Lý Thuyết Của Thomas Samuel Kuhn - Cách Mạng Khoa Học - Sự Thay Đổi Khuôn Mẫu (Paradigm) - Phần 3

  • Bởi Trà Mạn
    12/02/2015
    0 phản hồi

    Cuốn sách "The Structure of Scientific Revolutions” của Thomas S. Kuhn ra đời năm 1962 (được bổ sung thêm “Lời bạt" trong lần xuất bản thứ hai năm 1970) là một sự bác bỏ có tính chất quyết định) quan niệm vốn có về sự phát triển của khoa học theo cách tích lũy đồng thời làm rõ bản chất của khái niệm “cách mạng khoa học" mà những cách hiểu trước đó chưa thể xem là thích hợp. Công trình này đã đưa ra một hình ảnh rõ ràng và đơn giản về sự phát triển của khoa học: Một khuôn mẫu (paradigm) (một cấu trúc cơ bản ổn định nảy sinh từ một số khám phá được chấp nhận bởi cộng đồng khoa học) xuất hiện rồi bị thay thế bởi một khuôn mẫu mới do trong quá trình nghiên cứu theo khuôn mẫu cũ đã xuất hiện những dị thường ngày càng phát triển sâu rộng dẫn đến khủng hoảng không thể khắc phục được, trong thời kỳ phát triển bình thường, khuôn mẫu định hướng và thúc đẩy toàn bộ sự phát triển của khoa học - khoa học chuẩn, cách mạng khoa học chính là sự thay thế khuôn mẫu cũ bằng khuôn mẫu mới.


    Thomas Samuel Kuhn (18-7-1922 – 17-6-1996)

    C. Cách mạng khoa học

    1. Bản chất của cách mạng khoa học

    Cách mạng khoa học là một giai đoạn phát triển không tích lũy trong đó một khuôn mẫu cũ được thay thế toàn bộ hay một phần bằng một khuôn mẫu mới không tương hợp.
    Tương tự như cách mạng chính trị được khởi đầu bởi sự nhận thức ngày càng rõ rệt hơn là thể chế đang tồn tại không còn là thích hợp để đáp ứng các vấn đề đặt ra bởi một môi trường mà một phần là do chính thể chế đó tạo ra, cách mạng khoa học đã nảy sinh từ sự nhận thức răng khuôn mẫu đang tồn tại không còn hoạt động một cách thích hợp trong việc thám sát một khía cạnh của tự nhiên mà bản thân khuôn mẫu trước đó đã dẫn đến.

    Chúng ta cũng lưu ý rằng không phải chỉ những thay đổi khuôn mẫu như những thay đổi mà Copernicus hay Lavoisier đã gây ra mà cả những thay đổi nhỏ hơn nhiều như việc khám phá ra tia X cũng sẽ được xem là cách mạng khoa học. Cách mạng khoa học chỉ cần là "cách mạng" đối với những người mà các khuôn mẫu của họ bị tác động bởi cách mạng, đối với những người ngoài cuộc, cuộc cách mạng đó dường như chỉ là một bộ phận bình thường trong quá trình phát triển của khoa học. Các nhà thiên văn học chẳng hạn có thể chấp nhận tia X chỉ như là một sự bổ sung cho kiến thức của họ vì khuôn mẫu của họ không bị tác động bởi việc khám phá ra bức xạ mới. Nhưng đối với những người như Loạt Kelvin, W.Crookes và W. K.Roentgen mà lĩnh vực nghiên cứu của họ là lý thuyết bức xạ thì sự xuất hiện của tia X lại là một sự vi phạm khuôn mẫu vì nó tạo ra một khuôn mẫu khác.

    Còn một điểm tương tự nữa sâu sắc hơn giữa cách mạng chính trị và cách mạng khoa học.
    Cách mạng chính trị nhằm vào việc thay đổi thể chế chính trị theo cách mà thể chế đó ngăn cấm. Để có thể thành công, cách mạng chính trị cần phải thủ tiêu một phần nào đó trong tập hợp thể chế để những thể chế khác có thể hình thành và phát triển. Lúc đầu khủng hoảng làm cho các thể chế chính trị bị yếu đi và số người xa lánh cuộc sống chính trị tăng lên. Sau đó khủng hoảng trầm trọng hơn và có nhiều cá nhân hơn đứng lên cam kết về một đề xuất cụ thể xây dựng lại xã hội trong một khung thể chế mới. Đến lúc này thì xã hội chia thành các phe đảng cạnh tranh nhau, một phe tìm cách bảo vệ tập hợp thể chế cũ, phe kia muốn thiết lập những thể chế mới. Khi sự phân cực đã xảy ra thì việc trông cậy vào chính trị không còn nửa, các phe đảng sẽ dùng đến các kỹ thuật thuyết phục quần chúng và thường là cá sức mạnh nữa. Mặc dầu cách mạng có một vai trò sống còn đối với sự phát triển các thể chế chính trị, vai trò này lại phụ thuộc phần nào vào những biến cố ngoài chính trị và ngoài thể chế.

    Giống như việc lựa chọn các thể chế chính trị cạnh tranh nhau, việc lựa chọn các khuôn mẫu cạnh tranh nhau là sự lựa chọn những kiểu không tương hợp trong cuộc sống cộng đồng. Do đặc tính này, việc lựa chọn không thể được xác định chỉ bằng những cách đánh giá mang đặc tính khoa học chuẩn vì những cách đánh giá đó ít nhiều phụ thuộc vào một khuôn mâu cụ thể mà khuôn mẫu này thì lại là đối tượng của sự lựa chọn. Lựa chọn khuôn mẫu do đó không thể tránh được là một cái vòng tròn: mỗi nhóm dùng khuôn mẫu của mình để bảo vệ khuôn mẫu của mình! Để ra khỏi cái vòng tròn đó, các nhóm buộc phải tìm cách thuyết phục những người khác về sự đúng đắn của khuôn mẫu của mình và, cuối cùng, khuôn mẫu sẽ được lựa chọn theo sự tán thành của cộng đồng khoa học, ngoài ra không có một tiêu chuẩn nào cao hơn thế. Như vậy, để thấy được vì sao vấn đề lựa chọn khuôn mẫu không bao giờ được xác định một cách duy nhất bằng logic và thí nghiệm, chúng ta cần phải xem xét bản chất của sự khác nhau giữa những người bảo vệ khuôn mẫu truyền thống và những người kế tục cách mạng của khuôn mẫu đó.

    Sự cạnh tranh giữa các hệ thống thiên văn Ptolemy và Copernicus từ nửa cuối thế kỷ XVI cho đến đầu thế kỷ XVII là một trong nhiều thí dụ cho thấy vai trò của nhân tố "cộng đồng" bên cạnh các nhân tố "duy lý" và “thực nghiệm" trong việc từ bỏ khuôn mẫu cũ trong lịch sử phát triển của khoa học. Vấn đề cần xem xét kỹ hơn là mức độ tác động của nhân tố “cộng đồng" là như thế nào.

    2. Tính tất yếu của cách mạng khoa học

    Sự phát triển của khoa học (tìm ra những cái mới lạ) theo cách hoàn toàn tích lũy là khó có thể xảy ra về nguyên tắc. Một khám phá mới - một cái mới không được dự kiến - chỉ xuất hiện nếu như những dự kiến của nhà khoa học về tự nhiên và các dụng cụ của ông ta được chứng tỏ là không còn đúng nữa. Và tầm quan trọng của khám phá thường là tỉ lệ với phạm vi và mức độ "ngoan cố" của dị thường báo hiệu khám phá đó. Sau đó, đương nhiên, sẽ có sự xung đột giữa khuôn mẫu đã phát hiện ra dị thường và khuôn mẫu mà sau này sẽ làm cho dị thường trở thành có tính quy luật. Ngoài cách đó ra, không có một cách thật sự nào khác mà theo đó khám phá sẽ được tạo ra.

    Đối với các phát minh - sự ra đời của các lý thuyết mới, lập luận cũng tương tự như trên và còn rõ ràng hơn. Các lý thuyết mới có kết quả một khi ra đời sẽ cho phép đưa ra những tiên đoán khác với các tiên đoán suy ra từ các lý thuyết trước nó. Sẽ không có sự khác nhau đó nếu các tiên đoán theo lý thuyết mới và theo lý thuyết cũ là tương hợp với nhau về logic. Tiên đoán mới sẽ bác bỏ tiên đoán cũ.

    Sự khác nhau giữa các khuôn mẫu nối tiếp nhau vừa là tất yếu vừa là không thể dung hòa dược. Sự khác nhau đó có thể là sự khác nhau về nội dung, thí dụ như là hạt đối với ánh sáng trong khuôn mẫu này và sóng trong khuôn mẫu thay thế nó. Sự khác nhau đó lại có thể là sự khác nhau về khoa học đã tạo ra khuôn mẫu. Đó là vì khuôn mẫu là nguồn của các phương pháp mà cộng đồng khoa học đã chấp nhận vào một thời kỳ nào đó, việc thay đổi khuôn mẫu do đó thường dẫn đến việc xác định lại khoa học tương ứng với nó. Từ đây một số vấn đề trước kia coi như không tồn tại hoặc tầm thường có thể trở thành có ý nghĩa khoa học đáng kế. Các tiêu chuẩn để phân biệt một giải pháp khoa học thực sự với sự suy đoán siêu hình hay trò chơi toán học cũng có thể thay đổi. Truyền thống khoa học chuẩn hình thành từ một cuộc cách mạng khoa học không chỉ là không tương hợp mà còn thường là vô ước với truyền thống trước đó.

    Học tập một khuôn mẫu, người ta nắm được lý thuyết, các phương pháp và các tiêu chuẩn, thường là hòa trộn với nhau không thể tách rời do đó khi thay đổi khuôn mẫu sẽ xảy ra sự thay đổi các tiêu chí xác định tính hợp pháp của các vấn đề cũng như các giải pháp đề xuất. Như vậy chúng ta rõ thêm điều đã nói trong mục trước là không thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh từ việc lựa chọn các khuôn mẫu cạnh tranh nhau căn cứ vào các tiêu chí của khoa học chuẩn.

    3. Cách mạng khoa học: sự thay đổi cái nhìn về thế giới

    Sự thay đổi khuôn mẫu, như vừa nói, có thể dẫn đến sự thay đổi - sự xác định lại - của khoa học đã tạo ra khuôn mẫu đó. Mặt khác, sự thay đổi của khuôn mẫu còn dẫn đến sự thày đổi của thế giới mà các nhà nghiên cứu đã “nhìn" nó vì "vị trí" nhìn đã thay đổi. Nói cách khác, sau cách mạng khoa học, nhà khoa học đứng trước một thế giới khác.

    Nhiều người có thể nghĩ rằng những gì thay đổi đối với một khuôn mẫu có thể chỉ là sự thay đổi cách giải thích của nhà khoa học đối với các quan sát mà những quan sát này thì đã được cố định bởi bản chất của môi trường và các dụng cụ dùng để nhận biết đối tượng. Priestley và Lavoisiel đều nhìn thấy oxy nhưng họ giải thích khác nhau về các quan sát của họ. Aristotle và Galileo cùng quan sát các con lắc nhưng khác nhau về cách giải thích cái mà hai ông đã nhìn thấy. Quan điểm này có cái đúng của nó song điều quan trọng là cần thấy rằng các cách giải thích đều dựa trên một khuôn mẫu đã được giả định từ trước. Chúng là những phần của khoa học chuẩn - những hoạt động mà nội dung là đi sâu vào chi tiết, mở rộng ra và làm rõ thêm một khuôn mẫu đã có. Giải thích chính là làm rõ khuôn mẫu song chỉ có thể là làm rõ khuôn mẫu chứ không thể "sửa lại" khuôn mẫu. Các khuôn mẫu là không thể sửa được bằng khoa học chuẩn. Khoa học chuẩn cuối cùng chỉ có thể dẫn đến thừa nhận các dị thường và khủng hoảng. Các dị thường và khủng hoảng sẽ kết thúc song không phải bằng giải thích mà bằng một biến cố tương đối bất ngờ, một "chớp sáng trực giác" nào đó.

    Nhà khoa học và cả những người khác đều hiểu biết về thế giới không phải theo từng phần của nó mà là trên toàn bộ. Sự thay đổi sự hiểu biết về thế giới khi thay đôi khuôn mẫu là sự thay đổi trên toàn bộ. Những người "sống và làm việc" theo khuôn mẫu Copernicus chẳng hạn, khi từ bỏ sự hiểu biết trước đó về Mặt Trời thì đồng thời cũng từ bỏ cái nhìn cũ về tất cả các thiên thể và về thế giới.

    4. Sự tiến bộ của khoa học

    Chúng ta đã nói đến sự phát triển của khoa học như là một quá trình bao gồm sự thay đổi một khuôn mẫu này bằng một khuôn mẫu khác nhằm loại bỏ những dị thường không thể khử bỏ được trong khuôn mẫu cũ. Vấn đề cần tiếp tục được bàn cãi là: Sự phát triển đó có phải là tiến bộ - một số tốt hơn lên - hay chỉ là sự thay đổi? Trong thời kỳ của khoa học chuẩn, các kết quả đạt được khi giải quyết các vấn đề được xác định bởi khuôn mẫu đã chấp nhận rõ ràng là một sự tiến bộ. ở đây không có vấn đề gì phải bàn cãi. Vấn đề lớn là cách mạng khoa học một khi được thực hiện có phải là một sự tiến bộ hay không? Sự thừa nhận nhân tố "cộng đồng" trong việc lựa chọn khuôn mẫu như đã nói ở trên cho phép ta đưa ra câu trả lời khẳng định cho vấn đề này.

    “Cộng đồng" chúng ta nói ở đây là "cộng đồng khoa học" - một nhóm khoa học chuyên nghiệp với những đặc điểm của nó. Nhà khoa học, thành viên của nhóm, hiển nhiên quan tâm giải quyết các vấn đề về sự diễn biến của tự nhiên. Anh ta có thể quan tâm đến tự nhiên trên quy mô tổng thể, song những vấn đề mà anh ta nghiên cứu phải là những vấn đề về chi tiết. Điều quan trọng hơn là những lời giải thỏa mãn anh ta không thể chỉ có tính chất cá nhân mà còn phải được chấp nhận bởi nhiều người khác, những người này không thể được lựa chọn một cách ngẫu nhiên từ xã hội mà phải là những người ngang hàng về nghề nghiệp với nhà khoa học trong một cộng đồng xác định. Có một quy tắc rất mạnh mẽ của cuộc sống khoa học không được viết ra là: cấm không được yêu cầu sự ủng hộ của những người đứng đầu Nhà nước hay của quần chúng nhân dân về phương diện nội dung khoa học. Các thành viên của một cộng đồng như vậy, do vừa là những cá nhân vừa là những người cùng chia sẻ kết quả đào tạo và kinh nghiệm, phải là những người sở hữu duy nhất về các quy tắc của trò chơi hoặc một số cơ sở tương đương về đánh giá không mập mờ. Nếu có ai nghi ngờ những cơ sở để đánh giá của những người như vậy thì điều đó có nghĩa là họ đã cho ràng có tồn tại những tiêu chuẩn không tương hợp về thành tựu khoa học. Sự "cho rằng” này không thể tránh được dẫn đến vấn đề chân lý trong khoa học có phải chỉ có một hay không.

    Những đặc điểm trên đây của cộng đồng khoa học đã được rút ra từ thực tiễn của khoa học
    chuẩn, song cũng đã tính đến nhiều đặc điểm của sự ứng phó của cộng đồng trong cách mạng khoa học và đặc biệt là trong tranh cãi về khuôn mẫu. Một cộng đồng với những đặc điểm như vậy chắc chắn phải thấy rằng thay đổi khuôn mẫu là tiến bộ.

    Một vấn đề cần xét thêm: Sự tiến bộ của khoa học, mà bây giờ chúng ta hiểu là sự thay đổi khuôn mẫu, phải chăng sẽ đưa chúng ta ngày càng gần hơn đến chân lý? Trong tác phẩm của Kuhn, câu trả lời không phải là khẳng định. Theo ông, "quá trình phát triển" như đã mô tả "là một quá trình tiến hóa từ những cái bắt đầu nguyên thủy - một quá trình mà các giai đoạn nối tiếp nhau được đặc trưng bằng sự hiểu biết ngày càng chi tiết hơn và tinh vi hơn về tự nhiên. Nhưng không một điều gì đã nói hay sẽ nói là làm cho nó trở thành một quá trình tiến hóa tiên đến một cái gì đó". Ông cũng nói thêm rằng quan niệm của ông về sự tiến hóa của các tư tưởng của khoa học tương tự như sự tiến hóa của các sinh vật trong lý thuyết của Darwin: chọn lọc tự nhiên do cạnh tranh giữa các sinh vật để sống còn có thể đã tạo ra con người, quan niệm này trái với lý thuyết tiền Darwin theo đó tiến hóa là một quá trình được hướng theo một mục tiêu. Giải quyết các cuộc cách mạng khoa học là, qua xung đột trong cộng đồng khoa học, lựa chọn cách phù hợp nhất để làm khoa học trong tương lai. Kết quả của một chuỗi những chọn lọc cách mạng như vậy, được ngăn cách bởi những thời kỳ của nghiên cứu chuẩn, là một tập hợp các công cụ được thích nghi hóa một cách kỳ diệu mà chúng ta gọi là kiến thức khoa học hiện đại. Các giai đoạn nối tiếp nhau trong quá trình phát triển đó được đánh dấu bằng sự gia tăng mức độ làm rõ và chuyên môn hóa. Và toàn bộ quá trình có thể xảy ra mà không cần phải có một mục tiêu được đặt ra, một chân lý khoa học cố định thường trực. Điều sau này còn cần phải bàn cãi nhưng đó là cả một lĩnh vực rộng lớn vượt ra ngoài phạm vi của bài này.

    TÓM TẮT

    Theo cách trình bày của Kuhn, chúng ta có bức tranh sau đây về sự tiến hóa của khoa học:

    1. Bắt đầu là sự hình thành khoa học chuẩn, là sự nghiên cứu dựa một cách kiên quyết trên một hoặc một số thành tựu khoa học mà một cộng đồng khoa học nào đó thừa nhận trong một thời gian như là nền tảng của sự hoạt động tiếp tục của cộng đồng.

    2. Các thành tựu mà sự nghiên cứu khoa học chuẩn dựa vào đó có hai đặc tính cơ bản: a) Rất đáng kể để có thể lôi cuốn một nhóm nghiên cứu theo nó và từ bỏ những hoạt động khoa học khác và b) Còn có những vấn đề để phát triển cho nhóm nghiên cứu theo nó. Những thành tựu có đủ hai đặc tính như vậy sẽ gọi là khuôn mâu.

    3. Một cách đầy đủ, "Khuôn mẫu là cái mà các thành viên của một cộng đồng khoa học chia sẻ, và, ngược lại, cộng đồng khoa học bao gồm những người [cùng] chia sẻ một khuôn mẫu. Lưu ý rằng "cộng đồng" có thể được tách riêng, không cần dựa từ trước vào "khuôn mẫu”, còn "khuôn mẫu” có thể được phát hiện nhờ xem xét kỹ lưỡng sự hành xử của các thành viên của "cộng đồng".

    4. Các hoạt động nghiên cứu khoa học chuẩn (theo khuôn mẫu mà cộng đồng khoa học đã chấp nhận để làm việc và để đào tạo ra những thế hệ nghiên cứu kế tục), thực nghiệm cũng như lý thuyết, bao gồm ba lớp vấn đề: a) Tìm kiếm và xác định những sự kiện có ý nghĩa, b) Đối chiếu các sự kiện với lý thuyết, c) Làm cho lý thuyết trở nên rõ ràng hơn. Khoa học chuẩn với các hoạt động như vậy mang tính tích luỹ, một sự mở rộng không ngừng phạm vi và độ chính xác của kiến thức khoa học.

    5. Khoa học chuẩn không đi tìm những cái mới lạ, về sự kiện cũng như về lý thuyết, những cái tưởng chừng như là "mới lạ" cuối cùng sẽ không tồn tại nếu như khoa học chuẩn thành công. Những sự kiện mới và lý thuyết mới sẽ là "mới lạ" nếu như chúng không thể được bao hàm trong khuôn mẫu đang sử dụng. (Khoa học chuẩn, mặc dầu có xu hướng lúc đầu là khử bỏ những cái mới lạ, lại là có hiệu quả trông việc làm xuất hiện những cái mới lạ).

    6. Khám phá khoa học là việc tìm ra cái mới lạ về sự kiện, còn phát minh khoa học là việc tìm ra cái mới lạ về lý thuyết. Khám phá khoa học bắt đầu với việc nhận ra dị thường, nghĩa là thừa nhận trong tự nhiên có một cái gì đó vi phạm những điều được chờ đợi dựa trên khuôn mẫu của khoa học chuẩn. Các khám phá do đó gây la hoặc góp phần làm thay đổi khuôn mẫu. Sự thay đổi này vừa có tính phá huỷ vừa có tính xây dựng. Trong trường hợp phát minh khoa học, sự nhận ra dị thường kéo dài hơn và phát triển sâu hơn, lĩnh vực chịu sự tác động của nó có thể được mô tả như là trong một cuộc khủng hoảng đang phát triển. Sự xuất hiện lý thuyết mới do đó đòi hỏi sự phá huỷ khuôn mẫu ở quy mô lớn hơn và sự thay đổi các vấn đề và các kỹ thuật của khoa học chuẩn ở mức độ cao hơn.

    7. Cách mạng khoa học là một giai đoạn phát triển không tích lũy trong đó khuôn mẫu cũ được thay thế toàn bộ hay một phần bằng một khuôn mẫu mới không tương hợp. Khuôn mẫu mới do đó được lựa chọn theo sự tán thành của cộng đồng khoa học, ngoài ra không có một tiêu chuẩn nào cao hơn.

    8. Sự khác nhau giữa các khuôn mẫu nối tiếp nhau là tất yếu và không thể dung hòa được. Truyền thống khoa học chuẩn hình thành từ một cuộc cách mạng không chỉ là không tương hợp mà thường là vô ước với truyền thống trước đó. Cách mạng khoa học - sự thay đổi khuôn mẫu - do đó đồng thời là sự thay đổi cái nhìn về thế giới.

    9. Quá trình thay đổi các khuôn mẫu là một sự tiến bộ là bởi vì cộng đồng khoa học có vai trò trong sự lựa chọn khuôn mẫu là một nhóm khoa học chuyên nghiệp có những đặc điểm riêng của nó không thể được lựa chọn một cách ngẫu nhiên từ xã hội.

    III - Một số ý kiến về công trình của T.S.Kuhn

    Dưới đây, chỉ ở mức minh họa, chúng tôi giới thiệu một vài tác giả có những ý kiến không tán thành điểm này, điểm khác trong công trình của Kuhn.

    Thí dụ như Granger, trong một cuốn sách xuất bản năm 1993 (ngoài bài viết "Epistémologie” trong Encyclopaedia Universalis năm 1992), ở chương "Sự tiến hóa của các chân lý khoa học", khi bàn về sự liên tục và sự gián đoạn trong lịch sử khoa học, đã cho rằng cần phân biệt hai loại gián đoạn: gián đoạn bên ngoài và gián đoạn bên trong. Gián đoạn bên ngoài là gián đoạn xuất hiện vào lúc một bộ môn có được hình thức của một khoa học (theo cách hiểu của Granger). Đó là một đột biến sâu sắc. Những hiểu biết tản mạn và không thể kiểm nghiệm được hoặc khó kiểm nghiệm, khá đột ngột, nhường chỗ cho một sự hiểu biết tương đối thống nhất trong ý đồ của nó trong hình thức của những vấn đề mà nó đặt ra, trong các phương thức của nó, trong các quy tắc kiểm nghiệm của nó. Chính sự biến đổi tổng thể đó về ý nghĩa của kiến thức - một "Vụ nổ lớn" nhận thức luận - đã làm xuất hiện cái mà Granger cho rằng có thể, theo như Kuhn, gọi là một "khuôn mẫu của khoa học. Trong khi đó, có những điểm mà Granger không đồng ý với Kuhn:

    - Những hình thức nối tiếp nhau của tư duy và thực hành khoa học mà Kuhn xem là những khuôn mẫu phân biệt nhau, thực ra, theo Granger, là bắt nguồn từ cùng một mô hình kiến thức cơ bản đã đạt được đúng vào lúc có sự gián đoạn căn bản như đã nói. Những biến thể bên trong đó, theo Granger, sẽ gọi là những khuôn mẫu con.

    - Kuhn đã quá nhấn mạnh tính chất bắt buộc từ ngoài của hình thức "chính thức" của khoa học mà ông coi là kinh điển hay trong trạng thái cân bằng. Các lực thể chế (khối các Nhà bác học, các Tạp chí khoa học, các Viện hàn lâm) có xu hướng giữ không đổi loại các câu hỏi, loại các câu trả lời, loại các phương thức của một khoa học đúng là có một vai trò nào đó đối với sự phát triển của khoa học đó, nhưng chính là đòi hỏi về liên kết nội tại của khoa học đã xác định một cách sâu xa hơn tính thống nhất của khuôn mẫu.

    - Lý thuyết về tính vô ước chỉ có ý nghĩa khi xét quan hệ giữa tiền khoa học (có thể hiểu là những khái niệm rất tổng quát như ý tưởng về nguyên tử luận của vật chất, ý tưởng còn mơ hồ về lực) và khoa học. Nó không có ý nghĩa khi xét các quan hệ lẫn nhau giữa các khuôn mẫu con - sản phẩm của những gián đoán bên trong xuất hiện sau khi đã hình thành khuôn mẫu chung cho toàn bộ tư tưởng khoa học của cùng một loại đối tượng.

    Trong bài mở đầu "Introductory essay: Scientific discovery and the future of philosophy of science” của tập công trình “Scientific Discovery, Logic, and Rationality", Thomas Nickles đã nói đến ba hướng (cũng đồng thời là ba giai đoạn) nghiên cứu về "Lý thuyết về khám phá khoa học".

    Trước hết, từ những năm 1930, Karl Popper và một số nhà thực chứng logic như Rudolf Carnap, Carl G. Hempel, Herbelt Feigl, những nhà phương pháp luận khoa học có ảnh hưởng nhiều nhất, đã nhấn mạnh rằng chỉ các vấn để về "xác nhận" (justification) (hoặc "khẳng nhận" - corroboration - trong trường hợp Popper) chứ không phải các vấn đề về “khám phá” là có vị trí trong nghiên cứu triết học.

    Tiếp theo, trên cơ sở nhận rạ vai trò quan trọng của lịch sử khoa học đối với triết học khoa học, về chủ yếu bắt đầu từ công trình của Thomas S.Kuhn năm 1962 và sự tranh cãi sau đó giữa Kuhn, Popper, Imre Lakatos và Paul Feyerabend, người ta đã đi đến nhất trí rằng sự xác nhận khoa học không phải là một quá trình logic rõ ràng như đã được các nhà thực chứng cổ điển và những người theo Popper quan niệm. Không có một logic chắc chắn đúng về xác nhận theo nghĩa có một tập hợp đơn giản các quy tắc logic về chấp nhận hay bác bỏ các lý thuyết. Thái độ ác cảm đối với việc coi xác nhận về khám phá là khác biệt do đó đã yếu đi và khám phá đã trở thành một chủ đề được chú trọng hơn của triết học.

    Đến nay thì các nhà triết học đã nhận thức được rằng bỏ qua các vấn đề về khám phá, đôi mới và giải quyết vấn đề (problem solving) có nghĩa là nói chung đã bỏ qua đa số các hoạt động và mối quan tâm của các nhà khoa học và trong nhiều trường hợp, đã bỏ qua không chỉ những pha hấp dẫn nhất của nghiên cứu khoa học mà còn là những pha có liên quan nhiều đến nhận thức luận. Những tác giả thuộc hướng nghiên cứu này có thể kể ra như Stephen Toulmin, Dudley Shapere, Herbert Simon...

    Người ta chờ đợi ở hướng nghiên cứu sau này một sự mô tả mới có thể thay thế sự mô tả của Kuhn và những tác giả có cùng quan niệm như ông về sự tiến hóa của khoa học.

    Một tác giả có thể nhắc đến là D.Shapere. Theo ông, Kuhn đã cho rằng có một tiền giả định hoặc một tập hợp tiền giả định ("khuôn mẫu” theo một cách nào đó chi phối mọi cái song toàn bộ lĩnh vực khoa học, cộng đồng hay truyền thống, tiền giả định đó không có và cũng không cần có. Song Shapere cũng nói rằng, một cách gần đúng, trong khi quan điểm của Kuhn là "tiền giả định luận tổng thể", nghĩa là cùng một tiền giả định hay khuôn mẫu chi phối tất cả các hoạt động hay ý tưởng trong truyền thống của khuôn mẫu, thì quan điểm của ông là hiền giả định luận địa phương", nghĩa là có thể có những tiền giả định khác nhau chi phối trong những hoàn cảnh khác nhau.

    Chúng ta còn có thể dẫn ra những ý kiến khác không tán thành Kuhn. Và rõ ràng là chúng ta có thể chờ đợi sự xuất hiện của một lý thuyết mới về sự tiến hóa của khoa học thay thế lý thuyết của Kuhn. Nói cách khác, nếu như lý thuyết của Kuhn có thể xem là một khuôn mẫu, khuôn mẫu đó sớm muộn sẽ bị phá bỏ. Nhưng, như đã trình bày ở trên, sự phá bỏ này chỉ có ý nghĩa nếu như có một khuôn mẫu mới thay thế nó. Sự thay thế này hiện nay chưa thấy được một cách rõ rệt. Cộng đồng khoa học chưa tìm ra "Popper thứ ba" của triết học khoa học.

    IV - Khả năng vận dụng các khái niệm của lý thuyết Kuhn sang các lĩnh vực kiến thức khác

    Các khái niệm "khuôn mẫu', "khoa học chuẩn", "cộng đồng"… trong lý thuyết của Kuhn đã được nhiều tác giả sử dụng để mô tả sự phát triển của một số lĩnh vực hoạt động. Để minh họa, ta có thể kể đến những cố gắng xây dựng một lý thuyết về phát triển công nghệ theo kiểu lý thuyết về cách mạng khoa học của Kuhn, trước hết lấy thí dụ công trình của Debackere và các cộng sự cách đây không lâu.

    Trước hết là việc xây dựng cho công nghệ một khái niệm tương tự như khái niệm "khuôn mẫu của Kuhn trong trường hợp khoa học. G.Diosi (1982) đã đưa ra khái niệm "khuôn mẫu công nghệ" được định nghĩa là "một mẫu hình (pattern) lời giải của các vấn đề kinh tế - kỹ thuật dựa trên những nguyên lý được chọn lọc ở mức cao rút ra từ các khoa học tự nhiên, kết hợp với những quy tắc đặc thù nhằm có được kiến thức mới và bảo vệ nó chừng nào có thể được khỏi bị nhanh chóng truyền bá sang những người cạnh tranh”. "Tiếp tục việc xây dựng, Diosi đã đưa ra khái niệm "quỹ đạo công nghệ" chỉ "hoạt động tiến bộ công nghệ theo sự thỏa hiệp về kinh tế và công nghệ được xác định bởi một khuôn mẫu”.

    Một nhóm tác giả khác, C. Freeman và C.Perez (1988), để mô tả những mẫu hình chung cho toàn bộ công nghiệp trong chu kỳ sóng dài, đã sử dụng một khái niệm khác: "khuôn mẫu kinh tế - kỹ thuật". Khái niệm này có thể nói rõ hơn là “khuôn mẫu kinh tế - kỹ thuật vĩ mô" để phân biệt với khái niệm "khuôn mẫu kinh tế - kỹ thuật vi mô" do E. S.Anderson (1991) đưa ra thể hiện sự nhất trí của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng và phần nào có thể lấy là các đặc tính kỹ thuật của các sản phẩm được giao chuyển.

    Như vậy, dựa trên các ý kiến trên, theo Debackere và các cộng sự, một cách thích hợp, ta có thể sử dụng thuật ngữ khuôn mẫu công nghệ và hiểu khái niệm này như là “mang đặc thù công nghiệp, đồng thời biểu thị một sự nhất trí không được nói lên giữa những người sản xuất và người tiêu dùng hay người sử dụng về bản chất của sản phẩm hay dịch vụ được giao chuyển và là cơ sở của cạnh tranh (công nghệ) đối với những người sản xuất”. Khuôn mẫu công nghệ với nội dung như vậy là cái mà nhà khoa học làm việc cho một xí nghiệp cần phải tính đến, xem nó như là tiêu chuẩn đế so sánh các kết quả làm việc của anh ta. Khái niệm này còn có thế được sử dụng để mô tả bản chất của sự cạnh tranh và tiến trình phát triền công nghệ của các xí nghiệp. Một khuôn mẫu công nghệ mới có nghĩa là một ngành công nghiệp mới và ngược lại, mặc dầu phải sau một thời gian mới có được sự đồng nhất giữa khuôn mẫu công nghệ mới và ngành công nghiệp mới.

    Một thí dụ khác về việc vận dụng khái niệm "khuôn mẫu” là công trình của Ruivo về chính sách khoa học. Qua phân tích một loạt công trình nghiên cứu đã có về sự phát triển của chính sách khoa học ở các nước khác nhau, tác giả này đã đi đến nhận xét là có một sự giống nhau ở mức độ cao về các quan điểm và công cụ chính được sử dụng trong chính sách khoa học của các nước. Do vậy có thể đưa ra khái niệm khuôn mâu chính sách khoa học để chỉ các giai đoạn phát triển khác nhau của chính sách khoa học. Tác giả cũng đã đưa ra lý do về sự tồn tại của những khuôn mâu như vậy. Đó là sự quốc tế hóa chính sách khoa học mà trong quá trình này vai trò có tính chất then chốt thuộc về các cơ quan liên Chính phủ.

    Các bài viết liên quan:

      Lý Thuyết Của THOMAS S.KUHN Cách Mạng Khoa Học - Sự Thay Đổi Khuôn Mẫu (Paradigm) - Phần 1
      Lý Thuyết Của THOMAS S.KUHN Cách Mạng Khoa Học - Sự Thay Đổi Khuôn Mẫu (Paradigm) - Phần 2

    Từ khóa: THOMAS S.KUHN

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi