Trần Huỳnh Duy Thức - Thư viết từ trại giam Xuyên Mộc: Thư 32A (Phần 2)

  • Bởi Gió Nghịch Mùa
    23/01/2015
    0 phản hồi

    Trần Huỳnh Duy Thức

    Xét về bản chất, mục tiêu của trào lưu cứng nói trên là nhằm giải phóng sức người, làm cho hiệu suất của nó tăng lên gấp bội bằng sự tiến bộ của khoa học. Còn mục tiêu của trào lưu mềm là giải phóng con người khỏi sự áp đặt của các kiểu cai trị bằng học thuyết chủ nghĩa, trao cho họ quyền tự do vận động cho lợi ích của mình. Ví dụ như ở Châu Âu, các học thuyết này là chủ nghĩa phong kiến thần quyền Thiên Chúa giáo, còn ở Nhật là chủ nghĩa phong kiến tập quyền Nho giáo. Từ những phân tích ở các phần trên ta thấy trào lưu mềm luôn đi trước và phải luôn được đảm bảo thì mới có được trào lưu cứng và mới tạo nên sự cộng hưởng hai trào lưu để tạo nên sự phát triển mạnh và bền vững. Nếu trào lưu cứng thực chất là các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thì trào lưu mềm chính là các cuộc cách mạng khoa học xã hội, hoặc nói đầy đủ là khoa học về phát triển xã hội. Ở thời kỳ đầu của kỷ nguyên này lượng hóa thạch, cũng là của Thời đại Kinh tế công nghiệp, các cuộc cách mạng khoa học xã hội này ở Châu Âu được thực hiện phổ biến bằng các phương thức cải cách chính trị, tôn giáo, kinh tế, văn hóa để thoát khỏi ảnh hưởng hoặc xóa bỏ chủ nghĩa phong kiến thần quyền. Vào thời kỳ kế tiếp, từ nửa cuối thế kỷ 19, các cuộc cách mạng khoa học xã hội này tập trung hẳn vào mục tiêu dân chủ hóa sâu rộng xã hội. Nước Nhật theo Dòng chảy sau Châu Âu nên họ khôn ngoan thực hiện cả hai phương thức trên cùng một lúc. Vì vậy mà trào lưu mềm của họ cuộn trào hình thành nên trào lưu cứng tuôn trào, tạo ra cuộc Duy Tân Minh Trị vĩ đại. Dù cứng hay mềm thì các trào lưu này đều là những xu thế của khoa học. Có như vậy mới tạo ra dòng chảy được. Có khoa học thì mới hiểu quy luật, thuận quy luật thì mới chảy được.

    Chính vì thiếu các trào lưu mềm nên lịch sử thế giới phát triển rất ì ạch trong thời đại Kinh tế công nghiệp, kéo dài gần cả chục ngàn năm. Thỉnh thoảng xuất hiện một vài trào lưu cứng để cải tiến sức người và vật bằng những công cụ thô sơ như sự phát minh chiếc bánh xe, những cỗ xe kéo bầy súc vật. Cũng có những thành tựu khoa học kỹ thuật nổi bật hơn ở TQ, Ai Cập, La Mã nhưng chỉ ở vào thời kỳ mà những nơi này chưa thiết lập nên các chế độ tập quyền độc đoán (TQ và Ai Cập trước năm 200 TCN) hoặc có được cuộc cách mạng dân chủ sơ khai đầu tiên trên thế giới (La Mã 505 TCN). Tuy vậy các trào lưu tiến bộ này không đứng vững được lâu dài và lan tỏa vì thiếu hẳn yếu tố khoa học về phát triển xã hội, không thế thành dòng chảy. Hầu hết các cuộc cách mạng xã hội trên toàn thế giới trong suốt Kỷ nguyên của sức người – tức Thời đại Kinh tế nông nghiệp là Cách mạng dân tộc. Đó là những cuộc cố kết lại của những tộc người có nhiều sự tương đồng về những yếu tố như màu da, tiếng nói, tôn giáo, văn hóa thành các dân tộc khác nhau. Sự khác nhau này được phận biệt bởi các yếu tố màu sắc rất nặng nề, tức là nặng về hình thức. Đó là còn những cuộc đấu tranh của các dân tộc này chống lại sự xâm lấn của các dân tộc kia, tạo nên những cuộc chiến triền miên tranh chấp đất đai và chiếm hữu nô lệ trên toàn thế giới. Đó cũng là những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở những nước nông nghiệp lạc hậu bị các cường quốc công nghiệp thuộc địa hóa. Nói chungg là các cuộc cách mạng dân tộc này rất thiếu vắng những yếu tố thực chất như là tự do, dân chủ. Cho nên dù có tạo ra được những trào lưu mạnh mẽ như phong trào giải phóng dân tộc vào nửa đầu thế kỷ 20 thì cũng không thể tạo nên được một trào lưu tiến bộ xã hội nào cả. Những cuộc cách mạng xã hội dưới màu sắc dân tộc như vậy hầu hết chỉ là thay một cái bình có màu khác, giống giống với rượu, còn rượu thì vẫn như thế. Vào cuối thời đại kinh tế nông nghiệp, chỉ có một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đồng thời dẫn đến sự thay đổi thực chất là cách mạng Mỹ 1776. Ngay sau khi thắng trong cuộc chiến giành độc lập từ Anh, người Mỹ bắt tay vào ngay cuộc cách mạng dân chủ. Trải qua hơn 10 năm vận động, đấu tranh gay go và có phần hỗn loạn. Hiến pháp Mỹ ra đời năm 1787 bảo vệ mọi quyền tự do cho người dân. Trào lưu mềm thắng thế và nhờ vậy mà họ có luôn Trào lưu cứng, tuôn mạnh mẽ vào Dòng chảy của Thời đại Kinh tế công nghiệp. Còn người Anh thì đúng là “phớt tỉnh Ăng – lê”, họ chẳng quan tâm gì đến hình thức sắc tộc, để cho Công tước Pháp William đánh bại vua người Anh của mình là Harold vào năm 1066. Rồi họ bảo William là nếu muốn làm vua thì ký cam kết bảo vệ quyền lợi cho họ tốt hơn vua trước. Thỏa ước thành công và cuối cùng họ biến một người Pháp không biết nói tiếng Anh thành người phục vụ cho quyền lợi của mình. Dân tộc Pháp và Anh thời đó như là chó với mèo. Dân tộc Anh chẳng vì thế mà mất đi, sau này còn vượt xa hơn Pháp, trở thành cội nguồn của Dòng chảy thời đại của Kinh tế công nghiệp. Một ví dụ khác cũng rất đáng suy nghĩ là trường hợp của Canada và Úc. Hai nước này không tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc như Mỹ để thoát khỏi sự đô hộ của Anh. Họ thỏa hiệp với người Anh là họ vẫn xem mình là thuộc địa Anh dưới sự trị vì của Vua/Nữ hoàng Anh trên danh nghĩa. Nhưng ngược lại người Anh phải trao lại quyền điều hành đất nước cho người dân của họ. Người dân sẽ bỏ phiếu để chọn người/đảng cầm quyền và để quyết định những quyết sách quan trọng của đất nước, kể cả quyền tiếp tục ở lại Vương quốc Anh hay tách ra thành nền cộng hòa độc lập, kết quả là 2 nước này trở thành quốc gia phát triển như thế nào thì ai cũng thấy, và giờ vẫn lệ thuộc danh nghĩa vào Vương quốc Anh, rôn Nữ hoàng Anh là người đứng đầu nhà nước của mình. Họ đạt được độc lập thực chất nhờ người dân có được tự do, dân chủ thực chất, không phải những hình thức trên danh nghĩa, từ ngữ. Đây là nền tảng để họ tạo nên trào lưu mềm, thúc đẩy ra trào lưu cứng rồi tham gia vào Dòng chảy Kinh tế công nghiệp, trở thành những quốc gia phát triển điển hỉnh của thế kỷ 20. Nói Úc, Canada là những quốc gia không độc lập, dân tộc họ lệ thuộc thì thật là buồn cười và kém hiểu biết. Ai nghe thì cũng bảo người nói là người ngớ ngẩn.

    Dân tộc là một vấn đề quan trọng và tất nhiên trong lịch sử phát triển của loài người. Nhưng khi người dân không biết đòi hỏi quyền lợi của mình một cách thực chất thì dân tộc chỉ là vấn đề màu sắc dễ dấn đến những cuộc đấu tranh sắc tộc và cũng dễ trở thành vỏ bọc danh nghĩa để chiếm đoạt quyền lợi của dân tộc, làm cho dân tộc trở nên lệ thuộc. Mục tiêu dân tộc không dẫn đến dân chủ. Nhưng mục tiêu dân chủ luôn bảo đảm những đòi hỏi về dân tộc. Lịch sử thế giới trong mấy ngàn năm của Thời đại Kinh tế nông nghiệp và hơn hai trăm năm của Thời đại Kinh tế công nghiệp đều cho thấy rõ rằng: Quốc gia nào, dân tộc nào cứ mải loay hoay với các mục tiêu dân tộc thì không những chậm tiến mấy ngàn năm mà còn bị diệt vong trong rất nhiều trường hợp. Và: các cuộc cách mạng dân tộc nếu không gắn thực chất với mục tiêu dân chủ thì rất dễ dẫn đến chiến tranh hoặc tái diễn chiến tranh làm cho dân tộc đó chìm ngập triền miên trong chiến tranh cho đến khi có một nền độc tài được thiết lập, đồng nghĩa với sự thiết lập tình trạng lạc hậu lâu dài.

    Vì vậy mà cho đến tận ngày nay, nơi nào trên thế giới mà vấn đề dân tộc còn chi phối các cuộc cách mạng xã hội thì nơi đó vẫn còn lạc hậu, vẫn còn trong thời đại kinh tế nông nghiệp dù vẫn tồn tại một số ngành công nghiệp khai thác tài nguyên hoặc gia công giá rẻ.

    Bản chất của Dòng chảy Thời đại mới của kỷ nguyên năng lượng xanh – hay của Thời đại Kinh tế tri thức cũng giống nhu bản chất của Dòng chảy của Thời đại Kinh tế công nghiệp, sẽ chảy với những cách thức giống nhau vì đều tuân theo những quy luật giống nhau của Tạo hóa. Trình độ của nhân loại đã cao hơn, tốc độ sẽ nhanh hơn và thành tựu cũng sẽ to lớn hơn nhiều. Con tóm lược các đặc trưng cơ bản của các dòng chảy này trong bảng sau:

    Cả TRÀO LƯU MỀM và TRÀO LƯU CỨNG của Dòng chảy kỷ nguyên năng lượng xanh đều đã hình thành. Như con viết trong thư 31C, QCN (Quyền con người) đang được thúc đẩy mạnh mẽ và hiệu quả trên thế giới, đặc biệt là khu vực Châu Á TBD. QCN cũng là một mục tiêu chiến lược trong chiến lược xoay trục của Mỹ về khi vực này. Lợi ích của Mỹ sẽ gắn chặt với mục tiêu này. Họ hiểu rất rõ Năng lượng xã hội sẽ là một loại nguồn lực quan trọng nhất trong kỷ nguyên mới này. Mà ở Mỹ nguồn lực này đã được giải phóng từ lâu, giờ không còn là vấn đề chiến lược nữa vì những phần chưa giải phóng còn rất ít. Do đó người Mỹ phải tận dụng nguồn năng lượng này ở những khu vực mà nó còn ít được giải phóng. Nếu Mỹ dẫn dắt được phong trào giải phóng năng lượng này thì họ sẽ hưởng được những giá trị gia tắng rất lớn từ năng lượng được giải phóng. Ba thử tưởng tượng xem các phần gia tăng này sẽ lớn đến như thế nào nếu năng lượng xã hội của hơn 3,2 tỷ dân ASEAN, Ấn Độ, TQ được giải phóng. Đây là một chiến lược cực kỳ khôn ngoan của Mỹ. Một mục tiêu chiến lược khác trong chiến lược xoay trục là thúc đẩy sử dụng năng lượng hiệu quả. Nó không chỉ là việc tối ưu hóa hiệu suất tiêu thụ năng lương và thay thế dần năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo, mà còn là việc tạo nên một nguồn động lực khổng lồ để thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ và tiến bộ xã hội. Động lực đó chính là NĂNG LƯỢNG XÃ HỘI – là loại sức mạnh chỉ được tạo ra khi con người được tự do vận động trong xã hội. Không có Năng lượng xã hội thì xã hội phải tiêu tốn rất nhiều nguồn lực, từ tiền của đến sức lực con người, mà lại không hiệu quả vì chúng được dùng phần lớn để đè nén và triệt tiêu khuynh hướng tự nhiên là vận động tự do của con người. Trong một tình trạng như vậy thì khả năng hấp thụ khoa học công nghệ là rất thấp, sự tiến bộ xã hội vì vậy mà cũng rất chậm chạp. Tức là sẽ chẳng có sự phát triển vật chất lẫn tinh thần nào đáng kể mà Mỹ có thể hưởng được giá trị gia tăng cả. Mặt khác, khi Năng lượng xã hội được giải phóng thì việc tiêu thụ các loại năng lượng vật chất cũng sẽ giảm đáng kể. Trong lúc mà các công nghệ xanh hóa năng lượng chưa phổ biến thì việc này đồng nghĩa với việc giảm ô nhiễm, giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính để chống biến đổi khí hậu.

    Bản viết tay:






    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi