Nguyễn Trần Bạt - Chúng ta có thể học gì từ người Nhật?

  • Bởi Admin
    05/02/2015
    6 phản hồi

    Nguyễn Trần Bạt

    Có thể nói, Việt Nam là một dân tộc có mối thiện cảm rất tốt đẹp với người Nhật Bản. Không phải chỉ có thế hệ hôm nay mà từ lâu rồi, chúng ta đã phát hiện ra Nhật Bản là tấm gương để chấn hưng đất nước của mình. Cụ Phan Bội Châu và Hoàng thân Cường Để - một trong những thành viên rất quan trọng của Hoàng tộc nhà Nguyễn đã nhận ra tấm gương ấy. Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế thế giới khủng hoảng, đất nước gặp nhiều khó khăn, chúng ta buộc phải có những thay đổi căn bản và quyết liệt. Nhìn nhận lại những bài học từ Nhật Bản là một việc giúp chúng ta có cái nhìn thực tiễn để bắt đầu cho sự đổi mới sâu sắc, toàn diện.

    1. Học tính quyết liệt trong cải cách đời sống chính trị

    Người Nhật có những đặc tính, những cách thức, những ưu điểm mà một dân tộc muốn phát triển không thể không có những thứ đó. Có thể nói, lịch sử hiện đại hoá nền chính trị, nền kinh tế và nền văn hóa Nhật Bản được tiến hành gần như song song hoặc nếu có chậm thì chỉ chậm hơn một chút so với việc thống nhất nước Mỹ. Còn ở Việt Nam chúng ta, mặc dù có Tự Đức là một vị vua tương đối tích cực, ông cũng có ý thức nhất định về việc đổi mới nền chính trị của đất nước, nhưng những đổi mới của ông mới chỉ là những dấu hiệu cải tiến về hình thức chứ chưa đạt đến sự thay đổi về bản chất. Trong khi đó, vua Minh Trị của Nhật Bản đã làm những cuộc cải cách lớn và triệt để cho nền chính trị Nhật Bản. Từ những cuộc cải cách này, Nhật Bản nhanh chóng vươn lên thành một cường quốc của thế giới. Đấy là một minh chứng cho thấy, chúng ta phải mạnh dạn nói rằng Việt Nam muốn ra khỏi tình trạng lạc hậu như hiện nay thì không có cách gì ngoài cải cách chính trị. Cho nên, học người Nhật trước hết là học tính quyết liệt trong cải cách đời sống chính trị, học sự dũng cảm của người Nhật trong cải cách chính trị theo hướng thừa nhận dân chủ.


    Người Nhật rất hiếu khách, cởi mở và chân thành

    Cải cách chính trị là động lực quan trọng nhất, cơ bản nhất, nền tảng nhất và quyết định nhất đối với toàn bộ tiến trình phát triển, và phải cải cách chính trị theo hướng dân chủ hoá một cách hợp lý. Tại sao tôi lại dùng chữ "hợp lý"? Bởi vì đấy là một việc đòi hỏi đầu tư rất tốn kém. Để có được nền chính trị tiên tiến, trước hết chúng ta phải đầu tư vào giáo dục, đầu tư vào việc xây dựng các thể chế, đầu tư vào việc cải cách các cơ sở hạ tầng cơ bản. Tất cả những việc ấy đều tốn kém cho nên chúng ta không thể làm ồ ạt được. Làm cho tiên tiến một khu vực nhưng trong khi đó không đầu tư thoả đáng để làm tiên tiến các khu vực khác thì các khu vực được ưu tiên ấy trở thành miếng mồi xâu xé và không chừng nó còn gây mất đoàn kết xã hội.

    Nhiều người cho rằng, trong khi cải cách chính trị là cải cách ở tầng trên và bao giờ cũng chậm hơn ở dưới thì người dân phải biết lách luật để tạo ra những điều kiện cho sự thay đổi từ dưới lên, ví dụ khoán 10 là cách lách luật của người nông dân. Nhưng tôi cho rằng, đối với thân phận của một dân tộc, giải pháp phải có chiều dài lịch sử thoả đáng và phải dựa trên những nguyên lý triết học thoả đáng. Không thể tạo ra một lộ trình phát triển ổn định của một dân tộc bằng cách nhặt những yếu tố hợp lý mà nhân dân nghĩ ra. Những sự lách luật như vậy có thể đạt được một số kết quả có tính chất thực dụng, nhưng nó tàn phá nền văn hoá tôn trọng nhà nước và pháp luật, nó tạo ra một xã hội cơ hội và vô kỷ luật. Nó biến nhà nước trở thành một kẻ chờ đợi sáng kiến xã hội và cung cấp một dịch vụ để hợp pháp hoá những cái đó, và gọi đấy là thành tựu chính trị. Làm sao gọi những thành tựu được tạo ra trong trạng thái vô chính phủ của đời sống xã hội là tiến bộ xã hội được? Nếu chúng ta tự hào vì việc ấy thì chính chúng ta tự xác nhận mình là những kẻ phản tiến bộ. Tại sao chúng ta lại có một hệ thống chính sách để chúng ta phải lách nó? Tại sao sự tiến bộ của chúng ta lại phải được tạo ra bằng cách phá vỡ kỷ luật nhà nước? Nếu xét về phương diện lý thuyết thì đấy là những giải pháp hoàn toàn không có giá trị phổ quát. Bởi đem so những lợi ích thu được từ việc lách luật với sự tàn phá hiệu lực của nhà nước, cái nào quan trọng hơn? Một dân tộc trên quy mô nhà nước cũng như trên quy mô các bộ phận nhân dân mà được đào tạo trong những tình huống vô kỷ luật như vậy thì nó phá vỡ tiêu chuẩn cao nhất của lịch sử phát triển văn minh nhân loại, đó là sự tôn trọng các trật tự công cộng. Vì thế, cải cách chính trị không phải được tiến hành bằng những sự lách luật, nó phải được hoạch định trên cơ sở những nghiên cứu khoa học và những mục tiêu cụ thể.

    Nhiều người e ngại thừa nhận dân chủ thì mất dần giá trị, bản sắc của nền văn hoá của mình, mất cả quyền lãnh đạo của mình, đấy là sự suy nghĩ của những kẻ lười nhác.

    Chúng ta đã thấy người Nhật không hề mất gì. Người Nhật trở thành một quốc gia phát triển nhờ sự dân chủ hoá xã hội của họ. Nếu không xác định được mục tiêu của cải cách chính trị ở Việt Nam là để dẫn tới dân chủ thì mọi cuộc cải cách, mọi sự đổi mới đều không có ý nghĩa. Dân chủ chính là xác lập những quy tắc công khai để kiểm soát quyền lực của nhà nước, bởi nếu nhà nước mà có quyền lực tuyệt đối thì mọi cố gắng đều không thể mang lại sự thay đổi nào đáng kể mà chỉ để giải quyết những vấn đề lặt vặt trước mắt mà thôi.

    2. Học cách tổ chức một xã hội nề nếp

    Trong xã hội chúng ta hiện nay, có một số ý kiến mặc định rằng đặc tính của người Việt Nam là quá tự do, không chịu chấp hành quy tắc, khi bị chỉ trích, người Việt Nam thường phản ứng trước mà không chịu lắng nghe. Trong khi đó đặc tính của người Nhật là rất quy chuẩn và luôn tuân thủ nguyên tắc. Với những đặc điểm ấy, phải chăng sẽ rất khó để người Việt áp dụng được những bài học của người Nhật. Tôi không nghĩ vậy. Chúng ta đã có những người Việt viết hoa, chúng ta đã có những người Việt có giá trị. Nếu tiếp xúc với những thế hệ trí thức được đào tạo vào những năm 30 của thế kỷ trước, bất kỳ ai cũng có thể thấy đấy là những mẫu mực về nhân cách. Tôi có mặt ở Hà Nội ngay sau năm 1954, tôi biết người Việt Nam ở những năm 50 của thế kỷ trước không như vậy, và cả trước đó cũng thế. Người Việt Nam đã từng có những nề nếp, những quy chuẩn cực kỳ chặt chẽ. Trong gia đình, những hành động từ lúc ăn cơm cho đến lúc đi ngủ, lúc ngủ dậy, lúc uống trà, đều có các tiêu chuẩn văn minh của nó. Người Việt Nam chúng ta trước những năm 50 đã biết khẳng định giá trị bằng chất lượng các dịch vụ của mình. Chúng ta đã từng có một nền văn minh đòi hỏi chất lượng các dịch vụ: chất lượng dịch vụ làm con, chất lượng dịch vụ làm cha, chất lượng dịch vụ làm mẹ, chất lượng dịch vụ làm vợ, chất lượng dịch vụ làm quân, chất lượng dịch vụ làm quan. Tất nhiên nó cũng thay đổi cùng với thời gian, đặc biệt vào thời kỳ sau này, nó thay đổi với tốc độ tha hoá rất nhanh. Sau Đổi mới, từ năm 1986 đến 1995, chúng ta đi từ một xã hội nhốn nháo sang một xã hội tương đối nề nếp. Lúc ấy, chúng ta có một không gian chính trị chưa thể gọi là hoàn toàn tiến bộ, nhưng đấy là một không gian có nề nếp. Nhưng từ 1995 đến bây giờ, dường như chúng ta không giữ được như thế nữa, chúng ta bắt đầu tha hoá lại. Gần đây xã hội của chúng ta trở nên hết sức nhộn nhạo, ngay cả kỷ luật quan trọng nhất là kỷ luật của đời sống chính trị cũng có nhiều vấn đề. Chúng ta đang sống trong một không gian chính trị không nề nếp, trong đó, nhiều người không ý thức được nghĩa vụ, trách nhiệm và các giới hạn.

    Tuy nhiên, hiện tượng nhốn nháo hiện nay là sản phẩm của một giai đoạn văn hoá, nó không phải là sản phẩm của riêng dân tộc Việt Nam, nó không phải là đặc tính của bất kỳ dân tộc nào, nó là kết quả của sự thiếu tự do. Chúng ta bừa bãi chứ không phải tự do. Tự do có cả mặt quyền và mặt nghĩa vụ. Tự do là một không gian đã được nhân tạo hoá để nâng đỡ cảm hứng sống và phát triển, nhưng đồng thời cũng kiểm soát sự lộng hành. Cho nên phải nói rằng về mặt hình thức, đấy là một hiện tượng suy thoái như những gì chúng ta quan sát được, còn về bản chất, sự suy thoái ấy là do chúng ta đã phá vỡ các tiêu chuẩn văn minh mà xã hội từng có bằng chính trị. Chính trị đóng vai trò rất lớn trong việc xúc tiến sự tha hoá cũng như sự tiến bộ trong đời sống văn hoá, trong đời sống dân sự, cả trong nề nếp sinh hoạt của khu vực công cũng như khu vực tư. Vì thế, cần phải cải cách thoả đáng đời sống chính trị để xây dựng lại ý thức tôn trọng trật tự công cộng, trong đó bao gồm cả trật tự sinh hoạt và trật tự văn hoá. Người ta phải biết kính trọng người cao tuổi, biết thương yêu trẻ con, biết kính trọng người tài, biết xấu hổ về việc mình dốt. Tóm lại phải biết hành động mà nền tảng của hành động là chính trị.

    Tôi nghĩ rằng không có bất kỳ cách gì để giữ gìn nề nếp, để giữ gìn nhân cách, để xây dựng một xã hội nề nếp nếu không bắt đầu từ cải cách chính trị. Không có cách gì trì hoãn cải cách chính trị mà có thể phát triển đời sống tinh thần của dân tộc để chúng ta trở thành một dân tộc đáng kính trọng. Nếu chúng ta không nhận ra điều ấy thì chúng ta không biết cách để phục hồi lại những giá trị đáng quý của dân tộc mình. Tất cả những việc đấy, người Nhật đã làm như một tấm gương. Người Nhật tiến hành dân chủ hoá xã hội nhưng trong mọi cải cách, người Nhật vẫn giữ được những trật tự khẳng định tiêu chuẩn và khẳng định chất lượng của nền văn hoá Nhật Bản, vẫn giữ được chữ "Lễ". Lễ như một quy tắc giao tiếp để khẳng định những tiêu chuẩn xã hội. Tuy "Lễ" chỉ là hình thức nhưng chúng ta buộc phải làm và phải bắt đầu từ đấy.

    Học người Nhật, chúng ta phải học tính cội rễ của họ trong cải cách chứ không phải học việc lắp ráp những yếu tố có vẻ hợp lý vào thời điểm hiện nay. Học người Nhật là học cách tổ chức ra nền tự do trong những điều kiện nó không xâm hại và không làm biến mất những đặc trưng văn hoá. Tự do chính là công nghệ để trả lại cho con người năng lực hình thành những nhân cách thoả đáng với tương quan giữa họ và những dân tộc khác trên thế giới. Người Nhật biết tổ chức ra tự do trong điều kiện văn hoá của họ và họ thành công. Người Nhật là một trong những dân tộc thông minh để giữ được mình mà vẫn tự do, đấy là kinh nghiệm lớn nhất. Và những kinh nghiệm của người Nhật chỉ cho chúng ta thấy rằng, tự do không tàn phá bất kỳ phẩm hạnh nào, đặc tính nào của bất kỳ dân tộc nào, tự do chỉ xúc tiến để những đặc tính ấy, phẩm hạnh ấy đạt đến ngưỡng phát triển của nó một cách tự nhiên.

    3. Học sự tôn trọng con người

    Khi nghiên cứu sự vi phạm về chất lượng của nền kinh tế và nền sản xuất ở các nước đang phát triển, tôi nhận ra rằng nguyên nhân chính là ở các nước này, nhân quyền chưa được tôn trọng. Có rất nhiều sự việc cho thấy điều ấy. Tại sao có hiện tượng bỏ melamine vào sữa, tại sao có hiện tượng nhiễm độc thực phẩm? Bởi vì con người không được giáo dục về nhân quyền, bởi vì con người chưa được tôn trọng. Hiện nay, chúng ta vi phạm những lợi ích của nông thôn, nông dân để đổi lấy một sự nghiệp công nghiệp hoá không có thành tựu. Về cơ bản, người tạo ra toàn bộ vinh quang cho hoạt động xuất khẩu của người Việt vẫn là người nông dân và người công nhân bán chuyên nghiệp có nguồn gốc nông dân, đó là những lực lượng cửu vạn trùng trùng điệp điệp. Và chính cuộc di dân vĩ đại đến các xí nghiệp ấy đã tạo ra các sản phẩm xuất khẩu mà chúng ta kể thành tích là xuất siêu. Bây giờ thử tìm xem liệu có người đô thị nào chấp nhận đi làm thợ may xuất khẩu đế lấy 700 – 800 nghìn/tháng không? Không có. Giai cấp công nhân quốc doanh mà chúng ta vẫn tự hào không tạo ra bất kỳ sản phẩm gì để xuất khẩu, còn giai cấp công nhân tạo ra thành tựu đổi mới, tạo ra thành tích xuất khẩu là giai cấp công nhân cửu vạn, đó là giai cấp hình thành bằng sự tàn phá cơ cấu xã hội nông thôn. Chúng ta thử nghĩ xem, trong điều kiện khủng hoảng, người nông dân không kiếm được công việc ở các đô thị công nghiệp nữa thì họ biết về đâu? Họ không thể quay trở về các sân golf được. Phải nói thật rằng đấy là một tình cảnh đáng khóc. Nhìn sang nước Nhật, chúng ta có thể thấy thái độ đối với con người của họ rất khác. Người Nhật không có những dòng di cư ngược như vậy, người Nhật chín chắn đến mức họ tạo ra giai cấp công nhân gắn bó với xí nghiệp đến mức thoái hoá. Con người lưu luyến công ty đến mức mấy thế hệ như vậy thì tức là chất lượng nhân văn trong chính sách xây dựng các công ty phải rất lớn. Tuy sự gắn bó mấy thế hệ ấy là tiền đề của sự thoái hoá năng lực sáng tạo và họ buộc phải cải cách lại một chút, nhưng về mặt công nghệ con người là họ đúng.
    Khi không tôn trọng nhân quyền và không giáo dục con người về nhân quyền thì người ta không thể sản xuất ra hàng hoá có chất lượng để phục vụ con người. Đã đến lúc chúng ta phải nhận thấy sự thiếu nhân quyền ảnh hưởng đến chất lượng của nền kinh tế và nền sản xuất như thế nào. Vì thế, học người Nhật, chúng ta còn phải học thái độ tôn trọng con người, tôn trọng nhân dân của họ. Điều này thể hiện rõ trong chính sách ưu tiên chất lượng hàng nội địa của Nhật Bản. Hàng nội địa Nhật Bản bao giờ cũng tốt hơn hàng xuất khẩu. Người Nhật ở nước ngoài thường về nước để mua đồ dùng. Thái độ, chính sách tôn trọng quyền ưu tiên của người sản xuất như vậy chúng ta không có. Người làm ra sản phẩm phải được ăn cái ngon nhất, dùng cái tốt nhất. Vì con người không quen sử dụng cái tốt nhất thì không thể sản xuất ra cái tốt nhất được. Trong lúc ô tô lắp ráp trong nước không bán được, chúng ta vẫn nhập khẩu những xe tốt cùng hãng ở nước ngoài về. Bởi vì Toyota xuất Mỹ khác Toyota xuất Châu Âu, Toyota xuất Châu Âu thì khác Toyota xuất Bắc Á, cuối cùng mới là Toyota xuất khẩu khu vực Đông Nam Á.

    Chỉ nguyên một chính sách sai là tạo ra một dòng nhập khẩu, tức là tạo ra lỗ hổng để nhập siêu. Cho nên khắc phục nhập siêu không phải là kìm hãm hàng nhập khẩu, mà là ưu tiên những hàng hoá chất lượng được bán với giá hợp lý trong thị trường nội địa. Chú trọng xây dựng thị trường nội địa, chú trọng xây dựng nền kinh tế bản thể để tạo ra sự ổn định của đời sống xã hội chính một trong những cách thức quan trọng nhất tạo ra tiền đề căn bản để con người được tôn trọng.

    4. Học sự kiên nhẫn và ý chí của người Nhật Bản

    Chúng ta đều biết rằng, sau chiến tranh thế giới thứ hai, là một nước thua trận, bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản có nỗi đau khổ, nhục nhã của một nước thua trận, thậm chí đã có hàng vạn người Nhật tự sát. Nhưng Nhật Bản là một dân tộc kỳ lạ, họ thắng ngay sau khi thua. Gạt bỏ nỗi đau của kẻ thua trận và thừa nhận những sai lầm của mình, người Nhật dồn toàn tâm toàn ý xây dựng lại đất nước của mình từ sau thế chiến thứ hai. Họ sáng suốt đến mức chấp nhận trở thành một quốc gia không còn quyền lực chính trị. Họ đã từ chối một số trách nhiệm chính trị, hay nói cách khác, họ ra khỏi cái tiếng của cường quốc chính trị để làm giàu cho đất nước của mình. Họ "cho thuê" nền chính trị một thời gian để làm việc của mình, và bây giờ, họ được mời trở lại như một cường quốc chính trị, được khuyến khích, được thúc giục trở thành một cường quốc chính trị.


    Người Nhật lao động chuyên cần, tận tâm và nhiều sáng kiến

    Học tập người Nhật là học tập sự kiên nhẫn của họ. Từ chối một số trách nhiệm chính trị đối với thế giới nhưng không phải người Nhật không ý thức được nghĩa vụ của họ đối với các vấn đề phát triển. Năm 1985, trong triển lãm xuất khẩu của Nhật ở Tokyo, ông Kyosera - chủ tịch hãng đồ sứ lớn nhất của Nhật có một bài diễn văn khai mạc mà tôi không bao giờ quên được. Trong đó, khi nói về khoa học công nghệ, ông ấy nói rằng người Nhật đã sử dụng những tiến bộ kỹ thuật của thế giới cho sự phát triển của nước Nhật, và đã đến lúc nước Nhật phải trả lại cho thế giới những gì mà nước Nhật đã lấy. Cho nên nước Nhật phải tiên phong, phải đầu tư vào những nghiên cứu cơ bản để đóng góp nghĩa vụ của mình trong việc phát triển nền khoa học thế giới. Nước Nhật có những con người ý thức được cả những chuyện như vậy. Chúng ta không phải không có những người tiên phong trong nhận thức, nhưng đôi khi chúng ta nhìn vào địa vị của người ta và bảo rằng anh không xứng để nói lên điều ấy mà không biết rằng, với tư cách là một nhà khoa học, người ta phải biết vượt qua các giới hạn. Nếu không có những con người bứt phá ra khỏi các giới hạn thông thường thì làm sao dân tộc chúng ta phát triển được? Người Nhật khiêm tốn nhưng họ đi hết từ giới hạn này đến giới hạn khác, họ phá vỡ mọi giới hạn để có những mặt vượt trên cả nước Mỹ, mặc dù họ ngoan ngoãn nằm dưới cái ô bảo hộ chính trị của nước Mỹ. Và người Mỹ kính trọng người Nhật vì họ biết rằng, ngoan ngoãn nấp dưới cái ô chính trị của nước Mỹ là một sự kiên nhẫn khổng lồ của một dân tộc có niềm tự hào ghê gớm. Học người Nhật chúng ta phải học cái tỷ trọng của lòng tự trọng dân tộc và cách thể hiện cơ bản là sự táo bạo trong ý nghĩ, sự kiên nhẫn và chăm chỉ trong làm việc.

    Chúng ta chưa thể nói chuyện học kỹ năng, vì chúng ta chưa có đủ phẩm chất để học ngay kỹ năng được. Chúng ta phải học cách hun đúc ý chí, hun đúc nhân cách của con người. Khi không giáo dục con người một cách toàn diện thì chúng ta sẽ có một cấu trúc xã hội không lành mạnh. Trên cơ sở cấu trúc không lành mạnh ấy thì không thể thiết kế ra chương trình phát triển nào lành mạnh được. Hiện nay chúng ta chưa có đội ngũ những nhà công nghệ thật, chúng ta cũng chưa có đội ngũ những nhà tài chính thật, vì thế chúng ta chưa tạo ra được lực lượng trụ cột cho nền kinh tế Việt Nam. Nhưng người Việt Nam có năng lực phục vụ những trụ cột, người Việt Nam nếu có được một hệ thống giáo dục tốt thì sẽ cung cấp nhân công rất tốt, nhân công như một phương tiện kinh tế để tạo ra sự phát triển của Việt Nam. Chúng ta hãy kiên nhẫn chờ đợi một giai đoạn để củng cố xã hội dưới dạng đào tạo ra những người lao động có chuẩn mực về văn hoá, có chuẩn mực về xã hội, có chuẩn mực về giao tế, có chuẩn mực về nghề nghiệp, trên cơ sở đấy chúng ta mới có thể nói tới các công ty thật được. Nói cách khác, trong khi chưa cạnh tranh được với tư cách là công ty thì người Việt Nam phải cạnh tranh với tư cách là người lao động. Khi xã hội chưa tham gia cạnh tranh với tư cách của những người lao động cá thể thì mọi công ty chỉ là những kẻ phiêu lưu ở sòng bạc thế giới mà thôi. Chúng ta chưa có đủ phẩm chất để cạnh tranh với thế giới. Có cạnh tranh chẳng qua là người thợ của chúng ta khéo, đóng được những đôi giầy theo đúng tiêu chuẩn, may được những cái áo đúng chuẩn mực, nhưng đấy mới chỉ là xuất khẩu những năng lực thô sơ của người Việt, chưa có sản phẩm Việt Nam. Chúng ta chưa có năng lực để tạo ra cả công nghiệp lẫn tài chính. Vì thế, chúng ta cần học tập ý chí của người Nhật, ý chí của họ hình thành và phát triển trong sự im lặng tuyệt đối của một dân tộc tự trọng. Không có sự yên tĩnh thì không có sự phát triển đích thực. Cái sai lầm của chúng ta là cứ tưởng thổi kèn to và đánh trống lớn thì tạo ra sự phát triển, đấy là sai lầm của một giai đoạn văn hoá.

    Kết luận

    Giai đoạn từ năm 2009 trở đi được coi là một giai đoạn nhiều thử thách đối với Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Trước những khó khăn thách thức của khủng hoảng, của hội nhập quốc tế mà chúng ta không có một bộ máy đủ chuyên nghiệp, không có một tổ hợp kiến thức đủ chuyên nghiệp, không có một sự chuyển động linh hoạt đủ chuyên nghiệp thì chúng ta không thể ứng phó được, không thể thành công được. Cần phải nhận thức được đòi hỏi ấy. Để làm được điều đó, chúng ta không có cách nào khác ngoài một sự cải cách, đổi thay quyết liệt.

    Chúng ta cần học hỏi những bí quyết, những bài học mà các quốc gia phát triển đi trước đã làm. Nhật Bản là một tấm gương, chúng ta học Nhật Bản để phát triển, và hơn thế, xây dựng mối quan hệ tốt với Nhật Bản chính là một trong những yếu tố giúp chúng ta cân bằng với các quan hệ quốc tế quan trọng và khó khăn khác trong khu vực.

    Nguồn: Bài viết năm 2009.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Viết mông lung toàn những thứ ai cũng biết rồi, nhưng làm theo không dễ đâu; nếu dễ thế thì có đâu một nước Nhật độc đáo trên thế giới như bây giờ :) Thế nhưng lại quên viết ra một điểu cần học nhất ở người Nhật là thái độ biết thân biết phận, biết người biết ta ... nhờ ăn bom hột nhân Mỹ, thấy hiến pháp Mỹ viết cho hay quá thì cứ thế dùng mãi đến bây giờ, lại còn tri ân nữa mới 'lạ' chứ ! Theo thiển ý cá nhân, VN cần được cho ăn vài quả hột nhân như Nhật biết đâu sẽ làm được như Nhật; giống như nhiều người chết đi sống lại bỗng dưng nói được tiếng nước ngoài :)

    Tôi đã từng nghe và coi Nguyễn Trần Bạt như một nhà văn hóa của làng bút Việt Nam ngày nay. Và rất tiếc mãi tới hôm nay mới được đọc bài viết của anh từ năm 2009, tôi tự an ủi mình rằng vì không phải chuyên nghiên cứu về vấn đề này nên không tránh khỏi lạc hậu.

    Các phần chủ yếu của bài đã được tác giả phân ra rõ ràng, rành mạch để người đọc hiểu là cần học cái gì từ người Nhật:

    1. Học tính quyết liệt trong cải cách đời sống chính trị
    2. Học cách tổ chức một xã hội nề nếp
    3. Học sự tôn trọng con người
    4. Học sự kiên nhẫn và ý chí của người Nhật Bản

    Sau khi đọc xong bài này tôi tự cho là mình cũng học được đôi điều căn bản. Tuy nhiên, có một số quan điểm của tác giả cần được phê phán, và tôi cũng áp dụng ngay phong cách mới học được từ người Nhật qua bài viết này là: quyết liệt. Chúng ta cùng đi qua những luận cứ mà tôi cho là cần phân tích cho rõ hơn:

    -‘’Nhiều người cho rằng, trong khi cải cách chính trị là cải cách ở tầng trên và bao giờ cũng chậm hơn ở dưới thì người dân phải biết lách luật để tạo ra những điều kiện cho sự thay đổi từ dưới lên, ví dụ khoán 10 là cách lách luật của người nông dân. Những sự lách luật như vậy có thể đạt được một số kết quả có tính chất thực dụng, nhưng nó tàn phá nền văn hoá tôn trọng nhà nước và pháp luật, nó tạo ra một xã hội cơ hội và vô kỷ luật. Nó biến nhà nước trở thành một kẻ chờ đợi sáng kiến xã hội và cung cấp một dịch vụ để hợp pháp hoá những cái đó’’

    -‘’ Làm sao gọi những thành tựu được tạo ra trong trạng thái vô chính phủ của đời sống xã hội là tiến bộ xã hội được? Nếu chúng ta tự hào vì việc ấy thì chính chúng ta tự xác nhận mình là những kẻ phản tiến bộ.’’

    -‘’Nếu không xác định được mục tiêu của cải cách chính trị ở Việt Nam là để dẫn tới dân chủ thì mọi cuộc cải cách, mọi sự đổi mới đều không có ý nghĩa. Dân chủ chính là xác lập những quy tắc công khai để kiểm soát quyền lực của nhà nước, bởi nếu nhà nước mà có quyền lực tuyệt đối thì mọi cố gắng đều không thể mang lại sự thay đổi nào đáng kể mà chỉ để giải quyết những vấn đề lặt vặt trước mắt mà thôi.’’

    Quý vị hãy cùng tôi xét quan điểm của tác giả:

    1-‘’Nhiều người cho rằng, trong khi cải cách chính trị là cải cách ở tầng trên và bao giờ cũng chậm hơn ở dưới thì người dân phải biết lách luật để tạo ra những điều kiện cho sự thay đổi từ dưới lên, ví dụ khoán 10 là cách lách luật của người nông dân. Những sự lách luật như vậy có thể đạt được một số kết quả có tính chất thực dụng, nhưng nó tàn phá nền văn hoá tôn trọng nhà nước và pháp luật, nó tạo ra một xã hội cơ hội và vô kỷ luật. Nó biến nhà nước trở thành một kẻ chờ đợi sáng kiến xã hội và cung cấp một dịch vụ để hợp pháp hoá những cái đó’’.

    Một cách quyết liệt, tôi khảng định anh Bạt sai. Trong bất kỳ một kiểu xã hội nào thì chính trị và các bộ máy của nó vẫn luôn thuộc thượng tầng kiến trúc và vì thế mà nó bảo thủ, và nó thay đổi chậm chạp; thực tế này đã diễn ra hàng ngàn đời bất luận anh có công nhận nó hay không. Luật pháp của một nước thuộc phạm trù chính trị, không thể nay thế này mai thế khác được mà chỉ có thể thay đổi sau khi đã được quốc hội phê chuẩn, chưa kể là trước khi đưa ra trình quốc hội, đề án về sự thay đổi đó cần một thời gian đủ dài để thai nghén.

    Từ bên dưới, hay nói chính xác hơn theo ngôn từ của chuyên ngành này là từ hạ tầng cơ sở, là nơi hàng ngày diễn ra mọi hoạt động sinh hoạt và sản xuất hay xuất nhập khẩu, nơi đó nẩy sinh vô số trắc trở, khó khăn. Đó là lý do tại sao hạ tầng cơ sở là nơi năng động, uyển chuyển. Mọi phát minh sang chế cũng từ đó và việc sử dụng hành lang an toàn của pháp lý cũng ở đó, anh gọi đó là lách luật hay vượt khỏi giới hạn an toàn luật là tùy. Ngày nay người ta đã tháo gỡ cái bảo thủ của pháp luật bằng một chương trình nghe có vẻ mới nhưng không biết mới được bao nhiêu, tôi chỉ biết rằng đây là một cách làm không tồi, đó là ‘’cởi trói cho doanh nghiệp’’.

    Cũng trong đoạn trích này, anh viết: ‘’Những sự lách luật như vậy có thể đạt được một số kết quả có tính chất thực dụng, nhưng nó tàn phá nền văn hoá tôn trọng nhà nước và pháp luật, nó tạo ra một xã hội cơ hội và vô kỷ luật.’’ Thưa, cùng với sự hình thành các cơ quan công quyền, nhà nước cũng lập ra các vụ viện làm công tác nghiên cứu, trong đó có nghiên cứu phát triển. Nhưng ngay sau khi thành lập và ăn tiền tài trợ của chính phủ thì chính các vụ viện sẽ trở thành những con ốc bảo thủ, mặt khác họ không đủ nhân lực để triển khai ở tất cả mọi nơi mọi lúc, vậy hỏi rằng có nên kỷ luật những người có tư duy sáng tạo nằm sẵn trong công chúng hay không? Có lẽ tôi viết quá thừa nếu như quý vị xem lại Nguyễn Mạnh Tuấn đánh phá vào các ‘’dây trói’’ của cơ chế như thế nào trong ‘’Đứng trước biển’’. Anh Bạt đã kết tội: ‘’tàn phá nền văn hóa tôn trọng nhà nước và pháp luật…’’, thật tiếc, tôi không thể thông cảm được.

    Cuối đoạn trích, anh kết luận: ‘’Nó biến nhà nước trở thành một kẻ chờ đợi sáng kiến xã hội và cung cấp một dịch vụ để hợp pháp hoá những cái đó’’. Thưa vâng, tôi cho rằng đây là một ý kiến rất đúng nhưng theo chiều ngược lại, vì chính xác nhà nước là một kẻ như vậy, kẻ đó phải tạo điều kiện để cho thần dân của mình lao động và sáng tạo, đáp ứng những đòi hỏi của thần dân, khi dân có sáng kiến thì biểu dương khen thưởng rồi khuyến khích áp dụng rộng thêm sáng kiến đó…Nhà nước ở tận trên cao nhìn xuống trăm họ, những sự kiện khi đến tai nhà nước thì đã chạy mất mấy ngày đường và qua bao nhiêu cầu phà, nếu không chấp nhận làm một kẻ như thế thì làm kẻ gì?

    2-‘’ Làm sao gọi những thành tựu được tạo ra trong trạng thái vô chính phủ của đời sống xã hội là tiến bộ xã hội được? Nếu chúng ta tự hào vì việc ấy thì chính chúng ta tự xác nhận mình là những kẻ phản tiến bộ.’’

    Ở đoan này anh Bạt chắc là bị lẫn tuổi già. Tôi lại phải nhắc rằng thực tế lao động sản xuất là cực kỳ phong phú và đa dạng, không thể dùng từ ‘’vô chính phủ’’ ở đây được, nhất là sau khi anh đã đưa ra ‘’Khoán 10’’ làm thì dụ trong bài viết của mình. Có thể anh đã nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích. Mục đích của lao động sản xuất làm làm ra của cải vật chất cho xã hội, mục đích của pháp luật là gì? Chắc chắn không phải để bắt nhân dân hay doanh nghiệp phải đi theo con đường đã được luật hóa, ít ra thì tôi có niềm tin như thế.

    Trong ý thứ 2 của đoạn trích này, anh nói: ‘’…chính chúng ta tự xác nhận mình là kẻ phản tiến bộ’’. Như tôi đã nói trong đoạn trích trước, nhà nước là một kẻ như thế, nếu không tạo điều kiện để phát triển lao động sáng tạo cao nhất ở cơ sở thì nhà nước chỉ còn là chính nó với định nghĩa nguyên thủy: Là kẻ thống trị, đặc trưng của nó là bảo thủ tức là một kẻ phản tiến bộ không hơn không kém. Sau hết, ngày nay nhà nước phải thừa nhận một cách vô điều kiện rằng mọi sáng tạo, mọi thay đổi đều bắt đầu từ cơ sở và sẽ quay lại phục vụ cho cơ sở, và trên cơ sở thừa nhận ấy thì nhà nước phải tạo điều kiện tối đa cho nó.

    3-‘’Nếu không xác định được mục tiêu của cải cách chính trị ở Việt Nam là để dẫn tới dân chủ thì mọi cuộc cải cách, mọi sự đổi mới đều không có ý nghĩa. Dân chủ chính là xác lập những quy tắc công khai để kiểm soát quyền lực của nhà nước, bởi nếu nhà nước mà có quyền lực tuyệt đối thì mọi cố gắng đều không thể mang lại sự thay đổi nào đáng kể mà chỉ để giải quyết những vấn đề lặt vặt trước mắt mà thôi.’’

    Trên khắp thế giới ngày nay, ai ai cũng nói chuyện dân chủ, khái niệm dân chủ bản thân nó đã quá cồng kềnh huống hồ từ khi bài viết này được chấp bút đến nay đã 6 năm. Tôi đã đọc nhiều lần đoạn này để xem anh Bạt có đả động gì đến ‘’phải làm như thế nào’’ hay không, nhưng không có. Nếu hỏi chính phủ hiện nay là có dân chủ hay không thì họ trả lời ngay là: nhà nước từ khi thành lập đến nay, vẫn luôn dân chủ với nhân dân, bên cạnh đó là những ví dụ cụ thể. Khi đó bạn có thể không hỏi được nữa vì bị thuyết phục, và theo ý của anh là: xác lập quy tắc công khai để kiểm soát quyền lực của chính phủ’’ thì hiện nay vẫn có.

    Gần đây ở Hồng Kong, nhân dân xuống đường đòi hỏi 1 điều rất cụ thể, đó là ‘’đòi ứng cử bầu cử tự do’’ tức là không đồng ý bầu cho những ai đã được Bắc Kinh chọn trước. Nhà chính trị trẻ tuổi nhất thế giới của Hồng Kong đã lãnh đạo các đồng chí của mình làm cách mạng dân chủ, nhưng mục tiêu đấu tranh của họ không phải là ‘’dân chủ’’ chung chung to như một cái đình làng, mà được cụ thể hóa như một viên gạch xây đình: ‘’không chấp nhận sự chọn lọc của Bắc Kinh trước khi bầu cử’’. Tôi rất khâm phục các bạn Hồng Kong ở chỗ này. Họ không ăn theo các nhà chính trị cấp lớn trên thế giới, mà tự lo việc của mình theo một cách rất riêng, đánh đúng vào cái giá trị mà Bắc Kinh vẫn coi là tối thượng bất khả xâm phạm của họ, đó là sự ‘’dàn xếp tỷ số’’ hay ‘’bán độ chính trị’’ đã tồn tại từ lâu.

    Tác giả hình như chưa hiểu rõ đặc điểm của người Nhật hoặc cách viết không rõ ý. Đức tính và thói quen cần học ở người Nhật là sự chi tiết và tỉ mỉ.

    Bài viết khá sâu sắc và logic dễ hiểu những vấn đề phức tạp về chính trị, văn hóa, XH.. của VN hiện nay. Hiện trạng bức tranh chính trị, kinh tế, văn hóa, XH VN là hỗn tạp, nhiễu loạn, mất phương hướng , sai quy luật phát triển XH . Tác giả đưa ra nhận định chính xác: "Không có cách gì trì hoãn cải cách chính trị mà có thể phát triển đời sống tinh thần của dân tộc để chúng ta trở thành một dân tộc đáng kính trọng.".

    Một bài với lập luận và phân tích thật thấu đáo và đích đáng. Cám ơn ông Nguyễn Trần Bạt!
    Nhưng những người Việt nam hiểu được như ông vẫn còn là số ít, nếu không muốn nói là một nhỏ nhoi thiểu số trong trùng trùng dân số. Và điều tệ hại nhất là những kẻ cần phải học nhất ở Việt nam hiện nay lại là những kẻ ít có nhu cầu, động lực và năng lực để học nhất. Bây giờ chỉ còn trông mong vào sự thức tỉnh linh hồn Việt của những cá nhân công dân, những ai không cam tâm làm công dân hạng hai của thế giới, những ai trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình chủ động học hỏi bất cứ thứ gì, từ bất cứ đâu mà mình cảm thấy có thể có ích cho bản thân và đất nước hôm nay và mai sau. Muốn có ngọn lửa thì trước hết phải có những đốm lửa. Còn hơn là ngồi chờ cho có cơ hội ứng dụng rồi mới đi học như ý kiến của bạn NIPPON ở trên kia.
    Khát nước mới đi đào giếng thì không bao giờ kịp.

    Học thì có vô số chuyện để học, không những từ nước Nhật mà còn từ những nước khác nữa.

    Câu hỏi là người Việt có thể ứng dung được những gì từ các bài học đó, và bằng cách nào?