Anh khen người Việt Nam thân thiện và hiếu khách, lúc nào cũng cười, và khi cần, sẵn sàng giúp đỡ anh, một người ngoại quốc chỉ bập bẹ được đôi ba câu tiếng Việt hết sức đơn giản. Khi tôi hỏi tiếp: Có gì anh không thích ở Việt Nam? Anh đáp: tính bạo động. Anh thường xuyên thấy cảnh người Việt gấu ó và đánh lộn với nhau. Trên đường, quẹt xe nhau một tí: dừng lại chửi bới nhau, thậm chí, thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau. Trong quán nhậu, giữa những lúc ồn ào hò la dzô dzô, bỗng dưng nỗi quạu, nhào tới vung tay thọi nhau chí choé làm náo động cả quán. Anh cho đó là một nghịch lý mà anh không hiểu tại sao. Anh băn khoăn hỏi tôi: Tại sao như vậy?

    Đó cũng là câu hỏi thỉnh thoảng tôi tự đặt ra với chính mình. Về tính thân thiện của người Việt, chúng ta khỏi cần bàn: Nó khá hiển nhiên. Nhưng còn sự hung hãn? Cứ mở bất cứ tờ báo nào ra, chúng ta cũng thấy những bản tin về chuyện người Việt Nam đánh lộn với nhau, có khi gây tử vong, chỉ vì những duyên cớ hết sức nhỏ nhặt. Trong lễ hội đền Gióng tại huyện Sóc Sơn, Hà Nội vừa rồi, cả hàng trăm người nhào tới cướp hoa tre để lấy may mắn; từ giành giật dẫn đến xô xát; và khi xô xát, người ta dùng cả gậy gộc để phang thẳng vào đầu nhau khiến lễ hội đáng lẽ rất linh thiêng trở thành một cuộc hỗn chiến nhếch nhác, người thì u đầu người thì sứt trán. Cũng theo báo chí trong nước, từ ngày 27 tháng chạp đến mồng bốn tết Ất Mùi vừa qua, trong cả nước có 6.200 người phải đưa vào bệnh viện cấp cứu chỉ vì đánh nhau. Những người đánh nhau ấy có khi là bạn bè của nhau. Cứ rượu vào thì lời ra; lời, đến mức nào đó, nghe chói tai, thế là người ta nhào đến vung tay vung chân hạ gục nhau. Có khi tay chân không đủ, người ta sử dụng cả vũ khí nữa.

    Trong phạm vi gia đình, chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp những hành vi bạo động như vậy. Nặng thì đánh đập nhau: một hình thức bạo động bằng vũ lực; nhẹ thì dùng lời nói để làm nhục nhau: một hình thức bạo động bằng ngôn ngữ. Cả hai hình thức bạo động ấy không chỉ xảy ra giữa vợ chồng, anh em, mà còn xảy ra giữa bố mẹ và con cái.

    Vấn đề là: tại sao người Việt Nam lại hung hãn đến như vậy? Tôi ngờ là đằng sau những sự hung hãn ấy là một thứ văn hoá, tạm gọi là văn hoá bạo động.

    Có thể định nghĩa văn hoá bạo động là niềm tin hay nếp nghĩ cho rằng các xung đột chỉ có thể được giải quyết thông qua bạo lực. Trong xã hội loài người, ở đâu và thời nào cũng có các xung đột hoặc về lợi ích hoặc về tư tưởng và tính tình. Để giải quyết các xung đột ấy, người ta có nhiều biện pháp khác nhau. Trong văn hoá bạo động, các biện pháp ưu tiên hàng đầu là thượng cẳng chân hạ cẳng tay.

    Đặc điểm đầu tiên của văn hoá bạo động là người ta không có thói quen giải quyết xung đột và mâu thuẫn bằng các biện pháp thương thảo. Tôi sống ở Tây phương khá lâu, tôi nhận thấy điều này: khi có điều gì bất hoà hoặc bất đồng, người ta thường ngồi lại với nhau để phân tích ai đúng ai sai. Giữa vợ chồng hay giữa bố mẹ và con cái hay giữa bạn bè với nhau, người ta đều làm vậy. Sau khi phân tích, người có lỗi nhận lỗi và người kia thì cũng bỏ qua, mâu thuẫn và xung đột coi như được giải quyết. Ngoài xã hội cũng vậy. Thỉnh thoảng tôi thấy các cảnh cãi cọ nhưng hiếm khi nào thấy cảnh người ta ẩu đả với nhau. Có. Đâu đó vẫn có cảnh đánh lộn. Nhưng mức độ chắc chắn là rất ít. Trong các dịp lễ hội tại Úc, ví dụ, trong các đêm giao thừa, có khi cả triệu người đổ xô xuống đường, nhưng hiện tượng ẩu đả nhau khiến cảnh sát phải can thiệp rất hiếm, có khi hoàn toàn không có.

    Đặc điểm thứ hai của văn hoá bạo động là sự thiếu vắng niềm tin vào lý lẽ và vào luật pháp. Lấy ví dụ về những chuyện đụng xe với nhau. Ở Úc, tôi từng chứng kiến cảnh xe cộ đụng nhau khá nhiều lần. Chưa bao giờ tôi thấy cảnh người ta đánh nhau hay cãi cọ với nhau. Thường, người ta chỉ ghi bằng lái và số xe của nhau. Tất cả các phần còn lại đều do các hãng bảo hiểm hoặc, trong những trường hợp trầm trọng, do toà án giải quyết. Người ta không cần sử dụng bạo động trong ứng xử hoặc trong ngôn ngữ vì người ta tin vào luật pháp, tin vào lý lẽ. Ở Việt Nam thì khác. Trong các vụ đụng xe, hầu như không ai tin vào những thứ ấy. Người ta giành quyền giải quyết chuyện thắng thua ngay tại chỗ. Và bằng sức mạnh của nắm đấm.

    Với hai đặc điểm nêu trên, văn hoá bạo động có gốc rễ từ bản năng của con người, đặc biệt, khi bản năng ấy chưa được thuần hoá bằng giáo dục và bằng nếp sống văn minh đặt trên nền tảng của lý trí và luật pháp. Có lẽ ngày xưa, ở đâu người ta cũng có thứ văn hoá bạo động như vậy. Tuy nhiên, ở những nơi lý trí và luật pháp được coi trọng, thói quen tranh luận và thương thảo đã thành nếp, văn hoá bạo động dần dần nhạt đi, những cảnh ẩu đả vì những lý do vu vơ dần dần giảm xuống.

    Ở Việt Nam, văn hoá bạo động không những không giảm thiểu mà còn bộc phát mạnh mẽ. Theo tôi, điều này có thể được giải thích bằng hai nguyên nhân: Thứ nhất, đó là di sản của chiến tranh, một biến dạng của văn hoá chiến tranh trong thời bình. Trước, suốt bao nhiêu năm chiến tranh, ở bất cứ phe nào, người ta cũng khuyến khích văn hoá bạo động, sử dụng bạo động để giành chiến thắng. Riết, thành thói quen trong nếp nghĩ và trong cách hành xử. Thứ hai, quan trọng hơn, người ta không tin vào pháp luật. Nguyên nhân của việc không tin vào pháp luật là chính chính quyền cũng không tin và không hành xử theo pháp luật. Bởi vậy, để giảm thiểu văn hoá bạo động, mọi người, bắt đầu từ giới có quyền lực, phải sống theo luật pháp.

    Người xưa thường nói: thượng bất chính, hạ tắc loạn. Văn hoá bạo động tại Việt Nam hiện nay, do đó, xuất phát từ sự bất chính của giới lãnh đạo. Không thể thay đổi điều gì được nếu không bắt đầu thay đổi từ gốc: chính quyền.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Những ai xem phim Hong Kong hay phim lịch sử Trung Hoa chắc dễ đi đến nhận định rằng người Á Đông rất bạo lực. Người Việt Nam thừa hưởng tính khí chung của khu vực. Nếu cần phân tích và tìm hiểu, các vị học giả đương thời cũng nên tìm hiểu các tác giả Á Đông ngoài Việt Nam về các căn nguyên của bạo lực.

    Tôi không có lời giải thích theo kiểu học thuật, nhưng tự nhìn vào bản thân mình cũng phải nhìn nhận là có một thời trẻ chứa đầy bực tức và bạo lực. Dường như tôi đã bắt chước cách bày tỏ giận dữ của nhiều người lớn trong gia đình và trong trường học. Hầu hết các ông thầy trung học đệ nhất cấp của tôi đều bày tỏ thẩm quyền bằng giọng nói sừng sộ khi cần và bắp thịt tay được nối dài bằng cây thước gỗ 1 mét. Thần tượng của tôi thời trẻ là Dã Tượng và Yết Kiêu, những lực sĩ. Tôi đồ chừng thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay nhiều em sùng bái Lý Tiểu Long và Lý Liên Kiệt, những võ sĩ.

    Nếu có thể giúp soi sáng được gì cho các cuộc bàn luận ở đây, tôi chỉ có thể nói rằng tôi rũ sạch được thái độ sẵn sàng đọ sức khi hiểu rằng mình không cần phải chứng minh mình mạnh hơn kẻ khác thì mình mới có giá trị làm người. Để chứng nghiệm được giá trị làm người của mình, có lẽ mỗi người sẽ cần phải đi những con đường riêng, đại để có liên quan đến sự nghiệp, mái ấm gia đình, sự phát triển tri thức, mạng lưới giao tiếp xã hội, v.v. Nếu con đường ấy trắc trở, lạc lối, có lẽ hành giả sẽ không thể, hoặc rất lâu mới dứt được cơn bực bội triền miên. Còn cơn bực bội ấy, họ sẵn sàng thượng cẳng chân hạ cẳng tay với những kẻ yếu hơn mình khi có dịp.

    Tôi đồng ý với phân tích của tác giả Nguyễn Hưng Quốc về cái gọi là "văn hoá bạo động" (culture of violence) hiện nay ở VN. Từ "văn hoá' ở đây có ý cho rằng "bạo động" là một phần của các sinh hoạt xã hội. Ở Mỹ cũng có quan điểm cho rằng các tiểu bang phiá nam có "văn hoá bạo động" vì có tỷ lệ tội phạm mang tính bạo động cao, các chính sách công có tính bạo động như án tử hình nhiều nhất tại ba tiểu bang phiá nam (Texas, Louisiana, Georgia), và tỷ lệ tư nhân giữ súng cao hơn ở những tiểu bang phiá bắc.

    Ngày nay, từ bạo động (violence) không chỉ dùng cho bạo động vể thể chất (physical violence) mà còn được dùng để chỉ các hành vi hay chính sách đưa đến thiệt hại về sức khoẻ và nhân mạng của dân chúng. Thí dụ, những sự vi phạm an toàn môi sinh gây ra bệnh tật hay làm chết người, những sự cạnh tranh khốc liệt và bất hợp pháp làm giết chết đối thủ, các sự vi phạm luật an toàn lao động gây ra nguy hiểm cho sức khoẻ cho công nhân đều bị coi là "bạo động."

    Theo cách dùng từ bạo động một cách rộng rãi như trên thì VN hiên nay quả là có "văn hoá bạo động." Đầu tiện là việc xử dụng ngôn ngữ từ chính quyền và các cơ quan truyền thông thuộc chính quyền ( bọn phản động, thế lực thù địch) và các chính sách của chính quyền để đối phó với những thành phần được coi là chống đối, như xử dụng vũ lực với người biểu tình, với dân oan; tra tấn những người bị bắt vào đồn công an; đe doạ và dùng vủ lực, kể cả xã hội đen (đầu gấu) để ngăn cản người dân thực thi dân quyền và nhân quyền. Ngoài ra, ngôn ngữ thời chiến vẫn được tiếp tục dùng như từ "tư lệnh" để chỉ các ngươì lãnh đạo trong lãnh vực dân sự.

    Trong dân chúng, ngôn ngữ bạo động (chửi bới) được xử dụng trong giao tiếp hàng ngày, đến nỗi có cả quán ăn mang "hỗn danh" là "phở quát, cháo chửi" mà vẫn đông khách chứng tỏ người dân chấp nhận thứ ngôn ngữ "bạo động" này. Chửi thề không những từ người lớn mà ngay cả trẻ em, mở miệng ra là "đ .i. t" và "đ . é .o" rất tự nhiên và thoải mái.

    Ngoài ngôn ngữ bạo động, hành vi bạo động cũng rất phổ biến. Những câu chuyện về đánh nhau chì vì mâu thuẩn xuất phát từ cọ quẹt xe, hay những chuyện nhỏ nhặt khác là thí dụ điển hình. Đó lá chưa kể trong gia đình vợ chồng đánh nhau, cha mẹ đánh con, trong truờng học cô giáo đánh học trò nhan nhản. Một số người Việt khi đến định cư ở các nước phương tây ban đầu cũng đem theo các tập quán bạo động qua việc chồng đánh vợ hay cha mẹ đánh con, và có người rất ngạc nhiên và bực tức khi bị bắt vì họ cho rằng "đánh con là quyền giáo dục của cha mẹ."

    Tác giả Nguyển Hưng Quốc đã đưa ra hai cách giải thích là do ảnh hưởng của chiến tranh và sự thiếu tin tưởng vào luật pháp của người dân, tôi xin đưa ra thêm hai cách giải thích. Đối với việc chính quyền xử dụng bạo lực, nguyên nhân là do ở thể chế độc tài, vì bạo lục cần được xử dụng để trấn áp đối lập hầu giữ vững quyền lực. Đối với người dân, việc xử dụng ngôn ngữ bạo lục (chửi thề) là phản ứng với những bức xúc dồn nén từ năm này qua tháng khác mà không được giải quyết, lâu dần trở thành thói quen.

    Tóm lại "văn hoá bạo lực" xuất phát từ chính quyền rồi ảnh hưởng đến dân chúng. Do đó, việc sửa chữa "văn hoá bạo lực" cũng phải xuất phát từ chính quyền bằng cách chính sách và hành động mang tính dân chủ, trong đó có giáo dục và việc xử dụng luật pháp để giải quyết các mâu thuẫn môt cách hoà bình.