Truyện ngắn: Haruki Murakami – Scheherazade

  • Bởi Diên Vỹ
    31/12/2014
    0 phản hồi

    Haruki Murakami

    Diên Vỹ chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh của Ted Goossen

    Cứ sau mỗi lần làm tình, nàng lại kể cho Habara một câu chuyện lạ lùng và hấp dẫn. Giống như Hoàng hậu Scheherazade trong “Nghìn Lẻ Một Đêm.” Nhưng đương nhiên không như nhà vua, Habara không có ý định chém đầu nàng vào sáng hôm sau. (Mà nàng cũng có bao giờ ngủ qua đêm với anh đâu.) Habara đoán rằng nàng kể cho anh những câu chuyện vì nàng thích cuộn mình trên giường nói chuyện với người đàn ông trong những khoảng khắc âu yếm rã rời sau khi làm tình. Và cũng có thể bởi vì nàng muốn vỗ về Habara vì anh cứ phải giấu mình trong nhà hằng ngày.

    Vì thế Habara đặt tên nàng là Scheherazade. Anh không bao giờ gọi tên ấy trước mặt nàng, chỉ dùng nó để ám chỉ nàng trong cuốn nhật ký nhỏ của mình. “Hôm nay Scheherazade đến,” anh ghi chú bằng viết bi. Rồi anh ghi lại những ý chính về diễn biến trong ngày hôm ấy với giọng văn vắn gọn đầy ẩn dụ mà chắc chắn ai đấy sau này đọc được cuốn nhật ký cũng phải rối mù.

    Habara không biết những câu chuyện của nàng thực hay hư, hoặc nửa thực nửa hư. Anh hoàn toàn không đoán được. Thực tế và giả định, nhận định và thuần hư cấu dường như lẫn lộn với nhau trong các câu chuyện của nàng. Vì thế Habara cứ thưởng thức chúng như trẻ con, không thắc mắc nhiều. Nói cho cùng, với anh sự thật hay giả dối, hoặc là một tập hợp rắc rối của cả hai thì có gì khác nhau?

    Dù gì đi nữa, Scheherazade có một năng khiếu kể chuyện dễ động tâm. Cho dù câu chuyện thuộc loại gì, nàng cũng làm nó trở nên đặc biệt. Giọng nói, thời điểm và nhịp điệu của nàng thật toàn vẹn. Nàng khiến người nghe quan tâm, trêu ngươi anh, khiến anh phải suy ngẫm, phỏng đoán, và cuối cùng, cho anh biết chính xác cái mà anh đang tìm kiếm. Bị mê hoặc, Habara đã có thể quên đi thực trạng chung quanh mình, dù chỉ trong khoảng khắc. Như một tấm bảng đen được lau với một mảnh giẻ ướt, những lo lắng, những kỷ niệm phiền muộn được xoá khỏi đầu anh. Còn đòi hỏi gì hơn? vào thời điểm này trong cuộc đời mình, đây là thứ lãng quên mà Habara mong muốn hơn bất cứ điều gì.

    Scheherazade đã ba mươi lăm, lớn hơn Habara bốn tuổi, một người nội trợ toàn thời gian với hai đứa con đang học tiểu học (mặc dù nàng có bằng y tá và thỉnh thoảng được gọi đi làm). Chồng nàng là một nhân viên công ty bình thường. Nhà họ cách nhà Habara hai mươi phút lái xe. Đấy là tất cả (hoặc hầu như tất cả) thông tin cá nhân mà nàng chịu hé lộ. Habara không thể nào kiểm định được bất cứ điều gì, nhưng anh cũng chẳng thấy có lý do gì để ngờ vực nàng. Nàng chẳng bao giờ cho biết tên mình. "Anh không cần phải biết, đúng không?" Scheherazade từng hỏi thế. Và nàng cũng chẳng bao giờ gọi thẳng tên Habara mặc dù biết rõ tên anh. Nàng cẩn trọng tránh nhắc đến tên anh, cứ như nó là điều xui xẻo hoặc không phải phép nếu buột khỏi môi nàng.

    Ít nhất về vẻ ngoài, Scheherazade này chẳng có gì giống với vị hoàng hậu xinh đẹp trong "Nghìn Lẻ Một Đêm." Nàng trên đường về chiều và thịt da đang nhão dần, má đã chảy và đuôi mắt đã có những nếp nhăn. Kiểu tóc, cách trang điểm và phong thái ăn mặc của nàng không hẳn là cẩu thả nhưng rõ ràng chúng cũng không đáng được trầm trồ. Nét mặt của nàng không hẳn là thiếu hấp dẫn, nhưng khuôn mặt nàng không nổi bật, vì thế ấn tượng từ nàng hơi mờ nhạt. Do vậy, những ai thấy nàng trên phố hoặc dùng chung thang máy có thể không để ý mấy đến nàng. Mười năm trước, chắc hẳn nàng từng là một thiếu nữ sôi động và hấp dẫn, thậm chí có thể khiến ai đấy ngoảnh nhìn. Nhưng đến một lúc nào đó, màn đã hạ xuống trong phần đời ấy của nàng và có vẻ sẽ không bao giờ kéo lên nữa.

    Scheherazade đến thăm Habara mỗi tuần hai lần. Lịch trình của nàng không nhất định nhưng nàng không bao giờ đến vào cuối tuần. Chắc chắn nàng dành thời gian ấy cho gia đình. Nàng luôn gọi trước một giờ trước khi đến. Nàng mua thực phẩm tại một siêu thị địa phương và chở đến cho anh trên một chiếc xe Mazda hatchback nhỏ màu xanh dương. Chiếc xe kiểu cũ với một vết lõm ở tấm chắn sau và những mâm xe bám đầy bụi đen. Đỗ vào chỗ đậu xe riêng của căn nhà, nàng mang những chiếc túi vào cửa trước và bấm chuông. Sau khi nhìn qua lỗ mắt mèo, Habara mở khoá, tháo dây xích đưa nàng vào. Trong nhà bếp, nàng phân loại thực phẩm và xếp chúng vào tủ lạnh. Sau đó nàng liệt kê những món cần mua vào lần sau. Nàng làm những việc này một cách khéo léo, hiếm có động tác thừa và chuyện trò rất ít.

    Khi nàng xong việc, cả hai người lặng lẽ đi vào phòng ngủ, cứ như họ đang được một dòng triều vô hình đưa đi. Scheherazade nhanh chóng cởi bỏ quần áo và, vẫn im lặng, nàng lên giường cùng Habara. Nàng cũng hầu như không nói gì khi họ làm tình, tiến hành từng động tác như thực hiện một nhiệm vụ. Mỗi khi đến kỳ kinh nguyệt, nàng dùng tay để hoàn thành mục đích. Phong cách khéo léo đầy thực dụng của nàng nhắc nhở Habara rằng nàng là một y tá có bằng.

    Sau khi ân ái xong, họ nằm lại trên giường và trò chuyện. Nói đúng hơn là nàng nói và anh lắng nghe, thỉnh thoảng lại chêm vào một tiếng đưa chuyện, hỏi một câu lấy lệ. Khi đồng hồ điểm bốn giờ rưỡi, nàng liền ngắt đứt câu chuyện (không hiểu sao luôn vào lúc nó đang đạt đến cao trào), nhảy ra khỏi giường, gom quần áo và sửa soạn đi về. Nàng phải về nhà, nàng nói, để chuẩn bị cơm chiều.

    Habara tiễn nàng ra cửa, móc lại sợi xích và nhìn qua màn cửa dõi theo chiếc xe màu xanh nhỏ cáu bẩn xa dần. Đến sáu giờ, anh nấu một bữa tối đơn giản và ăn một mình. Anh từng làm nghề nấu bếp vì thế không khó khăn mấy khi nấu một món ăn. Anh uống nước Perrier khi ăn tối (anh không bao giờ đụng đến chất cồn) và kèm theo một tách cà phê, anh nhấm nháp nó trong khi xem DVD hoặc đọc sách. Anh thích loại sách dày, đặt biệt là những cuốn anh phải đọc lại vài lần mới hiểu. Chẳng có gì khác để làm. Anh không có ai để trò chuyện và cũng không ai để gọi điện. Vì không có máy tính, anh không có cách nào truy cập Internet được. Không đặt báo và anh chẳng bao giờ xem truyền hình (có một lý do xác đáng vì sao.) Không cần phải nói là anh không thể bước ra ngoài. Nếu vì lý do nào đấy mà Scheherazade ngưng đến thăm, anh sẽ bị bỏ rơi một mình.

    Habara không lo ngại gì mấy về viễn cảnh này. Nếu nó xảy ra, anh nghĩ, thì sẽ khó khăn lắm nhưng ta sẽ xoay trở bằng cách này hay cách khác. Đâu phải ta bị mắc kẹt trên hoang đảo. Không, anh nghĩ, chính ta là một hoang đảo. Anh luôn cảm thấy thoải mái khi sống một mình. Nhưng điều làm anh khó chịu là ý tưởng không còn có thể nằm trên giường trò chuyện với Scheherazade. Hoặc đúng hơn, thèm muốn được nghe phần chuyện kế tiếp của nàng.

    "Kiếp trước tôi là loài lươn mút đá,"(*) có lần Scheherazade nói khi họ đang nằm với nhau. Đó là một nhận định đơn giản, trực tiếp, có vẻ bông lơi cứ như đang tuyên bố rằng Bắc Cực thì ở tận cực bắc. Habara còn chẳng biết lươn mút đá là loài gì, nói chi đến việc biết hình dạng nó ra sao. Vì thế anh không có ý kiến rõ rệt nào về chuyện này.

    "Anh có biết là lươn mút đá ăn cá hồi không?" Nàng hỏi.

    Anh không biết điều này. Thực ra, đây là lần đầu tiên anh nghe nói lươn mút đá ăn cá hồi.

    "Lươn mút đá không có hàm. Đây là điều khác biệt giữa chúng và những giống lươn khác."

    "Hả? Lươn có hàm?"

    "Có bao giờ anh nhìn kỹ một con lươn chưa?" nàng ngạc nhiên hỏi.

    "Thỉnh thoảng tôi cũng ăn thịt lươn, nhưng chưa có dịp nào xem xét rõ chúng có hàm hay không."

    "Vậy hôm nào ông nên đến những nơi như bể triển lãm cá để xem. Lươn bình thường có hàm và răng. Nhưng lươn mút đá chỉ có giác hút để gắn mình vào đá dưới đáy sông hoặc hồ. Rồi chúng cứ vật vờ, đong đưa tới lui như những nhánh cỏ."

    Habara hình dung một nhóm lươn mút đá đang lắc lư như những nhánh cỏ dưới đáy hồ. Cảnh tượng này dường như bị tách khỏi thực tại, mặc dù anh biết đôi khi thực tại cũng cực kỳ hư ảo.

    "Lươn mút đá sống như thế đấy, giấu mình trong cỏ. Nằm yên đợi chờ. Rồi khi một chú cá hồi lướt ngang phía trên,chúng phóng lên và bám giác hút vào. Bên trong các giác hút là một bộ phận giống chiếc lưỡi có răng, chúng cạ tới cạ lui vào thành bụng con cá đến khi tạo được một lỗ thủng và chúng bắt đầu ăn từng tí một."

    "Tôi không muốn mình là con cá hồi," Habara nói.

    "Dưới thời La Mã, họ nuôi lươn mút đá trong bể. Những nô lệ cứng đầu bị quẳng vào và bị lươn ăn sống."

    Habara nghĩ thầm anh cũng chẳng muốn làm nô lệ La Mã.

    "Lần đầu tiên tôi thấy lươn mút đá là lúc còn ở tiểu học, vào dịp cả lớp đi xem bể cả," Scheherazade nói. "Khi đọc đến phần kể về cách sống của chúng, tôi biết ngay rằng kiếp trước mình là loài này. Ý của tôi là tôi thực sự nhớ được việc dính mình vào đá, lắc lư vô hình giữa nhữnh nhánh cỏ, chú mắt vào chú cá hồi béo đang bơi trên đầu mình."

    "Cô có nhớ việc ăn thịt chúng không?"

    "Không, tôi không thể."

    "Đỡ quá," Habara nói. "Nhưng nếu thế thì đấy là tất cả những gì cô nhớ được trong kiếp làm lươn mút đá - lắc tới lắc lui dưới đáy sông?"

    "Ta không thể nhớ toàn bộ kiếp trước như thế," nàng bảo. "Nếu anh may mắn, anh chỉ gợi được một thoáng cảm nhận nó như thế nào thôi. Giống như việc thoáng nhìn qua một cái lỗ bé tẹo trên tường. Anh có thể nhớ các kiếp trước của mình không?"

    "Không, không hề," Habara trả lời. Thật ra, anh chẳng bao giờ mong muốn biết được kiếp trước của mình. Anh đã quá đủ với cuộc sống hiện tại.

    "Tuy nhiên, tôi cũng thấy rất hay nếu sống dưới đáy hồ. Nằm chổng ngược cắm mồm vào một tảng đá, xem cá lượn bên trên. Tôi cũng từng thấy một con cua đinh rất lớn với hình dạng khổng lồ màu đen lờ lững trôi qua, cứ như chiếc phi thuyền của phe ác trong phim 'Star Wars.' Và những con chim lớn màu trắng có mỏ dài và bén; nhìn từ phía dưới chúng trông giống như những đám mây trắng đang trôi ngang trời."

    "Và cô hiện đang thấy tất cả các thứ này à?"

    "Rõ như ban ngày," Scheherazade trả lời. "Ánh sáng, sức kéo của thuỷ triều, mọi thứ. Đôi khi trong tâm tưởng tôi còn quay lại chốn đấy."

    "Quay lại suy nghĩ của cô lúc ấy?"

    "Vâng."

    "Thế lươn mút đá nghĩ gì?"

    "Lươn mút đá nghĩ những suy nghĩ của lươn mút đá. Về những chủ đề liên quan đến lươn mút đá trong một ngữ cảnh rất mang tính lươn mút đá. Chẳng có từ ngữ nào cho những ý nghĩ ấy. Chúng thuộc về thế giới của nước. Giống như khi chúng ta còn ở trong bụng mẹ. Ở đấy chúng ta cũng nghĩ, nhưng chúng ta không thể bày tỏ những suy nghĩ ấy bằng thứ ngôn ngữ chúng ta đang dùng ở ngoài đây, đúng không?"

    "Khoan! Cô có thể nhớ được lúc cô còn trong bụng mẹ?"

    "Đúng," Scheherazade nói, nhấc đầu nhìn qua ngực anh và hỏi "Còn anh?"

    Không, anh trả lời. Anh không thể.

    "Thế thì hôm nào tôi sẽ kể cho anh nghe. Về cuộc sống trong bụng mẹ."

    "Scheherazade, Lươn mút đá, Kiếp trước" là những từ Habara ghi lại trong nhật ký của mình ngày hôm ấy. Anh chắc nếu ai đọc nó sẽ không đoán được chúng có nghĩa gì.

    Habara gặp Scheherazade lần đầu vào bốn tháng trước. Anh được chuyển về căn nhà này trong một thành phố của một tỉnh phía bắc Tokyo, và nàng được phân công làm "giao liên hỗ trợ" cho anh. Vì anh không thể ra ngoài, nhiệm vụ của nàng là mua thức ăn và những vật dụng khác anh cần và đem chúng đến nhà. Nàng cũng tìm kiếm những sách báo nào anh cần đọc và bất kỳ những đĩa CD nào anh muốn nghe. Thêm vào đấy, nàng còn chọn một loạt đĩa DVD đủ loại, tuy nhiên về mặt này anh khó chấp nhận được tiêu chuẩn chọn lựa của nàng.

    Một tuần sau khi anh đến, cứ như là một bước kế tiếp hiển nhiên, Scheherazade đưa anh lên giường. Trong chiếc bàn đầu giường đã có sẵn những bao cao su khi anh đến. Habara đoán rằng làm tình cũng là một trong những nhiệm vụ nàng được giao - hoặc có lẽ "những hoạt động hỗ trợ" là từ ngữ mà họ dùng. Dù thuật ngữ gì, và dù động cơ của nàng là gì, anh cứ đi theo dòng cuốn và không ngần ngại chấp nhận đề nghị của nàng.

    Chuyện ái ân của họ không hẳn là ép buộc, nhưng cũng không thể nói rằng họ hoàn toàn đến với với nhau bằng con tim. Nàng có vẻ dè dặt, trừ khi họ trở nên quá cuồng nhiệt - như một người dạy lái xe không muốn học trò mình quá hứng khởi chuyện lái xe. Nhưng, dù việc làm tình của họ không phải là điều mà ta có thể gọi là nồng nhiệt, nó cũng không phải như một kiểu trao đổi đơn thuần. Có thể ban đầu nó chỉ là một trong những nhiệm vụ của nàng (hoặc tối thiểu là một hành động được nhiệt tình khuyến khích), nhưng đến một thời điểm nào đấy nàng có vẻ - dù chỉ rất ít - tìm thấy khoái cảm trong nó. Habara có thể thấy được điều ấy qua những biểu hiện kín đáo từ phản ứng của cơ thể nàng, một phản ứng khiến anh cũng cảm thấy thích thú. Nói cho cùng, anh chẳng phải là một con thú hoang bị giam trong cũi mà là một con người được trang bị hàng loạt những cảm xúc của riêng mình, và nếu làm tình chỉ với mục đích duy nhất là giải thoát thân xác thì không mấy thoả mãn. Nhưng về việc Scheherazade cảm thấy trong quan hệ xác thịt của họ bao nhiêu phần là nhiệm vụ, bao nhiêu phần thuộc về cõi riêng trong đời sống cá nhân nàng thì anh không thể biết được.

    Việc này cũng đúng với những điều khác. Habara thường khó đoán được cảm xúc và động cơ của Scheherazade. Ví dụ nàng thường xuyên mặc quần lót bằng vải sợi đơn sơ. Loại quần lót mà anh đoán các bà nội trợ vào tuổi ba mươi vẫn mặc - mặc dù chỉ đơn thuần phỏng đoán vì anh chẳng có tí kinh nghiệm nào về các bà nội trợ trong độ tuổi ấy. Tuy nhiên có những hôm nàng lại xuất hiện với chiếc quần lót sặc sỡ bằng lụa đính đăng ten. Anh hoàn toàn không biết được tại sao nàng lại thay đổi giữa hai loại quần.

    Một điều khác làm anh khó hiểu nữa là việc làm tình của họ và việc kể chuyện của nàng gắn quyện rất chặt chẽ với nhau, khiến khó có thể biết được khi nào việc này kết thúc và việc kia bắt đầu. Từ trước đến nay anh chưa hề trải qua việc gì như thế: mặc dù không yêu nàng, và chuyện ái ân cũng tàm tạm, anh lại cảm thấy thật gần gũi với nàng về thể xác. Điều này thật khó hiểu.

    "Vào tuổi thiếu niên tôi bắt đầu đột nhập vào những ngôi nhà trống," một hôm nàng kể khi họ đang nằm trên giường.

    Habara - thường như mọi lần khi nàng kể chuyện - thấy mình không tìm được ngôn từ.

    "Anh đã từng đột nhập vào nhà ai chưa?" nàng hỏi.

    "Không, tôi chưa từng," anh trả lời với giọng khô đặc.

    "Thử một lần và anh sẽ thấy nghiện."

    "Nhưng nó bất hợp pháp."

    "Đúng thế. Nó nguy hiểm, nhưng anh vẫn thấy cám dỗ."

    Habara im lặng đợi nàng tiếp tục.

    "Điều thú vị nhất khi ở trong nhà của người lạ khi chẳng có ai ở nhà," Scheherazade nói, " là nó im lặng vô cùng. Không một tiếng động. Như là một nơi vắng lặng nhất trần đời. Ít nhất đấy là cảm giác của tôi. Khi tôi ngồi trên sàn và hoàn toàn không cử động, kiếp lươn mút đá quay lại với tôi. Tôi đã kể cho anh nghe kiếp trước tôi từng là lươn mút đá phải không?"

    "Đúng, cô đã kể."

    "Nó giống hệt vậy. Những giác hút của tôi bám vào đá dưới đáy nước và thân mình tôi lắc tới lắc lui bên trên, giống như đám cỏ chung quanh mình. Mọi vật đều tĩnh lặng. Cũng có thể bởi vì tôi không có tai. Vào những ngày có nắng, ánh sáng chiếu xuyên qua mặt nước như một mũi tên. Cá với đủ màu sắc và hình dáng bơi qua phía trên. Và trí óc tôi không một ý nghĩ. Tức là không gì ngoài những suy nghĩ của loài lươn. Chúng rất mơ hồ nhưng cũng rất tinh khiết. Đấy là một nơi rất tuyệt vời.”

    Lần đầu tiên Scheherazade lẻn vào nhà người lạ, nàng kể, lúc ấy nàng đang học trung học và phải lòng dữ dội một cậu trai trong lớp mình. Mặc dù cậu không phải là loại mà ta có thể gọi là đẹp trai, dáng cậu cao và đầu tóc gọn gàng, một học sinh ngoan, có chân trong đội bóng đá và nàng bị cậu cuốn hút một cách mạnh mẽ. Nhưng hoá ra cậu lại thích một cô gái khác trong lớp và không để ý đến Scheherazade. Đúng ra có thể cậu còn chẳng biết rằng nàng hiện hữu. Tuy thế nàng không thể dứt được cậu ra khỏi đầu mình. Chỉ nhìn thấy cậu cũng khiến nàng ngộp thở; đôi khi nàng cảm thấy buồn nôn. Nếu nàng không làm gì cả, nàng nghĩ, nàng có thể nổi điên. Nhưng thú nhận tình yêu của mình là chuyện không thể xảy ra.

    Một hôm, Scheherazade trốn học và đến nhà cậu trai ấy, cách khoảng mười lăm phút đi bộ từ nhà nàng. Nàng đã tìm hiểu trước hoàn cảnh gia đình cậu. Mẹ cậu dạy tiếng Nhật tại một ngôi trường ở thị trấn kế bên. Cha cậu từng làm tại một công ty xi măng, ông chết trong một tai nạn ô tô vài năm trước đấy. Em gái cậu cũng đang học trung học. Có nghĩa là ban ngày ngôi nhà sẽ không có ai.

    Không gì ngạc nhiên khi cửa trước bị khoá. Scheherazade tìm chìa khoá dưới tấm thảm. Y như rằng, có một chiếc chìa khoá ở đấy. Những khu dân cư yên tĩnh trong các thị xã như của họ thường ít tội phạm xảy ra, và người ta thường để một chìa khoá thứ hai dưới tấm thảm hoặc chậu hoa.

    Cẩn thận, Scheherazade bấm chuông và đợi để chắc chắn không ai mở cửa, rà soát ngoài đường xem có bị để ý không rồi mở cửa bước vào. Nàng khoá cửa lại từ bên trong. Nàng tháo giày, bỏ chúng vào trong một túi nhựa và nhét vào trong cặp táp sau lưng. Rồi nàng rón rén bước lên cầu thang đi lên lầu hai.

    Phòng của cậu ta ở đấy, vẫn như nàng mường tượng. Giường cậu được xếp gọn ghẽ. Trên kệ sách có một dàn máy hát nhỏ với vài đĩa CD. Trên tường treo một tấm lịch có hình đội bóng đá Barcelona và kế bên dường như là một lá cờ của đội bóng, ngoài ra không còn gì khác. Không áp phích, không tranh ảnh. Chỉ là một bức tường màu kem. Một bức màn cửa màu trắng phủ bên cửa sổ. Căn phòng gọn ghẽ, mọi thứ đều ngăn nắp. Chẳng có sách vở quẳng bừa bãi, không có quần áo trên sàn. Căn phòng cho thấy phong cách tỉ mỉ của chủ nhân. Hoặc bởi người mẹ thu vén căn nhà một cách hoàn hảo. Hoặc bởi cả hai. Điều này khiến Scheherazade lo lắng. Nếu là một căn phòng bừa bãi thì chẳng ai lưu ý đến những lộn xộn nhỏ do nàng tạo ra. Nhưng cùng lúc sự đơn giản và quá sạch sẽ của căn phòng với trật tự hoàn hảo của nó lại khiến nàng sung sướng. Nó thật giống cậu.

    Scheherazade hạ người xuống chiếc ghế gần bàn và ngồi đấy một lúc. Đây là nơi cậu học bài mỗi tối, nàng nghĩ, tim đập mạnh. Nàng cầm từng vật dụng trên bàn, dùng ngón tay mân mê chúng, ngửi chúng, đặt chúng lên môi. Những cây viết chì, những cái kéo, cây thước, đồ bấm của cậu - những vật dụng bình thường nhất bỗng dưng rực rỡ vì chúng là của cậu.

    Nàng mở các ngăn kéo của cậu và cẩn thật xem xét những thứ bên trong. Ngăn trên cùng được chia thành những ngăn nhỏ hơn, mỗi cái có một chiếc khay nhỏ rải rác những vật dụng và kỷ vật. Ngăn kéo thứ hai đa phần là những sách vở của các lớp cậu đang học, trong khi ngăn dưới cùng (rộng nhất) chứa đầy các loại giấy tờ, sách vở và bài kiểm tra cũ. Hầu như mọi thứ đều có liên quan đến trường học hoặc bóng đá. Nàng hi vọng tìm được vài thứ riêng tư hơn - chẳng hạn như một cuốn nhật ký hoặc thư từ - nhưng chiếc bàn không hề có những thứ ấy. Thậm chí chẳng có một bức ảnh. Điều này khiến Scheherazade thấy bất thường. Cậu chẳng có cuộc sống riêng ngoài trường học và bóng đá? Hay cậu đã giấu hết mọi thứ riêng tư ở một nơi chẳng ai biết được?

    Tuy vậy, chỉ ngồi tại chiếc bàn và lướt mắt qua những nét chữ của cậu cũng khiến Scheherazade động lòng khôn tả. Để trấn tĩnh mình, nàng đứng ra khỏi ghế và ngồi trên nền nhà. Nàng nhìn lên trần nhà. Chung quanh nàng là một sự tĩnh lặng tuyệt đối. Bằng cách này nàng quay lại thế giới của loài lươn mút đá.

    “Vậy những gì cô làm,” Habara hỏi “là bước vào phòng cậu ấy, lục soát đồ của cậu ta rồi ngồi yên trên sàn?”

    “Không,” Scheherazade trả lời. “Còn nữa. Tôi muốn đem một vật gì của cậu ấy về. Một thứ gì cậu sử dụng hàng ngày hoặc gần gũi với thân thể cậu ấy. Nhưng không thể là một vật quan trọng khiến cậu ấy biết được. Vì thế tôi đã lấy một cây viết chì.”

    “Chỉ một cây viết chì?”

    “Vâng. Cây viết cậu ấy đang dùng. Nhưng ăn cắp thôi vẫn chưa đủ. Nếu thế nó sẽ là một trường hợp trộm nhà đơn thuần. Hành động của tôi sẽ mất ý nghĩa. Nói cho cùng, tôi là một Kẻ trộm Tình yêu.”

    Kẻ trộm Tình yêu? Habara nghe như tựa đề của một cuốn phim câm.

    “Thế nên tôi quyết định để lại một món gì ấy để hoán đổi, như một thứ kỷ vật. Một bằng chứng rằng tôi đã ở đấy. Một tuyên bố rằng đây là một cuộc trao đổi, không đơn thuần là một hành động trộm cắp. Nhưng nên để lại cái gì? Tôi chẳng nghĩ ra được thứ gì cả. Tôi lục cặp táp và hết các túi nhưng chẳng tìm được thứ gì tương đương. Tôi tự mắng mình đã không nghĩ đến việc đem theo một vật thích hợp. Cuối cùng tôi quyết định để lại một ống hút tampon. Đương nhiên là nó chưa dùng qua, vẫn còn nằm trong bọc nhựa. Kinh nguyệt của tôi đã gần đến nên tôi bọc theo mình để đề phòng. Tôi giấu nó tận phía sau của ngăn kéo dưới cùng để khó có thể tìm được. Điều này thực sự làm tôi kích thích. Thực sự là một ống tampon của tôi đã được giấu kín trong ngăn kéo của cậu ấy. Cũng có thể vì tôi quá kích thích nên kinh nguyệt của tôi bắt đầu ngay sau đấy.”

    Một ống tampon đổi lấy cây viết chì, Habara nghĩ. Có lẽ đấy là những gì anh sẽ viết trong nhật ký của mình hôm ấy: “Kẻ trộm Tình yêu, Viết chì, Tampon.” Anh muốn biết người ta sẽ đoán chúng có ý nghĩa gì.

    “Tôi chỉ ở trong nhà cậu ấy khoảng mười lăm phút thôi. Tôi không thể ở lâu hơn: đây là lần đầu tiên tôi lẻn vào nhà người ta và sợ rằng ai đấy sẽ xuất hiện khi mình còn ở đấy. Tôi xem xét ngoài đường để chắc chắn là an toàn, luồn ra cửa, khoá trái và đặt chìa khoá lại dưới thảm. Rồi tôi đến trường, đem theo cây viết chì quí giá của cậu.”

    Scheherazade lặng im. Vẻ mặt nàng cho thấy nàng đã quay lại thời điểm ấy và đang mường tượng những điều sẽ xảy ra tiếp, từng việc một.

    “Đấy là tuần lễ hạnh phúc nhất đời tôi,” nàng nói sau một quãng dài im lặng. “Tôi viết những điều lặt vặt vào trong vở bằng cây viết chì của cậu ấy. Tôi ngửi nó, hôn nó, cạ má vào nó, vân vê nó giữa những ngón tay. Đôi khi tôi còn đưa nó vào mồm và mút. Dĩ nhiên, tôi cảm thấy đau lòng vì viết càng nhiều thì nó càng ngắn đi, nhưng tôi không cưỡng mình được. Tôi nghĩ nếu nó quá ngắn thì mình vẫn có thể quay lại và lấy một cây viết khác. Có cả đống viết chì đang dùng trong hộp đựng viết trên bàn của cậu. Cậu ấy sẽ chẳng biết được nếu mất một cây. Và có thể cậu ấy vẫn chưa tìm thấy ống tampon giấu trong ngăn kéo. Ý nghĩ này làm tôi hứng khởi vô tận - nó tạo ra một cảm giác đê mê lạ lẫm phía bụng dưới. Tôi không còn thấy buồn phiền về việc cậu ấy chẳng bao giờ nhìn mình hoặc biểu lộ rằng cậu ấy nhận thức được sự hiện hữu của tôi. Vì giờ tôi đã bí mật nắm giữ được một vật của cậu - như nó đã là một phần của cậu ấy.”

    Mười ngày sau, Scheherazade lại trốn học và đến nhà cậu ta một lần nữa. Lúc ấy là mười một giờ trưa. Cũng như lần trước, nàng lấy chiếc chìa khoá dưới thảm và mở cửa. Cũng như trước, phòng cậu vẫn hoàn toàn ngăn nắp. Đầu tiên, nàng chọn một cây viết chì còn khá dài và cẩn thận bỏ vào hộp đựng viết của mình. Rồi nàng rón rén đặt mình xuống giường cậu, xếp tay trên ngực và nhìn lên trần nhà. Đây là chiếc giường cậu ngủ mỗi đêm. Ý nghĩ này khiến tim nàng đập nhanh hơn, và nàng thấy khó để thở một cách bình thường. Phổi nàng không chứa được không khí và cổ họng nàng khô như ngói khiến nàng phải thở một cách khó nhọc.

    Scheherazade ra khỏi giường, kéo lại tấm ra và ngồi trên sàn, như lần trước nàng đã làm. Nàng nhìn lên trần nhà. Mình hoàn toàn chưa sẵn sàng để nằm trên chiếc giường này, nàng tự nhủ. Nó vẫn quá sức chịu đựng của nàng.

    Lần này, Scheherazade ở lại trong nhà nửa giờ. Nàng lôi những cuốn vở khỏi ngăn kéo và lướt đọc chúng. Nàng thấy một bài luận văn về sách và mở ra đọc. Nó viết về “Kokoro”, một cuốn tiểu thuyết của Soseki Natsume, được giao đọc trong mùa hè năm ấy. Chữ viết của cậu thật đẹp, như vẫn thấy từ một học sinh được toàn điểm A, không một lỗi lầm hay thiếu sót. Bài viết được chấm hạng Xuất sắc. Sao có thể khác hơn được? Bất kỳ thầy giáo nào nhìn thấy nét chữ hoàn hảo này cũng sẽ tự động cho điểm Xuất sắc, dù ông ta có đọc qua dòng nào hay không.

    Scheherazade chuyển sang tủ đựng quần áo, tuần tự xem xét các thứ bên trong. Đồ lót và vớ của cậu ấy. Áo sơ mi và quần. Đồng phục đá bóng của cậu. Chúng đều được gấp tươm tất. Chẳng có cái nào bị dính bẩn hoặc sờn rách. Có phải chính cậu đã gấp chúng? Hoặc, đúng hơn là do mẹ cậu làm? Nàng thấy nhói lên niềm tị hiềm đối với người mẹ, bà có thể đã làm những việc này cho cậu mỗi ngày.

    Scheherazade cúi người và ngửi chồng quần áo trong các ngăn kéo. Chúng đều thơm mùi mới giặt và nồng mùi nắng. Nàng lấy một chiếc áo thun xám trơn, mở ra, và áp vào mặt mình. Có không một thoáng mồ hôi còn đọng lại dưới nách áo? Nhưng chẳng có gì cả. Tuy vậy, nàng vẫn giữ nó một khoảng lâu, dùng mũi hít hà. Nàng muốn giữ riêng chiếc áo cho mình. Nhưng điều này quá mạo hiểm. Quần áo cậu được giặc giũ và sắp xếp quá tươm tất. Cậu (hoặc mẹ cậu) có thể biết rõ số lượng áo thun trong ngăn kéo. Nếu mất đi một chiếc, chắc hẳn đất trời đảo lộn. Scheherazade cẩn thận gấp chiếc áo và đặt nó lại đúng nơi cũ. Thay vì thế, nàng lấy một chiếc huy hiệu nhỏ có hình của một quả bóng đá mà nàng tìm thấy trong một ngăn kéo của bàn học. Có vẻ nó thuộc về một đội bóng cậu từng tham gia trong những năm tiểu học. Nàng chắc là cậu sẽ không nhớ đến nó. Ít nhất là cũng một thời gian sau cậu mới biết nó mất. Nhân tiện, nàng tìm chiếc ống tampon ở ngăn kéo dưới cùng. Nó vẫn còn đấy.

    Scheherazade cố mường tượng điều gì sẽ xảy ra nếu mẹ cậu tìm thấy chiếc tampon. Bà sẽ nghĩ gì? Liệu bà sẽ bắt cậu giải thích việc trời xui đất khiến nào mà nó lại ở trên bàn cậu? Hoặc bà sẽ giữ bí mật khám phá của mình, nghiền ngẫm mối nghi ngờ đen tối trong đầu? Scheherazade hoàn toàn không biết được. Nhưng nàng quyết định để ống tampon lại chỗ cũ. Nói cho cùng, đấy là kỷ vật đầu tiên của nàng.

    Để kỷ niệm chuyến thăm thứ hai của mình, Scheherazade để lại ba sợi tóc của mình. Đêm trước nàng đã giật chúng ra, gói lại trong túi nhựa và bỏ vào một bao thư nhỏ xíu dán kín. Giờ đây nàng lấy bao thư ra khỏi cặp táp và tuồn nó vào trong một cuốn vở toán cũ nằm trong ngăn kéo của cậu. Ba sợi tóc thẳng và đen, không quá dài hay quá ngắn. Chẳng ai biết được chúng là của ai nếu không thử nghiệm DNA, mặc dù rõ ràng chúng là của một cô gái.

    Nàng rời khỏi nhà cậu và đi thẳng đến trường, đúng giờ học lớpđầu tiên của buổi trưa. Một lần nữa, nàng cảm thấy mãn nguyện trong khoảng mười ngày. Nàng thấy cậu thuộc về nàng nhiều hơn. Nhưng, như ta có thể đoán được, chuỗi sự việc này sẽ không chấm dứt mà không có một sự kiện xảy ra. Vì như Scheherazade đã nói, lẻn vào nhà người khác thì rất dễ bị nghiện.

    Câu chuyện đến đây thì Scheherazade liếc nhìn chiếc đồng hồ cạnh giường và thấy đã là 4:32 chiều. “Phải đi rồi,” nàng nói như nhắc nhở mình. Nàng nhảy ra khỏi giường và mặc lại chiếc quần lót trơn trắng, gài lại nịt ngực, luồn chân vào chiếc quần jean và tròng chiếc áo thể thao Nike qua đầu. Rồi nàng vào phòng tắm rửa tay, chải vội tóc và lái chiếc Mazda màu xanh ra đi.

    Một mình với chẳng chuyện gì để làm, Habara nằm trên giường và ôn lại câu chuyện nàng vừa kể cho anh, nhấm nháp từ tí một, như một con bò đang nhai lại cỏ. Nó sẽ đi đến đâu? anh thầm nghĩ. Cũng như mọi câu chuyện khác của nàng, anh không tìm ra được đầu mối nào. Anh thấy khó để mường tượng Scheherazade là một học sinh trung học. Liệu dạo ấy nàng thanh mảnh hơn, da thịt không bèo nhèo như bây giờ? Liệu nàng có mặc đồng phục, vớ trắng, tóc kết bím?

    Anh chưa thấy đói nên hoãn việc nấu cơm chiều và quay lại cuốn sách đang đọc dở, và thấy rằng mình không thể tập trung được. Hình ảnh Scheherazade lẻn vào nhà bạn học và vùi mặt trong chiếc áo của cậu ấy còn quá mới mẻ trong trí óc anh. Anh nôn nóng muốn nghe chuyện gì sẽ xảy ra tiếp.

    Ba ngày sau Scheherazade lại đến, sau những ngày cuối tuần. Như thường lệ, nàng mang đến những chiếc túi giấy lớn chứa đầy thực phẩm. Nàng soát lại thức ăn trong tủ lạnh, thay thế những món đã quá hạn, xem xét những thực phẩm đóng hộp trên kệ tủ, kiểm tra số lượng gia vị và thức nếm xem món nào gần hết và lên danh sách mua sắm. Nàng đặt vài chai Perrier vào trong tủ lạnh để giữ lạnh. Cuối cùng nàng đặt những cuốn sách và đĩa DVD vừa mua lên bàn.

    “Anh có cần hoặc muốn thứ gì khác không?”

    “Không nghĩ ra thứ gì cả,” Habara trả lời.

    Rồi, như mọi lần, cả hai lên giường và làm tình. Sau khoảng thời gian dạo đầu vừa đủ, anh đeo bao cao su, nhập vào nàng, và, sau khoảng thời gian vừa đủ, phóng tinh. Sau khi liếc nhìn thành phần bên trong bao cao su với con mắt chuyên nghiệp, Scheherazade bắt đầu kể tiếp câu chuyện.

    Như lần trước, nàng cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện trong mười ngay sau khi đột nhập lần thứ hai. Nàng cất kỹ chiếc huy hiệu bóng đá trong hộp đựng viết chì của mình và thỉnh thoảng lại rờ rẫm nó trong lớp. Nàng nhấm nháp cây viết chì lấy được và liếm cái lõi của nó. Nàng luôn nghĩ đến căn phòng của cậu. Nàng nghĩ đến chiếc bàn học của cậu, chiếc giường nơi cậu ngủ, chiếc tủ chất đầy quần áo, những chiếc quần đùi trắng tinh và ống tampon cũng như ba sợi tóc của nàng giấu trong ngăn kéo.

    Nàng không còn quan tâm đến việc học. Trong lớp, hoặc là nàng mân mê chiếc huy hiệu và cây viết chì hoặc đắm chìm trong mơ mộng. Khi về nhà, nàng không còn đầu óc nào để làm bài tập. Điểm học của Scheherazade không bao giờ có vấn đề. Nàng không phải là một học sinh ưu tú, nhưng nàng vẫn là một cô gái nghiêm túc luôn hoàn tất bài vở. Vì thế khi thầy giáo gọi tên nàng trong lớp và nàng không trả lời được, ông thấy ngạc nhiên hơn là giận dữ. Cuối cùng, ông gọi nàng lên phòng giáo viên vào giờ ăn trưa. “Có chuyện gì thế?” ông hỏi nàng “Em có gặp việc gì khó khăn không?” Nàng chỉ có thể ấp úng vài lời mơ hồ rằng mình không được khoẻ. Bí mật của nàng quá nặng nề và đen tối để tiết lộ cho người khác - nàng phải tự mình gánh chịu.

    “Tôi cứ phải lẻn vào nhà cậu ấy,” Scheherazade kể. “Tôi bắt buộc phải làm việc này. Như anh có thể mường tượng, đây là một việc rất mạo hiểm. Ngay cả bản thân tôi cũng thấy được. Chẳng chóng thì chầy, ai đấy sẽ bắt gặp tôi ở đấy và sẽ gọi cảnh sát. Ý nghĩ ấy làm tôi sợ muốn chết. Nhưng một khi trái bóng đã lăn, tôi không có cách nào dừng nó lại. Mười ngày sau chuyến ‘thăm’ thứ hai, tôi quay lại lần nữa. Tôi không còn chọn lựa nào khác. Tôi cảm thấy nếu không làm thế tôi sẽ hoá điên. Giờ nhìn lại, tôi thấy quả là mình hơi điên rồ thật.”

    “Cô không bị phiền hà ở trường vì nghỉ học quá nhiều?” Habara hỏi.

    "Bố mẹ tôi có công ty riêng nên họ không có thì giờ để quan tâm đến tôi. Cho đến lúc ấy, tôi chưa bao giờ gây phiền phức, chưa bao giờ cãi lời họ. Vì thế họ cho rằng cách tốt nhất là để tôi tự lo. Làm giả giấy xin nghỉ là chuyện dễ như chơi. Tôi giải thích với giáo viên chủ nhiệm rằng tôi có bệnh nên đôi khi phải vào bệnh viện nửa ngày. Vì các giáo viên đang phải vắt óc để đối phó với những học sinh đã nghỉ học quá nhiều, họ chẳng quan tâm mấy về việc thỉnh thoảng tôi phải nghỉ nửa ngày.”

    Scheherazade liếc nhanh chiếc đồng hồ cạnh giường trước khi tiếp tục.

    “Tôi lấy chìa khoá dưới thảm và vào nhà lần thứ ba. Nó vẫn yên tĩnh như trước - không, không hiểu vì sao nó thậm chí còn yên tĩnh hơn. Chiếc tủ lạnh khởi động làm tôi giật mình - tiếng của nó giống như một con quái vật khổng lồ đang thở dài. Chuông điện thoại reo khi tôi đang ở trong nhà. Tiếng chuông quá lớn và thô bạo khiến tôi muốn dừng tim. Người tôi đẫm mồ hôi. Dĩ nhiên là không ai trả lời, và nó ngưng sau khoảng mười lần đổ chuông. Lúc ấy tôi cảm thấy ngôi nhà càng yên tĩnh hơn.”

    Hôm ấy Scheherazade duỗi người thật lâu trên giường cậu. Lần này tim nàng không đập loạn, và nàng có thể thở bình thường. Nàng có thể mường tượng cậu đang ngủ yên lành bên cạnh nàng, thậm chí còn thấy như nàng đang ngắm nhìn cậu ngủ. Nàng thấy như nếu với tay ra, nàng có thể sờ được cánh tay rắn chắc của cậu. Rõ ràng là cậu không nằm kề nàng. Nàng chỉ bị đắm chìm trong khói sương mộng mị.

    Nàm cảm thấy một sức mạnh thúc dục phải ngửi mùi cậu. Bật dậy khỏi giường, nàng bước đến tủ đựng quần áo của cậu, kéo một ngăn tủ ra và xem xét những chiếc áo bên trong. Tất cả đều đã được giặt và gấp tươm tất. Cũng như lần trước, chúng mới tinh, không mùi hôi.

    Nàng chợt nảy ra một ý định. Nàng chạy xuống tầng trệt. Ở đó, trong góc phòng cạnh bồn tắm, nàng tìm thấy chiếc làn đựng đồ bẩn và mở nắp ra. Trong ấy là đống quần áo bẩn lẫn lộn của ba người trong nhà - mẹ, con gái và con trai. Trông có vẻ là đồ bẩn của một ngày. Scheherazade lấy ra một món đồ nam. Một chiếc áo thun trắng cổ tròn. Nàng hít một hơi. Không nhầm lẫn được đấy là mùi của một người trai trẻ. Một mùi chua ẩm nàng từng ngửi trước đây khi đứng gần những nam sinh cùng lớp. Rõ ràng nó không phải là một mùi thơm nồng. Nhưng việc cái mùi ấy là của cậu khiến Scheherazade vui sướng vô hạn. Khi nàng đưa mũi vào gần chỗ nách áo và hít vào, nàng cảm thấy mình đang được cậu ôm, hai cánh tay cậu cuộn chặt người nàng.

    Cầm áo trong tay, Scheherazade đi lên tầng hai và nằm trên giường cậu lần nữa. Nàng vùi mặt vào áo cậu và tham lam hít hà. Giờ đây nàng có thể cảm thấy một luồng rung động rã rời phía bụng dưới mình. Đầu vú nàng cũng cứng hẳn lên. Liệu mình bắt đầu có kinh? Không, còn quá sớm. Có phải là động tình? Nếu thế thì nàng phải làm gì? Nàng không biết. Nhưng một điều chắc chắn là không thể làm gì được trong hoàn cảnh này. Không phải trong phòng cậu ấy, trên giường cậu ấy.

    Cuối cùng, Scheherazade quyết định đem chiếc áo về nhà. Rõ ràng điều này thật mạo hiểm. Có khả năng mẹ cậu sẽ phát hiện chiếc áo bị mất. Nếu bà không biết được là nó bị đánh cắp, bà sẽ vẫn thắc mắc rằng nó ở đâu. Một phụ nữ biết quán xuyến căn nhà cực sạch như thế chắc chắn là một người chuyên bị ám ảnh về trật tự vệ sinh. Nếu một thứ gì đó bị mất, bà sẽ lục tung căn nhà lên như một chú chó cảnh sát cho đến khi tìm được nó. Chắc chắn là bà sẽ tìm thấy những dấu vết của Scheherazade trong phòng quí tử của mình. Nhưng dù Scheherazade hiểu rõ điều này, nàng vẫn không muốn rời bỏ chiếc áo. Lý trí nàng bất lực trong việc thuyết phục con tim nàng.

    Thay vì thế, nàng bắt đầu nghĩ đến việc nên để lại thứ gì. Quần lót có lẽ là lựa chọn đúng nhất. Nó là món đồ bình thường, đơn giản, tương đối mới và vừa thay sáng nay . Nàng có thể giấu nó tận góc tủ trong tường. Liệu còn món đồ nào hợp lý hơn để trao đổi cơ chứ? Nhưng khi nàng cởi nó ra, nàng thấy đáy quần bị ẩm. Hẳn là do mình quá rạo rực, nàng nghĩ. Thật khó để bỏ lại một vật bị ô uế bởi nhục dục của mình trong phòng cậu ấy. Nếu thế nàng sẽ tự hạ phẩm giá mình. Nàng mặc lại quần lót và bắt đầu suy tính xem nên để lại một thứ nào khác.

    Scheherazade cắt đứt câu chuyện. Nàng không nói một lời nào suốt trong một quãng dài. Nàng cứ nhắm mắt nằm yên. Habara cũng nằm yên bên cạnh, đợi nàng tiếp tục câu chuyện.

    Cuối cùng, nàng mở mắt và nói. "Này, anh Habarra," nàng bảo. Đây là lần đầu tiên nàng gọi tên anh.

    Habara nhìn nàng.

    "Anh nghĩ mình làm thêm lần nữa được không?"

    "Tôi nghĩ mình đủ sức," anh trả lời.

    Và họ làm tình lần nữa. Nhưng lần này rất khác biệt so với lần trước. Mãnh liệt, cuồng nhiệt và cạn kiệt. Rõ ràng là nàng đạt đến cực khoái ở phút cuối. Một cơn co thắt dữ dội khiến nàng run rẩy. Thậm chí mặt nàng cũng bị biến dạng. Đối với Habara, điều này giống như anh vừa thoáng bắt gặp Scheherazade thời còn trẻ: người đàn bà trong tay anh hiện là một cô gái mười bảy đau khổ đang bị giam lỏng trong thân thể của một bà nội trợ ba mươi lăm tuổi. Habara có thể cảm nhận được cô trong ấy, mắt cô nhắm nghiền, người cô run rẩy, đang ngây thơ hít thở hương vị từ chiếc áo thun đẫm mồ hôi của một cậu con trai.

    Lần này, Scheherazade không kể chuyện cho anh nghe sau khi làm tình. Nàng cũng không xem xét thành phần trong bao cao su của anh. Họ nằm yên bên nhau. Mắt nàng mở to, nhìn lên trần nhà. Như một con lươn mút đá nhìn lên mặt nước sáng. Sẽ tuyệt vời biết bao, Habara nghĩ, nếu anh cũng sống trong một thời điểm hoặc khung cảnh khác - rời bỏ con người đơn độc, được định nghĩa rõ ràng mang tên Nobutaka Habara phía sau và trở thành một con lươn mút đá vô danh. Anh mường tượng mình và Scheherazade kề bên nhau, những giác hút của họ bám chặt vào một tảng đá, thân mình họ lắc lư theo sóng, dõi mắt lên mặt nước đợi chờ một chú cá hồi béo lặng lẽ bơi qua.

    "Vậy cô để lại vật gì để đổi lấy chiếc áo?" Habara phá tan im lặng.

    Nàng không trả lời ngay.

    "Chẳng có thứ gì," cuối cùng nàng nói. "Chẳng có thứ gì tôi đem theo có thể sánh ngang với chiếc áo mang mùi cậu ấy. Vì thế tôi lấy chiếc áo và lẻn về. Chính vào lúc ấy tôi đã trở thành một kẻ trộm đúng nghĩa."

    Rồi mười hai ngày sau, Scheherazade quay lại nhà cậu ấy lần thứ tư, trên cửa trước có một ổ khoá mới. Màu vàng của nó ánh lên dưới ánh nắng trưa, như đang khoe khoang độ chắc tuyệt vời của mình. Và cũng không có chìa khoá nào giấu dưới thảm. Rõ ràng, nghi ngờ của mẹ cậu tăng lên khi chiếc áo bị mất. Hẳn bà đã lục lọi từ trên xuống dưới, phát hiện ra những dấu hiệu khác cho biết có chuyện lạ xảy ra trong nhà mình. Bản năng của bà thật chính xác và hành động của bà cũng dứt khoát.

    Đương nhiên Scheherazade thấy thất vọng về việc này, nhưng cùng lúc nàng lại thấy nhẹ người. Cứ như ai đấy đứng sau và nhấc đi gánh nặng trên vai nàng. Điều này có nghĩa là mình không phải tiếp tục lẻn vào nhà cậu ta nữa, nàng nghĩ. Chắc chắn rằng nếu chiếc ổ khoá không bị thay thì việc nhập nha của nàng sẽ còn tiếp tục mãi. Cũng chẳng nghi ngờ gì rằng cứ mỗi lần nàng sẽ có những hành động táo bạo hơn. Cuối cùng một thành viên trong gia đình sẽ bắt gặp nàng ở trên lầu. Sẽ chẳng có đường tẩu thoát. Cũng không có cách nào để nàng giải thích chạy tội. Đây là tương lai đang đợi chờ nàng, chẳng chóng thì chầy, và hệ quả hẳn sẽ vô cùng khốc liệt Giờ thì nàng đã tránh được nó. Có lẽ nàng nên cám ơn mẹ cậu - mặc dù nàng chưa bao giờ gặp bà - vì đã có đôi mắt diều hâu.

    Mỗi tối trước khi ngủ Scheherazade lại ngửi mùi chiếc áo thun của cậu ấy. Nàng giữ nó bên mình khi ngủ. Mỗi sáng trước khi đến trường nàng lại lấy giấy gói nó lại và giấu đi. Rồi sau cơm tối, nàng lại lôi nó ra để vuốt ve và hít hà. Nàng lo rằng cái mùi ấy sẽ nhạt dần theo thời gian, nhưng điều này lại không xảy ra. Mùi mồ hôi của cậu đã mãi mãi thấm sâu vào chiếc áo.

    Với việc đột nhập không còn thực hiện được, đầu óc Scheherazade dần dần trở lại bình thường. Nàng bớt mộng ngày hơn trong lớp, và nàng bắt đầu hiểu được lời giảng của thầy giáo. Tuy thế, chú tâm chính của nàng vẫn không là giọng nói của thầy giáo mà lại là thái độ của cậu bạn học. Nàng bí mật dán mắt vào cậu, cố gắng thăm dò một thay đổi nào đấy, bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy cậu đang lo lắng một việc gì. Nhưng cậu vẫn ứng xử bình thường. Cậu ngửa đầu và cười một cách hờ hững hệt như trước, và nhanh chóng trả lời khi được thầy gọi. Cậu vẫn hét lớn khi tập bóng và cũng đổ bấy nhiêu mồ hôi. Nàng không tìm thấy được dấu hiệu bất thường nào - chỉ là một thiếu niên ngay thẳng, đang sống một cuộc sống chưa bị vẩn đục.

    Tuy nhiên, Scheherazade biết được một mảng tối trong người cậu, hoặc một điều gì tương tự thế. Khả năng rất cao là không ai khác biết được điều này. Chỉ mình nàng (và, nghĩ cho cùng, có thể mẹ cậu nữa). Trong lần đột nhập thứ ba, nàng đã khám phá ra một số tạp chí khiêu dâm được giấu một cách khéo léo trong một hốc kẽ tận cùng của ngăn tủ trong tường. Chúng đầy những hình ảnh các cô gái trần truồng đang dạng chân phô bày lồ lộ chỗ kín của mình. Một số ảnh chụp các động thái làm tình: những người đàn ông đang đưa những dương vật to như cổ chày vào người các cô gái trong những tư thế phi tự nhiên nhất. Scheherazade chưa bao giờ để mắt đến những hình ảnh như thế trước đây. Nàng ngồi tại bàn học của cậu và từ tốn giở xem hết các tạp chí, nghiên cứu từng bức ảnh với niềm thích thú tột độ. Nàng đoán là cậu ấy đã thủ dâm khi xem chúng. Nhưng ý nghĩ này không khiến nàng cảm thấy ghê tởm. Nàng xem chuyện thủ dâm như một hành động hoàn toàn bình thường. Cả đống tinh trùng ấy cần phải có chỗ xả, cũng như con gái cần phải có kinh. Nói cách khác, cậu là một thiếu niên bình thường. Không phải anh hùng hay thần thánh. Nàng cảm thấy nhẹ nhõm khi nhận thức được điều này.

    "Khi việc đột nhập của tôi chấm dứt thì nỗi đam mê của tôi đối với cậu ta cũng bắt đầu nguội dần. Nó từ từ, như dòng triều đang rút khỏi một bờ biển dài xoải dốc. Chẳng biết vì điều gì, tôi thấy mình ít ngửi chiếc áo hơn và ít dành thời giờ để vuốt ve cây viết chì và chiếc huy hiệu của cậu ấy hơn. Cơn sốt đã qua. Cái mà tôi mắc phải không như một cơn bệnh mà là một điều có thực. Một khi nó còn tồn tại, tôi không thể suy nghĩ chính chắn được. Có thể đến lúc nào đấy ai cũng phải trải qua một thời kỳ điên rồ như thế. Hoặc có thể nó chỉ xảy ra với tôi thôi. Còn anh thì sao? Anh có từng trải qua điều gì như thế không?"

    Habara cố nhớ nhưng không tìm được gì. "Không, tôi không có điều gì dữ dội như thế," anh nói.

    Scheherazade trông có vẻ hơi thất vọng vì câu trả lời của anh.

    "Cuối cùng, tôi quên hẳn cậu ấy sau khi tốt nghiệp. Thật nhanh chóng và dễ dàng, kỳ lắm. Cậu ấy có gì khiến con người mười bảy tuổi của tôi bị lụy tình nặng nề đến thế? Dù cố gắng đến đâu, tôi không thể nhớ được. Cuộc đời thật kỳ lạ phải không? Ta có thể bị một điều gì đấy hớp hồn trong phút chốc, sẵn sàng hi sinh mọi thứ để chiếm lấy nó, nhưng một thời gian ngắn qua đi, hoặc quan điểm của ta hơi thay đổi, và bất thình lình ta bị sốc khi thấy nó toả sáng rồi lụi tàn ra sao. Mình nhìn thấy điều gì? ta tự hỏi. Và đấy là câu chuyện về thời kỳ 'đột nhập nhà' của tôi."

    Nàng làm như nó là Thời kỳ Xanh của Picaso, Habara nghĩ. Nhưng anh hiểu ý nàng muốn nói gì.

    Nàng liếc nhìn chiếc đồng hồ bên giường. Đã gần đến lúc nàng phải đi.

    "Thật sự mà nói," cuối cùng nàng bảo, "câu chuyện chưa dừng ở đấy. Vài năm sau, khi tôi đang học năm thứ hai trường y tá, một sự run rủi của số phận đã đem chúng tôi lại với nhau. Mẹ cậu ấy đóng vai trò rất lớn trong việc này; thực ra có điều gì rờn rợn trong câu chuyện ấy - cứ như những chuyện ma. Những sự kiện xảy ra theo một chiều hướng thật khó tin. Anh có muốn nghe nó không?"

    "Tôi rất muốn nghe," Habara nói.

    "Nên đợi đến lần tới," Scheherazade nói. "Trễ rồi. Tôi phải về nhà nấu cơm chiều."

    Nàng bước ra khỏi giường và mặc quần áo vào - quần lót, vớ da, áo lót, và cuối cùng là váy và áo. Habara nằm trên giường lơ đãng ngắm nhìn các động tác của nàng. Anh khám phá ra rằng cách thức phụ nữ mặc quần áo vào thậm chí còn lý thú hơn là khi họ cởi chúng ra.

    "Có cuốn sách nào anh cần mua không?" nàng hỏi khi đang bước ra cửa.

    "Không, tôi không nghĩ ra được cuốn nào cả," anh trả lời . Điều anh thực sự muốn, anh nghĩ, là nàng kể cho anh nghe phần còn lại của câu chuyện, nhưng anh đã không nói thành lời. Làm thế có thể khiến dẫn đến nguy cơ anh không bao giờ được nghe nó nữa.

    Tối ấy Habara đi ngủ sớm và nhớ đến Scheherazade. Có lẽ anh sẽ không bao giờ gặp lại nàng. Điều này khiến anh lo lắng. Khả năng này rất thật. Chẳng có một quan hệ cá nhân nào - không lời hứa hẹn, không chút hiểu ngầm - để giữ họ lại với nhau. Quan hệ giữa họ là một quan hệ tình cờ do người khác tạo ra, và có thể bị phá tan nếu người ấy muốn. Nói cách khác, họ kết dính với nhau bởi một sợi chỉ mong manh. Rất có thể - không, chắc chắn - rằng sợi chỉ ấy cuối cùng sẽ bị đứt và anh sẽ mất tất cả những câu chuyện kỳ lạ mà nàng đã kể. Câu hỏi duy nhất là khi nào.

    Cũng có thể là anh sẽ, vào một thời điểm nào đấy, bị tước mất tự do hoàn toàn, trong trường hợp ấy không những Scheherazade mà toàn bộ giới nữ cũng sẽ biến mất khỏi đời anh. Sẽ không bao giờ anh còn được đưa mình vào trong những cơ thể ướt át đầy ấm cúng của họ. Sẽ không bao giờ anh còn cảm thấy họ ưỡn người hưởng ứng. Tuy nhiên, với Habara, có lẽ một viễn cảnh còn tuyệt vọng hơn cả việc chấm dứt quan hệ tình dục là việc mất đi những giây phút chia sẻ nỗi riêng tư với nhau. Một mặt, khoảng thời gian anh có được với phụ nữ là cơ hội để anh đón nhận thực tế, mặt khác lại để hoàn toàn phủ nhận nó trong cùng lúc. Đấy là điều mà Scheherazade đem lại rất nhiều - thật thế, món quà của nàng là vô tận. Viễn cảnh phải mất nó khiến anh cảm thấy buồn nhất.

    Habara nhắm mắt lại và ngưng nghĩ về Scheherazade. Thay vì thế, anh nghĩ đến loài lươn mút đá. Về những con lươn không hàm đang dính chặt vào đá, ẩn mình trong đám cỏ, vật vờ tới lui theo làn sóng. Anh tưởng tượng mình là một con lươn, đợi chờ một con cá hồi xuất hiện. Nhưng chẳng có con cá hồi nào bơi qua, dù anh đợi đến bao lâu. Không một con cá béo, cá gầy, chẳng một con nào. Cuối cùng mặt trời lặn xuống, và thế giới của anh bị bóng đen phủ kín.
    ___________________

    (*) Lươn mút đá: nguyên văn tiếng Anh "Lamprey" (tham khảo thêm: http://en.wikipedia.org/wiki/Lamprey)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi