Nguyễn Văn Tuấn - 40 năm trước kinh tế VN bằng Hàn Quốc?

  • Bởi Admin
    26/12/2014
    32 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn

    Một bài báo trên Vietnamnet của một vị giáo sư cao tuổi viết rằng "Khoảng 40 năm trước đây kinh tế Việt Nam với Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên còn ngang hàng nhau. So với Hàn Quốc kinh tế ở miền Bắc khi đó còn nhỉnh hơn một chút. GDP bình quân đầu người ở miền Bắc là khoảng 100 USD/người, còn Hàn Quốc là khoảng 80 USD/người." Cứ mỗi lần đọc những nhận xét như thế này tôi thấy phân vân vì khó tin. Tôi nghĩ 40 năm trước, Hàn Quốc đã hơn hẳn VN về kinh tế và khoa học & công nghệ.

    Tôi thử kiểm tra nguồn tài liệu của World Bank (1) thì thấy rõ ràng năm 1975, Hàn Quốc có GDP cao hơn Việt Nam. Theo số liệu của World Bank World Development Indicators do nhóm Oxford Economic Forecasting phân tích, thì năm GDP của Hàn Quốc năm 1975 là 100 tỉ USD (tính theo giá trị năm 2010), cao gấp 5.5 lần so với VN (lúc đó ước tính là 18.1 tỉ USD). Thật ra, năm 1975, GDP của Thái Lan là 43.2 tỉ USD, tức đã hơn gấp 2 lần VN.

    Tôi thấy mấy con số này có vẻ phù hợp với thực tế mà tôi quan sát. Năm 1981, khi đến Thái Lan, tôi đã thấy họ hơn miền Nam rất xa. Thủ đô Bangkok của họ đã hơn hẳn Sài Gòn về qui mô và trình độ phát triển. Mà, nghĩ cũng hợp lí, một đất nước bị tàn phá vì chiến tranh thì làm sao bằng một đất nước làm giàu trong thời bình, thậm chí còn nhờ chiến tranh của VN mà họ thăng tiến. Chẳng hiểu sao thời đó mình hay gọi Sài Gòn là "Hòn ngọc Viễn Đông". Có lẽ là một cách tự ru ngủ mình thôi.

    Trước 1975, Hàn Quốc (lúc đó tụi tôi quen gọi là "Đại Hàn") từng tài trợ cho miền Nam Việt Nam. Năm 1972 họ từng xây dựng bệnh viện cho VNCH (Bệnh viện Chợ Quán). Trước đó (1969-70) Hàn Quốc đã từng xây xa lộ cho VNCH và được dùng cho đến nay. Thời đó, trình độ công nghệ cầu đường của họ đã hơn hẳn VN (không tính miền Bắc VN). Khó có thể nói 40 năm trước Hàn Quốc tương đương với VN được. Tôi nghĩ 40 năm trước Hàn Quốc đã hơn VN khá xa.

    _________________________

    (1) Tài liệu của World Bank

    Xê Nho NVP: GS Trần Đình Bút khi nêu con số so sánh là có ý tốt thôi: với một xuất phát điểm gần như bằng nhau nhưng 40 năm sau Hàn Quốc đã vượt lên hơn Việt Nam rất nhiều lần. Cái cảnh báo này là cần thiết bởi sau 40 năm đúng là Việt Nam đang tụt hậu so với nhiều nước khác.

    Tuy nhiên con số ông đưa ra không chính xác, càng làm cái nhầm tưởng Việt Nam ngày xưa ngon lành không thua ai càng dai dẳng. Ông nói cách đây 40 năm “So với Hàn Quốc kinh tế ở miền Bắc khi đó còn nhỉnh hơn một chút. GDP bình quân đầu người ở miền Bắc là khoảng 100 USD/người, còn Hàn Quốc là khoảng 80 USD/người”. Nói vậy là nói ẩu.

    GDP đầu người của Hàn Quốc năm 1974 là 569 đô-la Mỹ còn của miền Bắc Việt Nam là 75 đô-la Mỹ và của miền Nam Việt Nam là 114 đô-la Mỹ. Lúc đó Hàn Quốc đã hơn Việt Nam 5, 6 lần rồi.

    Ông Bút nói tiếp: “Thế mà nay họ đã gần 40.000 USD/người, ta mới khoảng 2.000 USD/người. Họ đã hơn ta gấp 18 – 20 lần!” Con số gần 40.000 đô-la này cũng là nói ẩu.

    Thực tế GDP đầu người của Hàn Quốc năm 2013 là 25.977 đô-la Mỹ và của Việt Nam là 1.911 đô-la, tức nước họ hơn chúng ta khoảng hơn 13 lần.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    32 phản hồi

    Ai muốn tin thì tin, ai không tin cũng chẳng chết con ruồi nào:

    Công nhân viết:
    Hình như trong này không có bác nào chịu đọc cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy" của Nguyễn Tiến Hưng để thấy thảm cảnh kinh tế của VNCH. Đến cả gạo mà VNCH còn phải nhập khẩu để mà ăn thì còn làm được cái gì mà đòi so sánh với Nam Hàn.

    Đời sống dân miền Bắc trong thời gian này như thế nào, có được ăn cơm?

    Ai tin wikipedia thì tin, đêk tin cũng đêk chết con muỗi nào.
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

    Trích một đoạn trong Wikipedia:
    ....Do cải tiến kỹ thuật và giống lúa mới đã nâng sản xuất nông nghiệp lên tới bảy triệu tấn thóc vào năm 1973, tương đương bằng 4,6 triệu tấn gạo, gần tới mức đủ ăn. Dự tính của Nam Việt Nam là chỉ tới 1976 đã có thể xuất cảng.

    Cây công nghiệp được đẩy mạnh để thay thế nhập cảng: sản xuất thuốc lá đã tới trên 18.000 tấn so với 9.000 tấn năm 1971; mía đường lên trên 900.000 tấn, gần gấp ba mức 1970. Dự phóng cho 1975 là sẽ tăng gấp đôi, tức 1,8 triệu tấn. Ngô bắp thì từ 31.000 tấn (1970), tăng lên trên 50.000 tấn (1974). Đồn điền cao su với diện tích hơn 100.000 hecta vào năm 1968 sản xuất chỉ hơn 20.831 tấn năm 1969 nhưng đến năm 1970 đã đạt 24.100 tấn[23] lại có khả năng phục hồi sản xuất trên 70.000 tấn cao su như mức tiền chiến.[24]
    Xuất cảng tôm và hải sản từ vỏn vẹn 500.000 lên gần 11 triệu đô la. Dự đoán cho 1975 là 30 triệu. Tổng số xuất cảng năm 1973 lên tới 53 triệu, tăng gấp ba lần năm 1972.

    Tháng ba 1972, quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công mạnh trên vùng vĩ tuyến. Đà tiến triển kinh tế bỗng khựng lại do trên 200 cầu bị hư hại, đường sá bị phá huỷ, 40% sản xuất cao su bị mất vì rừng cao su đã thành bãi chiến trường. Thêm mấy trăm ngàn người nữa từ miền vĩ tuyến chạy vào phía nam, làm cho số người di cư tăng vọt lên 1,2 triệu. Áp lực nhu cầu tiếp tế lương thực, nước uống, thuốc men, vệ sinh, lều trại cho những người chạy nạn chiến tranh càng thêm nặng. Lại là năm mất mùa vì hạn hán nên nhập cảng gạo nhảy lên 284.000 tấn.

    Đem ông Nguyễn Tiến Hưng ra để còm, chứng minh thì đem cho hết nhá.
    Cũng theo ông Nguyễn Tiến Hưng, trong Wiki:

    Theo đánh giá của ông Nguyễn Tiến Hưng, tiến sĩ kinh tế, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, hiện là giáo sư tại Đại học Howard.[17], nền kinh tế miền Nam trong thời kỳ trước và sau khi người Mỹ có mặt có sáu đặc tính rõ ràng:

    1. Cơ cấu kinh tế nghiêng hẳn về cung cấp dịch vụ, chiếm 55% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Sản xuất hàng hoá, vật dụng không nhiều.

    2. Do công nghiệp nặng và hóa chất vẫn ở mức sơ khai, nên nguyên vật liệu phải lệ thuộc vào nhập cảng: gạo, xăng dầu, phân bón, xi măng, hàng tiêu thụ, vật liệu sản xuất. Trung bình là phải nhập 750 triệu đô la một năm.

    3. Tiết kiệm xuống số âm: trung bình bằng -5% GDP. Lúc còn hoà bình, có năm đã lên tới +6% GDP (1960). Khi chiến tranh leo thang thì không còn có thể tiết kiệm nội địa, đầu tư cho phát triển phải tuỳ thuộc vào tiền bạc từ bên ngoài.

    4. Gánh nặng kinh tế của nạn nhân chiến tranh: đoàn người di tản từ những vùng có chiến sự lên tới vài triệu. Số đông di tản về thành thị, làm số người ở đây lên tới 40% tổng dân số (năm 1960 chỉ có 22%). Kết quả là thất nghiệp cao ở thành thị (14%), các khu ổ chuột cùng với những tệ nạn xã hội đi kèm trong khi nông thôn lại thiếu người canh tác.

    5. Gánh nặng quốc phòng: nhu cầu quốc phòng quá lớn, cần chi tiêu tới 50% ngân sách (242 tỷ đồng). Tài trợ cho phát triển chỉ còn 9% (66 tỷ đồng). Về vấn đề nhân lực thì rất nhiều thanh niên còn phải tham chiến, chưa kể 310.000 công, tư chức. Ngoài ra còn số người di tản kể trên, tất cả cũng vượt 30% nhân lực lao động.
    6. Tâm lý dựa vào viện trợ: Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa bé nhỏ, sản xuất căn bản là nông nghiệp. Khi quân đội Mỹ sang thì nhu cầu quốc phòng, tiêu dùng, xây dựng hạ tầng lớn. Sản xuất còn yếu kém, căn bản chỉ là lúa gạo nên chỉ còn cách nhập hàng hoá từ nước ngoài. Tài trợ nhập hàng hoá đang từ 162 triệu đôla năm 1964 tăng lên tới 830 triệu năm 1966, cao hơn năm lần. Sự kiện này làm tăng lên mức độ của tâm lý lệ thuộc của kinh tế Việt Nam Cộng hòa và mang tới nhiều cơ hội tham nhũng cho nhiều quan chức chính phủ.

    Công Nhân viết:
    Cái ô tô La Dalat mà nhiều bác ca tụng thì nó là của công ty Citroen lắp ráp ở Việt Nam. Nó là phiên bản xe của Citroen lắp ráp ở các nước nghèo mạt rệp như Bờ Biển Ngà, Sénégal chứ có gì mà tự hào.

    Thế bây giờ, hoà bình đã 40 năm, Việt Nam là một qg "Độc lập, Tự do, Hạnh phúc" đã làm xong một con vít có chất lượng cao? Có lắp được cái xe 2 bánh xuất cảng mang nhãn hiệu " made in VN"? Hay thực phẩm, quần áo, giầy dép xuất cảng bị trả về đều đều vì không đủ chất lượng?
    Người miền Nam có quyền tự hào về một thành quả cách đây 50 năm, dù chỉ là một phiên bản của Citroen, nhưng nó mang nhãn hiệu "made in VN" . Trên hết là phiên bản này thành công và có chất lượng cao.
    Bi giờ VN có gì để tự hào?
    Dè biểu người, bản thân mình đã hơn được ai, hay đang tụt hậu so với Lào, Cam?

    Gì thì gì nhể.
    Cứ xem cảnh người miền Bắc vào Nam cõng bao nhiêu những của cải vật chất của miền Nam- được mệnh danh là chiến lợi phẩm- thì biết ngay.
    Cho nên dân miền Nam mới có câu: Bộ đội là đi bộ vào Nam (rồi) đội của về Bắc và những câu chuyên kể về anh bộ đội.
    CSBV cứ lu loa chuyện Mỹ bỏ bom miền Bắc 12 ngày đêm, dưng cố tình quên mẹ nó, chiến trường chính là miền Nam, cái đường mòn HCM chỉ để phục vụ cho chuyện đem người và vũ khí tấn công miền Nam. Những thiệt hại mà người dân miền Nam, tới bây giờ cả nước phải chịu, là do CSBV gây ra.
    So sánh nền kinh tế của 2 Quốc gia, trong cùng một thời gian nhưng có những điều kiện khác nhau như hoà bình, chiến tranh, viện trợ nhiều ít.... là khiên cưỡng, che dấu một mặc cảm nào đó.
    Điều kiện tiên quyết để so sánh kinh tế của 2 hay nhiều Quốc gia là khởi điểm của 2 Qg đó. Có chiến tranh hay không, trước và sau chiến tranh ra sao, sự tàn phá của chiến tranh cao thấp, hậu quả của nó. Quan trọng không kém là chính phủ của QG đó, sau chiến tranh, có muốn cho Đất nước được phát triển, đa số người dân được sống một đời sống, được coi là thành phần trung lưu, xã hội đó yên lành.

    Một so sánh có thể tạm chấp nhận là một so sánh về cả 2 miền Nam Bắc trong thời kỳ chiến tranh: Có cùng một xuất phát, có viện trợ của cả 2 phe CS, TB. Đừng quên rằng toàn thể đất đai miền Nam, thành phố và thôn quê là một bãi chiến trường thật sự trong suốt 20 năm. Còn miền Bắc chỉ có 12 ngày đêm bị bom Mỹ dội trên những vùng cố định.
    cbn

    Cách đây 40 năm, kinh tế Hàn quốc hơn hẳn VNCH?
    Điều ấy, theo tôi là đúng, bởi vì lý do sau:
    Lấy mốc thời gian từ năm 1954 đến 1975....Hàn quốc yên bình để xây dựng kinh tế và phát triển về mọi mặt.
    Trong khi đó, miền Nam Việt Nam lúc nào cũng lo chống đỡ chiến tranh xâm lược từ miền Bắc ( với sự yểm trợ tối đa của khối CS quốc tế). Nhà cửa điêu tàn, đường xá bị phá hủy, lòng dân ly tán và biết bao người bị chết. Vậy, miền Nam không phát triển bằng Hàn quốc là chuyện đương nhiên. Nhưng nếu không có cuộc xâm lăng từ phương Bắc....thì ai có thể cấm miền Nam phát triển bằng Hàn quốc!?!?.

    Hình như trong này không có bác nào chịu đọc cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy" của Nguyễn Tiến Hưng để thấy thảm cảnh kinh tế của VNCH. Đến cả gạo mà VNCH còn phải nhập khẩu để mà ăn thì còn làm được cái gì mà đòi so sánh với Nam Hàn.

    Cái ô tô La Dalat mà nhiều bác ca tụng thì nó là của công ty Citroen lắp ráp ở Việt Nam. Nó là phiên bản xe của Citroen lắp ráp ở các nước nghèo mạt rệp như Bờ Biển Ngà, Sénégal chứ có gì mà tự hào.

    Còn so với Hàn Quốc hay Đài Loan thì VNCH lấy đâu ra cửa để mà so sánh. Hàn Quốc và Đài Loan là thuộc địa của Nhật nên họ thừa hưởng cơ sở hạ tầng công nghiệp từ Nhật rất nhiều. Ngay cả Bắc Hàn những năm 1950s-1970s cũng là một ông sao sáng của các nước thế giới thứ ba nhờ vào di sản của Nhật để lại, và đến ngày nay họ vẫn có một nền công nghiệp quân sự khá hùng hậu nhờ vào di sản đó

    Chưa kể chính phủ Nam Hàn và Đài Loan là những chính phủ kháng chiến chống Nhật để giải phóng đất nước giống như chính phủ Bắc Việt nên họ được lòng dân, tiếng nói của họ có uy tín. Còn chính phủ VNCH không có người có truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc thì làm sao mà thu phục được lòng người. Chính vì vậy dân Miền Nam nổi dậy tùm lum.

    VNCH hết phải dẹp Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên xong thì lại nhảy vào xâu xé chém giết lẫn nhau bằng những cuộc đảo chính hoặc bầu cử giả tạo. Sau đó thì VNCH lại xung đột với Phật giáo và Việt cộng. Không phải vô cớ mà VNCH bị giới chính trị, trí thức và nhà báo Phương Tây khinh miệt từ xưa đến nay.

    Trong phẩn giải thích về chỉ số GDP của VNCH, link cho bản thống kê trong Wikipedia.org mà tôi dùng bị hỏng; link đúng là: http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_t%E1%BA%BF_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a#Vai_tr.C3.B2_c.E1.BB.A7a_Hoa_K.E1.BB.B3

    ...
    Nhưng để hoạch định KT, chế độ VNCH vẫn phải dùng con số dân của cả miền Nam, tôi dựa vào bản thống kê này của thời VNCH đó để xác định chính xác viện trợ trên từng đầu người:
    ...

    Sự so sánh đáng làm là từ lúc cả hai nền kinh tế vừa bắt đầu đi vào một sự phát triển, hay nói đúng ra là từ khi mỗi nước bắt đầu làm kinh tế -- sau khi chấm dứt chiến tranh hoặc sau khi bước ra khỏi cơn mê kinh tế đầy ảo tưởng của thời bao cấp. Như vậy có thể so Việt Nam từ đầu thập niên 1990 với Nam Hàn từ năm 1967 trở đi, với mục tiêu rà soát xem Nam Hàn đã qua những mốc nào để Việt Nam chuẩn bị bước qua. So sánh cùng năm không có ích lợi nào ngoài việc củng cố mặc cảm xấu hổ.

    Mặt khác, vào những năm 60 người Miền Nam tự hào là giàu hơn Đại Hàn. Cái cảm giác đó là có thật, và các con số còn ghi nhận: GDP trên đầu người trong 2 năm 60 và 61 của Miền Nam Việt Nam vào khoảng 200 USD, gấp đôi Đại Hàn. Suốt một thập niên sau GDP trên đầu người của hai miền nam này trồi sụt và gần bằng nhau. Sự trồi sụt có nghĩa là các nước này chưa đi vào giai đoạn "làm kinh tế".

    Hãy xét KT VN trước khi bị chia đôi làm 2 chế độ chính trị. Về mặt đầu tư thì Nam Kỳ (Cochinchine) với trung tâm là Sài Gòn vì là thuộc địa thực sự của Pháp nên luôn luôn được Pháp đổ tiền đầu tư vào nhiều nhất. Năm 1945 thì do Nhật mà 2 triệu người VN tại Bắc Kỳ bị chế đói nhưng không có ai bị đói ở miền Nam cả. Hiệp định Geneve 1954 đã đưa hàng triệu người cùng nhiều phương tiện KT, kĩ thuật từ miền Bắc vào miền Nam. Vậy nên KT miền Nam hơn KT miền Bắc những năm 1960 không có gì lạ cả.
    Còn nói viện trợ nước ngoài cho các bên VN thì viên trợ cho miền Bắc hầu hết là các nhu yếu phẩm cho chiến tranh, không có hàng hoá tiêu dùng bình thường trong khi miền Nam có rất nhiều hàng hoá xa xỉ.
    Rất tiếc là do chiến tranh liên miên nên cả 2 miền Nam Bắc VN đều không có điều kiện để tập trung cho phát triển KT. So sánh KT giữa hai miền trong thời gian chiến tranh không có nhiều ý nghĩa.
    Tôi nghĩ nếu TS Trần Đình Bút nói cách đây 50 hay 60 năm khi cả hai miền Nam Bắc Hàn đều bị tàn phá rất nặng nề bởi CT và do đó thu nhập bình quân đầu người có thể thấp hơn VN thì có lẽ hợp lí hơn.

    Hai chế độ (VNCH và VNDCCH) trước 75 đang ở trong chiến tranh, và do đó cả hai đã lệ thuộc nặng nề vào viện trợ KT cũng như QS của các nước cùng phe. Đó là sự thật, và miền Bắc đã lệ thuộc vào Nga và TQ nặng hơn cả miền Nam. Trích từ trang 180 của cuốn America Coming To Terms của TS Nguyễn Anh Tuấn:

    U.S. Efforts in Containing Communism in Vietnam

    During the Vietnam War, U.S. aid to the Republic of Vietnam (South Vietnam) had been the country's most important assistance. From 1954 to 1974, approximately $7.5 billion of economic aid and over $15 billion of military aid was provided with the amount far outstripping the total aid. primarily economic essentially,that was provided by other countries. Contributions from France ($65 million), West Germany ($65.7), Japan ($9.9), England ($9.3), Australia ($39), Canada ($18.6), New Zealand ($4.9), and Taiwan and South Korea ($18.3) played a less important role. There were other countries in the Colombo Plan and many international organizations participating in the various bilateral and multilateral assistance programs. But among those granting their assistance to South Vietnam the United States was, undoubtedly, the one with the most determining influence. In the same period, economic aid alone from the "Communist world" to the Democratic Republic of Vietnam (North Vietnam) amounted to 6.2 billion rubles. China alone contributed economic and military aid to North Vietnam that far exceeded $10 billion. In 1979, the Chinese government revealed that more than three hundred thousand Chinese troops were dispatched to help North Vietnam between 1965 and 1968. Declassified Soviet intelligence data after 1975 seemed to confirm the Chinese source. Other Soviet intelligence data also disclosed that Soviet and Chinese antiaircraft teams, as well as soviet pilots, were shooting down American planes over North Vietnam. As for the Soviet Union, it provided at least as much direct economic and military aid as China. Estimate of overall military and economic aid from the Soviet Union to North Vietnam, however was up to $4 billion a year through 1980s. Thus, contrary to general belief, North Vietnam had depended even more, and almost entirely, on external sources of funding for its warfare supplies. If there was any doubt about the nature of the Vietnam War, the Soviet Union certainly perceived it as a proxy war between the two superpowers and provided strong backing and …

    Và khi chính miền Nam là chiến trường chính, nhận lãnh bom đạn chỉ ít hơn đường mòn HCM, là vùng bị phá hoại và chết chóc nhiều nhất, với một lực lượng quân dân lớn của miền Nam phải dồn mọi công sức cho việc chiến đấu với CS ngay trên đất miền Nam - trong khi miền Bắc chỉ bị oanh tạc trong một vài giai đoạn ngắn - thì nền KT không “yếu kém” đi thì mới là chuyện lạ! Lạ là KT miền Nam đã không bị dùi xuống hố, dưới cả miền Bắc! Ông Công Nhân có thể phản biện “vì đó là nhờ viện trợ của Mỹ” thì chắc chắn có phần đúng, nhưng sẽ bàn về điều đó trong phần 2 ở dưới. Có điều chắc chắn là, đem chiến tranh đến một vùng đất khác thì vùng đó, tính trên sự tàn phá, sẽ phải bị thiệt thòi KT lớn hơn chính mình.

    Trong bài ông Công Nhân đã trích ra (So sánh Nam Hàn, Đài Loan và VNCH về vấn đề viện trợ của Mỹ), tác giả Kevin Gray biện luận một giả thuyết cho rằng hệ thống thuộc địa của Pháp đã khiến VNCH kém phát triển. Ngoài việc thống kê tác giả dùng không được chính xác, còn có điều nữa là: tác giả là một người Anh, chê người Pháp đã chỉ bóc lột lấy tài nguyên và sản phẩm nông nghiệp thay vì phát triển kinh tế thuộc địa(!). Tác giả cho rằng Nam Hàn và Đài Loan với cai trị của người Nhật đã thực sự có guồng máy công nghệ nhằm phục vụ cho đế quốc Nhật trước 45 và là lý do thúc đẩy phát triển cho 2 nước đó. Cả hai yếu tố có phần đúng và có phần giải thích cho sự phục hồi của Nhật và phát triển của Nam Hàn và Đài Loan, nhưng đó chỉ là yếu tố phụ vì vai trò của người Nam Hàn và Đài Loan dưới thời Nhật trị chỉ là thợ lao công, không phải chuyên môn, họ không được giáo dục tốt so với Việt Nam (điều mà tác giả đã không xét kỹ); thêm nữa, sự phát triển của 2 nước đó là nhờ sự phối hợp của Mỹ cho cả 3 nước Nhật, Nam Hàn và Đài Loan cũng như với VNCH trong thời chiến bằng cách trả tiền cho các doanh nghiệp Nam Hàn và Đài Loan cung cấp hàng hóa, dịch vụ, xây cất cho VNCH trong khoản tiền viện trợ KT (theo cuốn sách về Foreign Aid của tác giả Douglas Dacy) và VNCH mua xe, sản phẩm công nghệ của Nhật. Vì thế cho rằng yếu tố “hoàn cảnh chiến tranh” của VNCH không đáng kể của tác giả Kevin Gray là một ngụy biện; nó là nguồn gốc mọi vấn đề. Trong khi viện trợ cho các nước kia là được dùng trong mục đích kinh tế là chính, ở VNCH thì 15 tỉ đô la là cho quân sự (phần lớn trong giai đoạn 65-75), và $7.5 tỉ cho 20 năm kinh tế từ 54. Quan trọng nhất là, theo 2 sách nêu trên, vì mục đích của vấn đề QS mà Mỹ nắm, các chương trình phát triển KT để có lợi dài hạn cho VNCH không được theo đuổi và quĩ viện trợ KT chỉ nhắm vào mục đích ngắn hạn. Đó là lý do rất lớn cho việc kinh tế miền Nam yếu kém hơn là họ đã có thể mong đạt được.

    Dầu vậy, trong thời chiến tranh với mọi hỗn loạn, đau thương do CS miền Bắc gây ra, VNCH đã có chỉ số KT như thế không phải là quá tệ. Chỉ số GDP của VNCH trước 63, với mức viện trợ Mỹ đã cấp, so với các nước Đông Á kia và Bắc VN là điều chứng minh rõ ràng nhất; gọi đó là thời dùng viện trợ tốt nhất và kinh tế phát triển mạnh nhất là chính xác. Còn nếu đem so sánh giai đoạn 65-75 với các QG Đông Á kia thì là sự so sánh vô lý – giữa một nước đang bị chiến tranh tàn phá và các nước được an bình.

    Vì thế tôi không hề nghi ngờ rằng, nếu VNCH đã không bị chiến tranh thì miền Nam đã có thể tiến triển hơn Nam Hàn bây giờ.

    Và trở lại vấn đề chỉ số GDP.

    Công Nhân viết:
    Giả sử số tiền này chia đều cho 20 năm chiến tranh, và dân số trung bình của Miền Nam là 15 triệu người và VNCH kiểm soát khoảng 2/3 dân số Miền Nam. Thì thu nhập bình quân đầu người của VNCH từ Viện trợ đã là khoảng 850 USD/ người theo giá năm 2011 (170 tỷ/20 năm/10 triệu người)

    Có rất nhiều vấn đề với bài tính này:
    1/ dân số miền Nam đã là khoảng 15 triệu vào lúc chia đôi năm 1954, đến 1975 thì con số ước lượng là khoảng 25 triệu, nên không thể chỉ dùng căn bản 15 triệu dân.
    2/ cho rằng 1/3 dân số là do MTGPMN kiểm soát là con số phóng đại của ĐCS từ xưa tới nay; dựa vào những thống kê của VNCH và Mỹ, thì có trung bình khoảng hơn 300 ngàn VC và số cảm tình viên là khoảng hơn 1 triệu ở thôn quê cũng như ngay trong thành thị; 1/3 số dân chúng miền Nam (6-7 triệu) sống ở những vùng kém an ninh gần các vùng VC kiểm soát và bị áp lực của CS nhiều nhất nhưng họ không thể di chuyển về sống ở thành phố vì nhiều lý do; họ là nạn nhân của những cuộc trộm cướp, trấn lột của cải của VC và bộ đội. Nhưng để hoạch định KT, chế độ VNCH vẫn phải dùng con số dân của cả miền Nam, tôi dựa vào bản của thời VNCH đó để xác định chính xác viện trợ trên từng đầu người:

    Tổng số trợ cấp qua 21 năm: $8540.3 triệu (không tính lạm phát)
    Qua 21 năm, 1 người nhận tất cả: $494.41
    Trung bình 1 năm, Mỹ viện trợ: $406.7 triệu
    Số dân trung bình qua 21 năm: 17.27 triệu
    Trung bình mỗi năm 1 người nhận : $23.5

    Thống kê này đáng tin cậy vì là tài liệu của VNCH thời đó, và có thể thấy dân số tăng dần theo mỗi năm (những năm đầu dân số khá ít, có lẽ vì thống kê chưa đủ chính xác khi chính thể mới thành lập).

    Dùng calculator tính lạm phát để tính tương đương với tiền USD 2011:

    Tương đương tiền 2011
    Tổng cộng từ 55-75: $54,698 triệu
    Năm 55, với $28.03/người: $235
    Năm 66, cao nhất với $47.47/người: $329.6
    Năm 74, với $30.16/người: $137.6

    Trung bình của giai đoạn 55-75 là $23.5/người mỗi năm. Lấy năm 65 làm điểm giữa, thì đó tương đương với $167.8 của 2011 USD, không phải $850/người như ông Công Nhân tính.

    Còn con số 170 tỉ thì không biết ông Công Nhân lấy ở đâu ra?

    Với mọi nguồn có thể tìm thấy, con số chi phí QS cho chiến tranh VN là $111 tỉ (tương đương với 738 tỉ của 2011) cho chi phí của quân đội Mỹ cho giai đoạn 65-75, và $25 tỉ cho viện trợ VNCH từ 54 đến 75 mà 7.5 tỉ (1/3) là cho kinh tế, tương đương với $54.7 tỉ của 2011 (con số theo thống kê là $8.54 tỉ có thể là vì hơn 1 tỉ là cho QS trong giai đoạn 54-65 nhưng không được tách ra riêng trong bản thống kê).

    Tổng cộng chi phí cho chiến tranh VN là $137 tỉ theo đúng 2 con số trên, nhưng các tài liệu báo chí Mỹ thường dùng con số $140 tỉ cho gọn.

    Và cách tính lạm phát của các còm khác trong trang này có vấn đề lớn! Lạm phát có ý nghĩa chỉ trong hoàn cảnh của KT chính QG đó mà thôi; khi đã đổi qua USD thì chỉ số GDP per capita của năm đó đã phản ảnh đúng giá trị sản xuất rồi, không thể tính lạm phát thêm một lần nữa (double count) bằng cách hạ chỉ số đó thêm 50%; USD có tỷ lệ lạm phát riêng của nó không dính dáng đến lạm phát của VNCH. Double count là có ác ý nhằm bôi nhọ.

    Lý do chính của lạm phát thời VNCH là vì, ngoài việc sức sản xuất đi xuống khi chiến tranh leo thang mà số người lại tăng lên, quỹ dự trữ ngoại tệ (foreign reserves) gồm phần lớn là tiền USD bị thâm thủng do tiền viện trợ KT xuống mà mức chi tiêu nhập cảng cao lên. Nếu quỹ xuống, tỉ dụ 30%, thì tất cả giá các hàng hóa nhập cảng mua bằng đô la sẽ tăng cao, mức hối đoái đô la sẽ lên 30% hoặc hơn, và mọi giá cả khác cũng tăng theo.

    Khoảng thời gian từ 72-74, VNCH nhận ít đi khoảng 26% tiền viện trợ KT so với sáu năm trước đó (66-71 trung bình là $37.7 so với $27.8 từ 72 theo thống kê trên). Tiền viện trợ chiếm 25-40% của GDP per capita trong giai đoạn quân đội Mỹ đến từ 65 và 3 năm cuối của VNCH, thay vì chỉ ở mức 10-15% trước 63. Giảm viện trợ đây là sự chuẩn bị cho màn kết của chiến tranh với “khoảng cách tử tế” cho Mỹ (Decent Interval). Sau kết thúc của “Vietnamization” năm 72 khi nhiều vũ khí và quân trang đã trao cho VNCH, Mỹ đã giảm viện trợ hẳn cho 73 và 74. Đến 75 thì ai cũng đã biết mức viện trợ ra sao rồi.

    Và hối đoái với đô la tăng lên không những vì giá hàng nhập cảng, nhưng còn vì chính các ngân hàng Mỹ bán rẻ đi quỹ tiền dự trữ VNCH. (Quỹ tiền dự trữ VNCH các ngân hàng Mỹ có là do họ đã đổi tiền viện trợ (USD) chính quyền VNCH nhận được của chính phủ Mỹ với tiền VNCH để người Mỹ cũng như lính Mỹ có thể dùng tiền VNCH cho các dịch vụ trong thị trường miền Nam qua quầy hối đoái của ngân hàng.) Họ đã bán tháo đi vì họ không còn lý do để giữ tiền VNCH nữa sau khi hiệp ước Paris 73 được ký. Các nước khác chỉ có ít hoặc không có ngoại tệ VNCH nên không đáng kể cho sự xuống giá này.

    Tóm lại, như tôi đã viết trên, nền KT của miền Nam trước 75 không tệ như ông Công Nhân vẽ; nó đã có thể khá hơn nhưng những chỉ trích thực sự không có cơ sở mà có tính cách bôi nhọ chế độ VNCH (kể cả từ những người Âu Mỹ, do mục đích muốn chạy tội cho sự phản bội của chính quyền Mỹ).

    Tôi có hy vọng gì để đọc phân tích tương tự sự lệ thuộc của miền Bắc vào viện trợ từ Liên Xô và TQ không?

    TB: Viết phản hồi này xong thì Dân Luân đổi trình bày nên không thể post ngay. Bây giờ mới có thời gian hoàn tất việc post còm này.

    Khách-SJ viết:

    Các số tiền viện trợ phần lớn không thể được tính trong thống kê này vì nó trực tiếp được dùng trong lãnh vực quân sự dưới hình thức súng đạn, xe tăng, máy bay, xăng dầu, v.v.; nó không do VN sản xuất, không được bán đi và chỉ được dùng để giết/phá, không có giá trị gì khác. Khoản ngân quỹ viện trợ được VNCH dùng để mua các sản phẩm của các doanh nghiệp và tư nhân tại miền Nam thì sẽ đẩy sức sản xuất và do đó phải được tính vào GDP. Vào giai đoạn 70-72, GDP của Nam VN có phần tăng lên (vì chương trình Vietnamization), nhưng rồi vào 73-74, vì bị cắt giảm viện trợ và giá hối đoái xuống thê thảm, mức GDP tuột xuống chỉ còn bằng khoảng hơn 50% so với vài năm trước đó: $89 vào năm 73 là năm mà Hiệp Định Paris đã được ký vào tháng Giêng, và $114 trong 74. Cần nói tại sao giá hối đoái tiền VNCH xuống so với đô la: thị trường kinh tế tự do đã ức đoán sự nguy hiểm và có thể thất bại của chính thể miền Nam khi Mỹ rút ra khỏi VN và cắt viện trợ vũ khí; họ bán đi những tài sản, doanh nghiệp, sở hữu chỉ có giá trị đối với VNCH (như tiền VNCH). Giống như tiền ruble của Nga hiện nay, các tài sản ở Nga bị bán đi và sản xuất của Nga không được mua (vì các biện pháp chế tài của Mỹ và Âu Châu), tiền ruble đương nhiên phải đi xuống.

    Thành công Nam Hàn có, ngoài yếu tố ở đức tính kỷ luật của họ, là nhờ Mỹ đóng quân ở đó, ngăn chặn tham vọng tái “giải phóng dân tộc” của Bắc Hàn như năm 50-53 chứ không phải vì họ có lãnh đạo giỏi. Quan trọng nhất, vì Nam Hàn là một bán đảo với biển quanh ba phía, Bắc Hàn đã không thể thực hiện một chiến tranh du kích xâm nhập qua biên giới như ở VN nên Nam Hàn đã dễ dàng triệt hẳn những mưu toan của phe CS . Nam Hàn đã bị một thời quân phiệt (Park Chung Hee), độc tài, tham nhũng suốt 30 năm đầu của nền dân chủ; có đảo chính, giết tổng thống, thay đổi hiến pháp mấy lần; mãi đến cuối thập niên 80 họ mới trưởng thành với mô hình dân chủ. (Theo Wiki về South Korea.)

    Hãy xem hình ảnh thủ đô Seoul thời giữa thập niên 60

    để so với hình ảnh Saigon của khoảng thời gian đó:
    1956: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157631907607872/
    1960: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157633304931041/
    1962: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157629843372551/
    1964: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157629523283792/
    1965: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157638752352664/

    video hình ảnh Saigon tới khoảng đầu 70s.

    Có gì còn thắc mắc về vấn đề này?

    Còn đây là hình ảnh miền Nam trước, sau 1975. Trang này còn một số video khác về miền Nam, Saigon trước 1975.

    https://www.youtube.com/watch?v=R-yyViZqhMA

    Kỷ yếu của trường nữ trung học Trưng Vương. Bạn nào muốn biết thêm, cứ vô các mục ghi ở trên đầu trang.
    Hình ảnh học sinh Trưng Vương niên khoá 1968-1975.
    Trường Trưng Vương là một trong các trường ở Sài gòn, ở miền Nam. Các trường khác ở Sài gòn và các tỉnh khác của miền Nam cũng tương tự vậy.

    http://trungvuong68-75.saigonline.com/KyYeuTV75/KyYeuTV75MainPage061.php

    http://m.voatiengviet.com/a/trung-vuong-ngay-ay-bay-gio/1624584.html

    Công Nhân viết:
    Nhiều bác phân vân không hiểu tại sao ngày xưa GDP của VNCH thấp thế mà mức sống lại có vẻ cao như vậy là bởi vì các bác không tính đến khoản viện trợ của Mỹ, số tiền quân đội Mỹ tiêu pha ở Việt Nam.

    Người Mỹ đã tiêu 140 tỷ USD (tương đương 950 tỷ USD theo giá năm 2011) cho cuộc chiến Việt Nam. Trong đó, riêng viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH là 25 tỷ USD (khoảng 170 tỷ USD theo giá năm 2011) (nguồn)

    Giả sử số tiền này chia đều cho 20 năm chiến tranh, và dân số trung bình của Miền Nam là 15 triệu người và VNCH kiểm soát khoảng 2/3 dân số Miền Nam. Thì thu nhập bình quân đầu người của VNCH từ Viện trợ đã là khoảng 850 USD/ người theo giá năm 2011 (170 tỷ/20 năm/10 triệu người)

    Như vậy, chỉ riêng tiền viện trợ thôi thì VNCH đã có mức sống gần tương đương năm 2005-2006 của Việt Nam. Đó là chưa kể đến số tiền quân đội Mỹ tiêu ở Miền Nam và GDP của miền Nam.

    Vì vậy, Miền Nam có cảm giác giàu có là chuyện đương nhiên nhưng kinh tế của họ thì hoàn toàn yếu kém.

    Các bác có thể so sánh mức viện trợ kinh tế của Mỹ cho VNCH với Hàn Quốc và Đài Loan mới thấy nó lớn đến mức nào. Đây là biểu đồ so sánh viện trợ của Mỹ cho ba quốc gia trên

    Lại nói nhảm xàm !

    Bao nhiều tiền viện trợ Mỹ là chi vào quân trang quân dụng dùng cho chiến tranh chống công sản xâm lược ? Bao nhiêu tiền viện trợ Mỹ được dành cho phát triển kinh tế ở miền Nam ?

    Một trận đánh với VC có thể tiêu tốn mất chục ngàn tấn đạn dược, nếu quy hết ra tiền viện trợ của Mỹ thì có nghĩa miền Nam 'nhận được' từng ấy tiền, nhưng 'kết quả' thực ra có thể là sự tan tành của cả một thành phố, thị xã, làng mạc, mất trắng hàng trăm hecta đất canh tác do bom mìn, do tình trạng mất an ninh ở vùng chiến sự, hàng chục ngàn con người bị thương tật, thiệt mạng. Thành ra nhận tiền viện trợ 1 nhưng thiệt hại có khi phải đến đến 5, 7 lần hơn thế ! Không phân biệt, gộp chung tiền viện trợ dành cho chiến trận vào với tiền viện trợ phát triển thì chứng tỏ là loại chả hiểu biết gì, hoặc điêu ngoa xảo trá !

    Trong tình trạng phải hứng chịu chiến tranh phá hoại triền miên, toàn diện bằng cả ba mũi giáp công của cộng sản thì kinh tế miền Nam phát triển mạnh thế nào được ? Tỉ dụ, đường sắt xuyên suốt từ Quảng Trị vào Sài Gòn đã phải ngưng chạy vì tình trạng mất an ninh, thủy điện Đa Nhim phải ngưng hoạt động do VC phá hoại tuyến ống dẫn nước chính và đường dây truyền tải điện, các kho xăng dầu dự trữ thường xuyên bị đặc công VC phá cho nổ tung, các tuyến quốc lộ, cầu cống liên tục bị đặt mìn phá hoại gây gián đoạn, các đồng ruộng, đồi núi, sông ngòi vùng chiến sự đã không thể canh tác, khai thác được do bom mìn, do tình trạng mất an ninh, phần lớn thanh niên trai tráng ở miền Nam phải nhập ngũ vào quân đội, đội ngũ cán bộ xây dựng hương thôn thường xuyên phải đối mặt với sự khủng bố, ám sát của VC ... Tình hình an ninh bất ổn, xã hội thời chiến bấp bênh ở miến Nam đã khiến các nhà đầu tư, doanh nghiệp nội địa khó có thể mở mang công cuộc làm ăn, nói gì đến việc thu hút được giới đầu tư ngoại quốc.

    Thử hỏi trong cùng thời gian đó, điều kiện xã hội ở Đài Loan, Nam Hàn đã tốt xấu như thế nào so với Nam Việt Nam ?!

    Phạm Quang Tuấn viết:
    Chỉ nội cái "Đến năm 1974-1975 thì GDP đầu người miền Bắc cao hơn miền Nam" là đủ thấy phân tích của Trần Văn Thọ (nếu được dẫn chính xác) hoàn toàn sai với thực tế, đối với người đã thấy cả miền Nam lẫn miền Bắc trong khoảng thời gian 1975 hay là ngay sau đó.

    Do post trước tôi nhầm quote của bác Tuấn nên phiền admin xóa hộ tôi cái post trước, và xóa luôn cái dòng ghi chú này giúp tôi

    Bác Phạm Văn Tuấn đã đánh đồng hai khái niệm "GDP trong một năm" và "của cải". Nói một cách dễ hiểu hơn thì bác đã nhầm lẫn giữa "thu nhập" từ hoạt động kinh tế của một cá nhân/gia đình trong một năm với tài sản của cá nhân/gia đình đó. Nếu bác Tuấn năm nay mất việc nên bác không có thu nhập hoặc thu nhập của bác thấp hơn một người nông dân nghèo ở Việt Nam. Nhưng khi người ta đến nhà bác người ta vẫn thấy bác giàu hơn khi đến nhà bác nông dân nghèo kia.

    THông thường thì thu nhập/GDP thường tỷ lệ thuận với "của cải"/"tài sản". Tuy nhiên trong một nền kinh tế sống dựa nhiều vào viện trợ và chiến tranh như Nam Việt Nam thì chưa chắc đã có sự tương đồng như vậy. Giống như một công tử suốt ngày rong chơi vì được bố mẹ bao cấp nên dù thu nhập do chính tay mình làm ra chẳng đáng là bao nhưng họ vẫn vương giả hơn một anh công nhân nghèo.

    Số liệu từ Wikipedia mà một số người dẫn ra ở đây thì GDP của Miền Nam năm 1973 là 89 USD/người, năm 1974 là 114 USD/người. Vì đây là giá USD danh nghĩa và vào thời gian đó sức mua của đồng USD ở Miền Nam chỉ còn có 40-50% nên GDP theo sức mua của Miền Nam chỉ tầm 45 USD năm 1973, và 50-60 USD cho năm 1974. Con số tương ứng của Miền Bắc là 40 USD cho năm 1973 và 72 USD cho năm 1974. (Các bác tham khảo thông tin về lạm phát và giá trị thực của USD ở Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973-1974 tại chương 7 của cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy)

    Đến năm 1975 thì cả miền Nam chỉ lo tháo chạy và tiếp quản, chẳng ai làm ăn gì nên GDP đầu người là 44 USD là hoàn toàn hợp lý. Chưa kể đến chuyện bác Nguyễn Tiến Hưng còn lo rằng đến năm 1976 thì VNCH thậm chí còn không có tiền để trả lương cho quân đội và nhân viên nhà nước.

    Do đó, các ước tính của bác Trần Văn Thọ là hoàn toàn có cơ sở thực tế. Thật ra bác Thọ cũng chẳng làm gì khác ngoài chuyện chuyển đổi số liệu thống kê của hai miền sao cho chúng ta dễ so sánh trực tiếp. Nên không có lý do gì để chúng ta có thể nghi ngờ các tính toán của bác Thọ cả nếu chúng ta có một chút kiến thức về kinh tế học và Miền Nam Việt Nam

    Nhiều bác phân vân không hiểu tại sao ngày xưa GDP của VNCH thấp thế mà mức sống lại có vẻ cao như vậy là bởi vì các bác không tính đến khoản viện trợ của Mỹ, số tiền quân đội Mỹ tiêu pha ở Việt Nam.

    Người Mỹ đã tiêu 140 tỷ USD (tương đương 950 tỷ USD theo giá năm 2011) cho cuộc chiến Việt Nam. Trong đó, riêng viện trợ kinh tế và quân sự cho VNCH là 25 tỷ USD (khoảng 170 tỷ USD theo giá năm 2011) (nguồn)

    Giả sử số tiền này chia đều cho 20 năm chiến tranh, và dân số trung bình của Miền Nam là 15 triệu người và VNCH kiểm soát khoảng 2/3 dân số Miền Nam. Thì thu nhập bình quân đầu người của VNCH từ Viện trợ đã là khoảng 850 USD/ người theo giá năm 2011 (170 tỷ/20 năm/10 triệu người)

    Như vậy, chỉ riêng tiền viện trợ thôi thì VNCH đã có mức sống gần tương đương năm 2005-2006 của Việt Nam. Đó là chưa kể đến số tiền quân đội Mỹ tiêu ở Miền Nam và GDP của miền Nam.

    Vì vậy, Miền Nam có cảm giác giàu có là chuyện đương nhiên nhưng kinh tế của họ thì hoàn toàn yếu kém.

    Các bác có thể so sánh mức viện trợ kinh tế của Mỹ cho VNCH với Hàn Quốc và Đài Loan mới thấy nó lớn đến mức nào. Đây là biểu đồ so sánh viện trợ của Mỹ cho ba quốc gia trên


    Sau 54 và trước thời chiến tranh leo thang, VNCH không những đã có nền kinh tế khá hơn Nam Hàn, mà còn có triển vọng phát triển tốt hơn Nam Hàn vì VN đã có một khối nhân tài, trí thức lớn hơn so với Triều Tiên.

    Tôi không có tài liệu với con số chính xác để chứng minh về số người có giáo dục cao (hai nước có dân số tương đương trên dưới 30 triệu vào 1955), nhưng xét qua hoàn cảnh lịch sử và sự thật về những gì Pháp và Nhật đã làm, không khó để suy luận ra điều này.

    Bán đảo Triều Tiên bị Nhật chiếm và đô hộ vào đầu nửa thế kỷ 20; Nhật đối xử với dân Hàn rất tệ so với chế độ của Pháp ở VN. Trong Thế Chiến 2, dân Hàn bị đưa đi làm lao công hoặc làm quân xung phong cho quân đội Nhật, một số lớn phụ nữ Hàn bị bắt đi làm nô lệ tình dục (mà sau này họ có mang vụ này ra tòa kiện); họ đã bị tận dụng từ trước TC2 khi Nhật mang quân đi đánh Nga và chiếm Tàu. Vụ Nam Kinh ở Tàu đã cho thấy Nhật đã dã man và ác độc với chính dân Á như thế nào; nhiều tài liệu sử sách cũng như phim ảnh cho biết dân Hàn đã bị dân Nhật kỳ thị ra sao, từ học đường đến hoàn cảnh ngoài xã hội.

    Do đó số người Hàn được thực sự học ở Nhật là con số rất khiêm nhường so với VN; chế độ thời Pháp thuộc ở VN tuy có chương trình huấn luyện những người phục vụ cho Pháp, nhưng Pháp đã có chính sách giáo dục cởi mở ở mọi cấp; các trường học VN dạy đúng theo chương trình Pháp (chứng chỉ được công nhận, bằng với ở bên Pháp), và người có khả năng thì có thể được giúp đỡ và tự do học hỏi ở cấp cao nhất (điển hình là Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, rất nhiều kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên).

    Ở Triều Tiên, ngoài phe theo CS và Mao để lập lên triều đại nhà Kim trên vĩ tuyến 38 sau 45, cấp trí thức của Nam Hàn, tiêu biểu là Park Chung Hee, là gồm những người đã từng phục vụ trong quân đội Nhật và một số ít đã từng được học ở các trường truyền giáo của Âu Mỹ trước khi Nhật đến (như vị tổng thống đầu tiên Syngman Rhee); họ là khối đã lập nước Nam Hàn năm 1948 sau 3 năm dưới sự quản trị ủy nhiệm của LHQ.

    Vì vậy, vào giữa thập niên 50, sau cuộc chiến 50-53 ở Hàn Quốc và chia cắt ở vĩ tuyến 17 năm 54 tại VN, miền Nam VNCH so với Nam Hàn không những có ưu điểm về kinh tế nông nghiệp (đất đai phì nhiêu hơn và khí hậu thuận lợi hơn), mà nền kinh tế công nghiệp ở miền Nam cũng khá hơn Nam Hàn nhờ những công xưởng Pháp đã xây dựng trước đó để lại.

    Ở Bắc Hàn, các nước CS đã đổ công sức giúp tái dựng kinh tế trong giai đoạn khoảng 10 năm sau 53 và họ đã phục hồi mạnh, lúc đầu tốt hơn Nam Hàn nhưng sau đó cũng tương đương với Nam Hàn đến giữa thập niên 70 (theo Wiki về North Korea).

    Không có dữ kiện cho 1954-55, tôi dùng thống kê từ 1960 để so sánh. Trong thống kê này, Nam Hàn có mức GDP per capita thấp hơn VNCH những năm trước 63; và sau đảo chính thì miền Nam xuống dốc hẳn, rồi thua Nam Hàn và mọi nước ở Đông Á từ khoảng giữa thập niên 60 khi chiến tranh leo thang; tuy vậy, miền Nam vẫn có những kế hoạch và doanh nghiệp đã có thể chạy theo phát triển công nghiệp tiến bộ của vùng (như xe hơi La DaLat).

    GDP của vài nước Đông Á vào thập niên 1960:

    60 61 62 63 64 65 66 67 68 69
    North VN 73 74 54 63 112 126 145 121 90 108
    South VN 223 204 154 103 117 130 128 137 141 132
    South Korea 155 92 104 142 121 106 130 157 195 239
    Cambodia 117 116 116 125 131 141 145 148 160 144
    Thailand 101 108 114 118 126 138 161 167 175 187
    Singapore 395 438 430 472 464 516 567 626 708 812

    (Theo tài liệu của World Bank.)

    Các số tiền viện trợ phần lớn không thể được tính trong thống kê này vì nó trực tiếp được dùng trong lãnh vực quân sự dưới hình thức súng đạn, xe tăng, máy bay, xăng dầu, v.v.; nó không do VN sản xuất, không được bán đi và chỉ được dùng để giết/phá, không có giá trị gì khác. Khoản ngân quỹ viện trợ được VNCH dùng để mua các sản phẩm của các doanh nghiệp và tư nhân tại miền Nam thì sẽ đẩy sức sản xuất và do đó phải được tính vào GDP. Vào giai đoạn 70-72, GDP của Nam VN có phần tăng lên (vì chương trình Vietnamization), nhưng rồi vào 73-74, vì bị cắt giảm viện trợ và giá hối đoái xuống thê thảm, mức GDP tuột xuống chỉ còn bằng khoảng hơn 50% so với vài năm trước đó: $89 vào năm 73 là năm mà Hiệp Định Paris đã được ký vào tháng Giêng, và $114 trong 74. Cần nói tại sao giá hối đoái tiền VNCH xuống so với đô la: thị trường kinh tế tự do đã ức đoán sự nguy hiểm và có thể thất bại của chính thể miền Nam khi Mỹ rút ra khỏi VN và cắt viện trợ vũ khí; họ bán đi những tài sản, doanh nghiệp, sở hữu chỉ có giá trị đối với VNCH (như tiền VNCH). Giống như tiền ruble của Nga hiện nay, các tài sản ở Nga bị bán đi và sản xuất của Nga không được mua (vì các biện pháp chế tài của Mỹ và Âu Châu), tiền ruble đương nhiên phải đi xuống.

    Thành công Nam Hàn có, ngoài yếu tố ở đức tính kỷ luật của họ, là nhờ Mỹ đóng quân ở đó, ngăn chặn tham vọng tái “giải phóng dân tộc” của Bắc Hàn như năm 50-53 chứ không phải vì họ có lãnh đạo giỏi. Quan trọng nhất, vì Nam Hàn là một bán đảo với biển quanh ba phía, Bắc Hàn đã không thể thực hiện một chiến tranh du kích xâm nhập qua biên giới như ở VN nên Nam Hàn đã dễ dàng triệt hẳn những mưu toan của phe CS . Nam Hàn đã bị một thời quân phiệt (Park Chung Hee), độc tài, tham nhũng suốt 30 năm đầu của nền dân chủ; có đảo chính, giết tổng thống, thay đổi hiến pháp mấy lần; mãi đến cuối thập niên 80 họ mới trưởng thành với mô hình dân chủ. (Theo Wiki về South Korea.)

    Hãy xem hình ảnh thủ đô Seoul thời giữa thập niên 60

    để so với hình ảnh Saigon của khoảng thời gian đó:
    1956: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157631907607872/
    1960: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157633304931041/
    1962: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157629843372551/
    1964: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157629523283792/
    1965: https://www.flickr.com/photos/[email protected]/sets/72157638752352664/

    video hình ảnh Saigon tới khoảng đầu 70s.

    Có gì còn thắc mắc về vấn đề này?

    Ngày nay, Nam Hàn đang tìm cách thực hiện những cuộc đàm phán với Bắc Hàn để bàn về việc thống nhất đất nước, dù vẫn phải liên kết với Mỹ và Nhật để đề phòng khả năng tấn công của Bắc Hàn vì cá tính ngông cuồng, bất bình thường của chế độ.

    Trích dẫn:
    Vào thời điểm 1978, mức sống của dân miền Nam vẫn còn cao hơn miền Bắc nên tỷ lệ sở hữu tiền tiết kiệm của từng gia đình tại Sài Gòn, nói chung, vẫn cao hơn tại Hà Nội. Biện pháp ‘đổi tiền có giới hạn’ chính là một hình thức ‘cào bằng’giữa hai miền. Tuy nhiên, đa số người miền Nam vẫn có thói quen mua vàng hoặc đô la thay vì giữ tiền mặt dù việc mua bán vàng và ngoại tệ vẫn bị nhà nước nghiêm cấm vào thời điểm đó.

    Số lượng vàng còn lại tại miền Nam sau 1975 vẫn còn là một ẩn số nhưng qua các vụ vượt biên người ta có thể nói‘tiềm lực vàng’ của người miền Nam vẫn còn rất mạnh. Trung bình một người vượt biên phải trả cho chủ tầu khoảng 3‘cây’ (một danh từ phổ biến để chỉ 1 lạng vàng), nếu làm một con tính nhẩm với gần nửa triệu người đến được bến bờ tự do hoặc bỏ thây ngoài biển cả ta sẽ thấy một số vàng khổng lồ có trị giá hàng tỷ Mỹ kim mà người miền Nam đã đổ vào các cuộc vượt biên. Có người còn vượt biên nhiều lần, điều này chứng tỏ ‘tiềm lực vàng’ của người dân miền Nam là rất lớn.

    Sự kiện ‘nạn kiều’ của người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức bằng đường bộ và đường thủy năm 1979 với giá trên 10 cây vàng một đầu người cũng là một minh chứng việc ‘đánh tư sản’ không đạt được kết quả như mong muốn. Trong Chợ Lớn không thiếu gì những trường hợp người buôn bán nhỏ lẻ, thậm chí hành nghề ve chai, bán dạo vẫn có vàng để trả cho các chuyến vượt biên bán chính thức.

    THưa quý bác kinh thế gia đã đánh giá thấp nền kinh tế VNCH, xin hỏi quý bác, làm sao mà một nền kinh tế bị coi là "èo uột", bị coi là "thua xa" nền kinh tế miền bắc & VNDCCH, lại có thể để lại một gia tài vàng như vậy?

    Trích dẫn:
    Cũng chiếu theo Nghị định 04, đến ngày 22/9/1975 thì tiền VNCH có mệnh giá trên 50 đồng bị cấm lưu hành tại miền Nam và phải đổi sang tiền mới của Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tiền mới được in tại Tiệp Khắc từnăm 1966 (!), không mang chữ ký, gồm 8 mệnh giá: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2đồng, 5 đồng, 10 đồng và 50 đồng. Tỉ giá hối đoái vào thời điểm ban hành Nghị định 04 là 1 USD tương đương với 1,51đ Cộng hòa Miền Nam.

    Điều đáng nói là giá trị chuyển đổi của đồng tiền mới không thống nhất về mặt địa lý mà thay đổi theo từng vùng theo Nghị định 04:

    - Từ Quảng Nam,Đà Nẵng trở xuống miền Nam, giá trị tiền đổi được tính theo tỉ lệ 500đ VNCH tương đương với 1đ tiền mới.

    - Từ Thừa Thiên Huế trở lên miền Bắc, tỉ lệ đổi tiền là 1.000đ VNCH tương đương với 3đ tiền mới.

    Việc thu đổi tiền VNCH được bắt đầu lúc 6g sáng ngày 22/9/1975 và chấm dứt vào lúc 6g chiều cùng ngày tại Sài Gòn. Riêng tại các tỉnh xa xôi thuộc phía Nam, việc đổi tiền có hạn chót là ngày 30/9/1975. Định mức đổi tối đa không quá 100.000đ tiền VNCH cho nhu cầu sinh hoạt của mỗi gia đình; các hộ kinh doanhđược phép đổi từ 200.000đ đến 1.000.000đ tiền VNCH sang tiền mới.

    Trong lần đổi tiền 1975 nói trên người dân VNCH ở phía nam VNCH, ở Sài gòn phải đổi 500 đồng tiền VNCH đang có lấy 1 (một) đồng tiền "giải phóng", đồng tiền "chính phủ cách mạng lâm thời"

    Trích dẫn:
    Theo Sắc lệnh của Thủ tướng Chính phủ mang số 88 CP, ký ngày 25/4/1978 thì lệnh đổi tiền được giữ kín cho đến ngày 3/5/1978 là thời điểm công bố trên toàn quốc. Sắc lệnh quy định tiền tệ cũ của cả hai miền Nam Bắc bị cấm lưu hành, những ai sở hữu tiền cũ thì phải đem đổi lấy tiền mới.

    Ở miền Bắc, một đồng mới trị giá bằng một đồng cũ, loại tiền này được phát hành từ năm 1958. Riêng ở trong Nam, một đồng mới đổi được 0,80 đồng cũ (8 hào) phát hành năm 1975 qua đợt đổi tiền lần thứ nhất.

    Dân thị thành được đổi tối đa 100 đồng cho mỗi hộ 1 người; 200 đồng cho mỗi hộ 2 người; hộ trên 2 người thì từ người thứ 3 trở đi được đổi 50 đồng/người. Hạn mức tối đa cho các hộ thành phố bất kể số người là 500 đồng mỗi hộ.

    Dân vùng quê được phép đổi theo hạn ngạch 100 đồng cho mỗi hộ 2 người (50 đồng mỗi người); hộ trên 2 người thì người thứ 3 trở đi được đổi 30 đồng/người. Tối đa cho mọi hộ vùng quê, bất kể số người, là 300 đồng.

    Số tiền sở hữu trên mức tối đa phải khai báo và ký thác vào ngân hàng. Khi cần dùng thì tiền đó có thể rút ra nếu… có lý do chính đáng. Mộtđiều kiện nữa là người dân phải chứng minh rằng số tiền trên mức tối đa là tiền kiếm được bằng ‘lao động cá nhân’ chân chính chứ không phải tiền trục lợi qua lao động của người khác.

    Cũng như lần đổi tiền năm 1975, cuộc đổi tiền năm 1978 đã phá giá đồng tiền của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đang lưu hành tại miền Nam. Tuy nhiên, tại miền Bắc, giá trị của đồng tiền vẫn giữ nguyên.

    Trong lần đổi tiền 1978 người dân miền nam phải đổi đồng tiền "giải phóng" lấy 0.8 đồng tiền mới,

    người dân miền bắc thì được đổi 1 ăn 1, một đồng tiền VNDCCH cũ lấy một đồng tiền mới

    Điều ấy có nghĩa là mỗi nguời dân miền bắc đỏ ra một đồng VNDCCH đổi lấy một đồng CHXHCNVN, là đã ăn cắp & ăn cướp 499 đồng của người dân miền nam,

    nhưng nếu nói đến mãi lực thực sự, thì mãi lực của đồng bạc VNDCCH chỉ bằng 1/10 đồng bạc VNCH, thì khi đem một đồng bạc VNDCCH ra đổi lấy tiền mới, người dân miền bắc đã ăn cắp & ăn cướp 4999 đồng của người dân miền nam.

    Nghĩa là, thay vì như mọi người mền nam khác phải trả 5000 đồng để mua một món hàng trị giá 5000 đồng của người miền nam, thì người miền bắc xã hội chủ nghĩa nếu muốn mua món hàng ấy, chỉ cần bỏ ra 1 dồng để mua món hàng ấy,

    Tất nhiên người miền bắc lúc ấy vốn ở miền bắc chẳng có gì để tiêu xài mua sắm, sẽ có khá nhiều đồng tiền để dành để đem đổi 1 đổi 1, để tha hồ mua sắm nhà cửa xe cộ của ngừoi miền nam đang bán đổ bán tháo lấy tiền mua gạo...

    Tất nhiên, nói gì thì nói, mấy người dân đen miền băc cũng chả có bao nhiêu đồng bạc để dành để mà đổi 1 đổi 1 để mà vào Sài gòn mua sắm, mà chỉ có bọn đảng viên có chức có quyền lúc ấy mới thừa tiền để dành đem đổi 1 lấy 1, mới có quyền đi voo & đi ra Sài gòn & Hà nội mang tiền ngàn, tiền vạn vào Sài gòn mua sắm

    Đúng là một cuộc "giải phóng" & đổi đời".
    Đúng là một cuộc ăn cắp & ăn cướp vĩ đại, kinh hoàng!

    Bởi vậy cũng không nên lấy làm lạ là tại sao đến nay, trước bao nhiêu thảm cảnh kinh khủng của quốc gia, hậu quả của cuộc chiến tranh Hồ chí Minh tội ác, trước biết bao tội ác của bọn cộng sản đàn áp, đánh đập, bóc lột người dân, bọn "lão thành cách mạng" có công nhớn, có tiền nhiều những năm 75, 80..., vẫn không ngừng xưng tụng "giải phóng & chống Mỹ cứu nước"!

    Miệng chúng nói "chống Mỹ cứu nước" nhưng súng đạn giặc Tàu trên tay chúng thảm sát & bắn giết hàng triệu, hàng triệu người miền nam, vơ vét cướp đoạt tài sản nhà cửa ruộng đất của người miền nam cứu túi tiền không đáy của chúng!

    Bọn cộng sản toàn một lũ đạo tặc đê hèn, gian ác!

    ****

    THưa quý bác kinh tế gia thường eo sèo chê bai nền kinh tế VNCH, xin hỏi quý bác rằng, làm thế nào mà nền kinh tế VNCH mà các bác cho rằng thua kém cái nền kinh tế xã nghĩa VNDCCH bắc kỳ cộng sản, vẫn cho phép người dân miền nam bên thua cuộc, mặc dù đã bị các bác con người mới xã hội chủ nghĩa bên thắng cuộc trấn lột thậm tệ, vẫn có khả năng sống hùng sống mạnh không thua gì, còn hơn nhiều lần đời sống của quý các bác con người mới xã hội chủ nghĩa bên thắng cuộc miền bắc?

    Nói cách khác những luận điệu "kinh thế gia" của các bác nhằm tâng bốc nền kinh tế xã nghĩa của miền bắc của VNDCCH của Việt cộng Hồ chí Minh & VC Lê Duẩn chỉ là bìm bịp, chỉ là nói lấy đuọc !

    Thật vậy, Sài Gòn được gọi Hòn Ngọc Viễn Đông là xứng đáng với tầm vóc SG có được vào thuở đó bởi: đã tự lắp ráp xe ôtô La Dalat, phi trường Tân Sơn Nhất đảm nhận quản lý không lưu cả vùng bay Đông Nam Á, Khu Công nghiệp Biên hòa, các hãng vận tải hành khách có tên tuổi như Phi Long, Tiến Lực, sản lượng gạo xuất khẩu lên đến hàng triệu, những vùng cây công nghiệp đầy tiềm năng như cao su, cà-phê, hồ tiêu, ngư trường rộng lớn...Nên không có gì gọi là mơ hồ, bị ru ngủ, tự đánh bóng?! Điều nầy anh chị nên nghĩ suy cho tường tận!

    Có lẽ số liệu GDP của miền Bắc Việt Nam và Hàn Quốc do vị giáo sư cao tuổi nào đó viết bài đăng trên Vietnamnet sai.
    Khoảng đầu năm 1976, khi học kinh tế, tôi được đọc tài liệu có nói về GDP của một số nước, trong đó: GDP miền Bắc Việt Nam năm 1974 khoảng 100 USD/người; miền Nam Việt Nam năm 1972 trở về trước nhỉnh hơn miền Bắc chút ít, khoảng 110 USD/người, năm 1974 miền Nam bị Mỹ giảm viện trợ nên còn khoảng 80 USD/người; Hàn Quốc là 200 USD/người, Thái Lan 135 USD/người...
    Như vậy, năm 1974 GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc đã gấp đôi Việt Nam và Thái Lan thì gấp 1,3 lần.

    Phạm Quang Tuấn viết:

    Chỉ nội cái "Đến năm 1974-1975 thì GDP đầu người miền Bắc cao hơn miền Nam" là đủ thấy phân tích của Trần Văn Thọ (nếu được dẫn chính xác) hoàn toàn sai với thực tế, đối với người đã thấy cả miền Nam lẫn miền Bắc trong khoảng thời gian 1975 hay là ngay sau đó. Chuyện bộ đội và người miền Bắc nói chung lóa mắt trước mức sống của miền Nam là có thực. Bất cứ ai đã thăm miền Bắc trong thời gian "trước đổi mới" đều thấy mức sống thê thảm của miền Bắc so với miền Nam, ngay cả ở Hà Nội.

    Tôi không có chuyên môn về kinh tế, nhưng đoán rắng viện trợ kinh tế từ nước ngoài không được tính vào GDP (Gross Domestic Product). Nếu đúng như vậy, thì mức sống ở miền Nam trước 1975, nhất là ở các thành phố, không phản ảnh GDP vì phần lớn dựa vào viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ. Theo GS sử học Andrew Wiest (The Vietnam War, 1956–1975), viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ cho nam VN lên đến mức cao nhất là 2.3 tỷ vào năm 1973, nhưng giảm ngay xuống một nửa vào năm sau (1974). Số lượng viện trợ kinh tế có thể giải thích tại sao nếp sống ở miền Nam được nâng cao trong khi GDP thụt giảm.

    1) Nếu chỉ căn cứ vào GDP và GDP bình quân đầu người (PPP) thì có thể, cho đến khoảng những năm đầu thập niên 70, không có sự chênh lệch quá lớn giữa Nam-Việt Nam, Đại Hàn và Thái Lan vì cả 3 nước này đều có cùng một nền kinh tế phụ thưộc vào sự hiện diện của quân đội Mỹ (Việt Nam, Đại Hàn) hay trở thành hậu phương của quân đội Mỹ (Thái Lan). Giữa 3 nước này, có thể Đại Hàn là nghèo nhất và có rất nhiều vấn đề xã hội: con nít bị vất bỏ ngoài đường nhất là con gái. Bà bộ trưởng bộ văn hóa Pháp hiện thời, Fleur Pellerin, sinh năm 1973 ở Seoul, là một đứa con vô thừa nhận được một gia đình người Pháp đem về nuôi. Vincent Placé hiện giờ là thượng nghị sĩ Pháp, một trong những thủ lãnh đảng Xanh (Pháp) sinh năm 1968 ở Seoul cũng vậy.

    2) Nếu cũng vẫn tính GDP theo đầu người thì có thể, khi bắt đầu xâm chiếm miền Nam, miền Bắc có GDP bằng, và sau này, có thể hon miền Nam nhờ viện trợ của khối cộng sản. Nhưng trong thực tế, 90% GDP nằm trong tay Đảng để chi phí quân sự, chỉ 10% dành cho người dân trong chế độ bao cấp. Nên PPP của người dân miền Bắc chỉ giỏi lắm là bằng một phần mười PPP dân niền Nam.

    3) Nếu sau 75 Đảng không ngu xuẩn, vẫn nắm quyền hành nhưng chỉ cần đưa ra chính sách hòa giải không có cải tạo và bãi bỏ chính sách tập trung bao cấp, trở lại chế độ kinh tế miền Nam (nghĩa là chế độ kinh tế thị trường của tất cả mọi nước trên thế giới hiện thời), thì tôi dám chắc là Việt Nam ít nhất cũng bằng Hàn Quốc hiện giờ.

    Công Nhân viết:
    Tôi không có cuốn sách này ở đây nên không có con số chi tiết. Chỉ nhớ ang áng rằng tầm năm 1954 thì GDP đầu người Miền Nam cao hơn miền Bắc khoảng 50-100%. Nhưng sau đó khoảng cách này tụt dần dần và đến khoảng năm 1973-1974 thì GDP đầu người miền Bắc và miền Nam gần bằng nhau. Đến năm 1974-1975 thì GDP đầu người miền Bắc cao hơn miền Nam.

    Các cháu hậu sanh sau này phần lớn ham chơi, lười biếng, nông cạn, ít chịu tìm hiểu cho tỏ ngọn nguồn sự thật lịch sử, nên đa số ăn nói bộp chộp, hồ đồ, chả đâu vào đâu !

    Thời năm 1973-1974 tuyệt đại bộ phận nhân dân miền Bắc xhcn muốn xơi một con gà để 'cải thiện' thì cũng chả ai dám chặt bằng dao, mà phải cắt bằng kềm kéo cho thật nhẹ nhàng, tránh làm mất giấc ngủ nhân dân hàng xóm. Ăn thịt gà xong cũng không dám vứt xương, lông gà lung tung vào thùng rác, hố rác quanh nhà, mà phải gói ghém cho thật cẩn thận, gò lưng đạp xe hàng vài ba cây số để đào sâu chôn chặc, nhằm đảm bảo vệ sinh môi trường. Trình độ dân trí miền Bắc thời í đã cao như thế thì GDP đầu người miền Bắc ắt phải cao hơn miền Nam cùng thời kỳ chứ có chi lạ. GDP đầu người ăt đã phải như thế nào thì mới sinh được lễ nghĩa như thế kia chứ nhỉ !

    Công Nhân viết:
    Bác Nguyễn Văn Tuấn và Phạm Quang Tuấn cùng các bác khác nên dùng bộ dữ liệu của Maddison Project về GDP đầu người.

    Lợi thế thứ nhất của bộ dữ liệu này là họ dùng Geary–Khamis dollar (international dollar hay tương đương sức) nên dễ dàng so sánh mức sống giữa các quốc gia hơn dữ liệu của Wikipedia vì Wikipedia dùng tỷ giá hối đoái chính thức.

    Cám ơn bác Công Nhân. World Bank cũng có PPP (purchasing power parity) GDP data, tương đương với Geary–Khamis dollar. Tuy nhiên, PPP chỉ đo mức sống trong nước, không đo được sức trao đổi hàng hóa trên thị trường quốc tế, GDP bằng dollars thật (constant value) mới là chỉ số cho thấy sức mạnh kinh tế thực của một nước so với các quốc gia khác trên thế giới.

    Công Nhân viết:
    Lợi thế thứ hai là dữ liệu của Maddison Project có thông tin về GDP của Việt Nam và các quốc gia khác một cách hoàn chỉnh từ năm 1950. Một số trường hợp có thể về đến tận thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

    Những "dữ liệu" này thực ra chỉ là phỏng đoán, không đáng tin.

    Công Nhân viết:
    Tuy nhiên, điểm yếu của bộ dữ liệu này là nó không phân tách miền Bắc và miền Nam trước năm 1975. Để khắc phục điểm yếu này thì các bác có thể kết hợp với các thông tin trong cuốn sách của Trần Văn Thọ , đó là cuốn "Kinh tế Việt Nam 1955 - 2000: Tính toán mới, phân tích mới"

    Trong cuốn sách này thì Trần Văn Tho đã chuyển đổi GDP theo đầu người của hai miền để chúng ta có thể so sánh được một cách trực tiếp mức sống của hai miền từ năm 1954-1975

    Tôi không có cuốn sách này ở đây nên không có con số chi tiết. Chỉ nhớ ang áng rằng tầm năm 1954 thì GDP đầu người Miền Nam cao hơn miền Bắc khoảng 50-100%. Nhưng sau đó khoảng cách này tụt dần dần và đến khoảng năm 1973-1974 thì GDP đầu người miền Bắc và miền Nam gần bằng nhau. Đến năm 1974-1975 thì GDP đầu người miền Bắc cao hơn miền Nam.

    Chỉ nội cái "Đến năm 1974-1975 thì GDP đầu người miền Bắc cao hơn miền Nam" là đủ thấy phân tích của Trần Văn Thọ (nếu được dẫn chính xác) hoàn toàn sai với thực tế, đối với người đã thấy cả miền Nam lẫn miền Bắc trong khoảng thời gian 1975 hay là ngay sau đó. Chuyện bộ đội và người miền Bắc nói chung lóa mắt trước mức sống của miền Nam là có thực. Bất cứ ai đã thăm miền Bắc trong thời gian "trước đổi mới" đều thấy mức sống thê thảm của miền Bắc so với miền Nam, ngay cả ở Hà Nội.

    Nhìn vào các bảng số liệu, tôi thấy một điều là chúng ta có thể nhận biết đâu là sự phát triển thực thụ của một nền kinh tế. Các con số của Nam Hàn trong nhiều thập niên qua cho thấy điều đó.

    Các con số của cả miền Nam lẫn miền Bắc Việt Nam đều chỉ cho lấy sự trôi nổi lình ình. Thời chiến không ai làm kinh tế đã đành, nhưng nếu thời bình mà cũng như thế thì có nghĩa là các lãnh đạo Việt Nam chỉ thích đại ngôn vể phát triển kinh tế, trong khi họ chưa tìm ra đường đi.

    Đường đi lên một khi đã đi vào rồi, nền kinh tế nước nhà sẽ phải để lại những dấu vết trên các bảng dữ liệu tương tự như nền kinh tế Nam Hàn đã để lại trong 40 năm qua!

    Bớ các mưu sĩ đương thời của ông thủ tướng hãy tỉnh ngủ!

    ĐỉnhĐìnhĐinh viết:
    Bởi tháng 7 năm 1961 ngay khi lên nắm quyền, tướng Park Chung Hee đã tuyên bố trước 20.000 sinh viên ĐH Seoul "Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng làm việc nếu muốn sống còn.Trong vòng 10 năm chúng ta phải tạo nền kinh tế đứng đầu Đông Á và sau 20 năm chúng ta trở thành cường quốc KT trên thế giới. Hôm nay có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin đồng bào ấy hiểu cho rằng. Tổ Quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân..." và lời hiệu triệu ấy đã mang lại hiệu ứng tich cực cho nhân dân Nam Hàn - phần chúng ta, loay hoay trong chiến tranh và hệ lụy như thế nào cho nền kinh tế thì bảng so sánh GDP của World Bank qua các năm được Chị Ngự dẫn trên nói rõ.

    Nếu nói về khí phách, ý chí sắt đá, tinh thần bất khuất kiên cường, thì dân Nam Hàn đâu thể so được với dân VN ta.

    Park Chung Hee chỉ mới bảo dân Nam Hàn "cắn răng làm việc nếu muốn sống còn" thì nghe còn tầm thường lắm, ăn thua gì so với lời kêu gọi toàn dân VN dậy vang cả non sông của bác Hồ "Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".

    Dân Nam Hàn chỉ mới nuôi mộng "Trong vòng 10 năm chúng ta phải tạo nền kinh tế đứng đầu Đông Á và sau 20 năm chúng ta trở thành cường quốc KT trên thế giới" thì sánh sao được với lòng kiên trì bền bỉ, quyết tâm cao độ của dân VN "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá, thì chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "đồng bào miền Bắc và đồng bào miền Nam đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu; dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn". Và quả thật cuối cùng VN ta đã thắng lợi vẻ vang hoàn toàn.

    Chẳng qua là dân Nam Hàn chịu nhục làm thân phận đàn em tay chân cho Mỹ nên nay mới có dư dả được chút tiển của, rồi mang sang ta thuê đất, thuê nhân công rẻ để làm ăn thu lợi thặng dư thêm, chứ quí báu gì. VN ta nay tuy cỏn nghèo, một số đang phải đi lao động xuất khẩu bên Nam Hàn, nhưng cơ bản là ta có được tổ quốc độc lập, đất nước thống nhất, lòng thanh thản, tư thế hiên ngang, rất đỗi tự hào ! :)

    Bác Nguyễn Văn Tuấn và Phạm Quang Tuấn cùng các bác khác nên dùng bộ dữ liệu của Maddison Project về GDP đầu người.

    Lợi thế thứ nhất của bộ dữ liệu này là họ dùng Geary–Khamis dollar (international dollar hay tương đương sức) nên dễ dàng so sánh mức sống giữa các quốc gia hơn dữ liệu của Wikipedia vì Wikipedia dùng tỷ giá hối đoái chính thức.

    Lợi thế thứ hai là dữ liệu của Maddison Project có thông tin về GDP của Việt Nam và các quốc gia khác một cách hoàn chỉnh từ năm 1950. Một số trường hợp có thể về đến tận thế kỷ thứ nhất sau công nguyên.

    Theo bộ dữ liệu này thì GDP đầu người của Việt Nam năm 1950 là 658 USD, của Hàn Quốc là 854 USD, và Thái Lan là 817 USD

    Năm 1954 con số tương ứng là 732 USD (Việt Nam), 1124 USD (Hàn Quốc), và 898 USD (Thái Lan),

    Năm 1975 con số đó là 710 USD (Việt Nam), 3126 USD (Hàn Quốc), 1959 USD (Thái Lan)

    Năm cuối cùng của bộ dữ liệu này là năm 2010 thì GDP của Việt Nam là 3217 USD, của Hàn Quốc là 21,701 USD và của Thái Lan là 9372 USD. Các con số này là tính theo international dollar vào năm 1990.

    Như vậy Việt Nam ta chưa bao giờ có mức sống bằng với Hàn Quốc cả, thậm chí là Thái Lan nên cảm nhận của bác Tuấn là đúng với thực tế.

    Tuy nhiên, điểm yếu của bộ dữ liệu này là nó không phân tách miền Bắc và miền Nam trước năm 1975. Để khắc phục điểm yếu này thì các bác có thể kết hợp với các thông tin trong cuốn sách của Trần Văn Thọ , đó là cuốn "Kinh tế Việt Nam 1955 - 2000: Tính toán mới, phân tích mới"

    Trong cuốn sách này thì Trần Văn Tho đã chuyển đổi GDP theo đầu người của hai miền để chúng ta có thể so sánh được một cách trực tiếp mức sống của hai miền từ năm 1954-1975

    Tôi không có cuốn sách này ở đây nên không có con số chi tiết. Chỉ nhớ ang áng rằng tầm năm 1954 thì GDP đầu người Miền Nam cao hơn miền Bắc khoảng 50-100%. Nhưng sau đó khoảng cách này tụt dần dần và đến khoảng năm 1973-1974 thì GDP đầu người miền Bắc và miền Nam gần bằng nhau. Đến năm 1974-1975 thì GDP đầu người miền Bắc cao hơn miền Nam.

    Còn việc Sài Gòn là "Hòn Ngọc Viễn Đông" là cách gọi của người Pháp vì họ chỉ có một thuộc địa ở vùng viễn Đông là Đông Dương mà thôi. Chứ Sài Gòn không thể so sánh với Singapore hoặc HongKong được vì đây là hai đảo quốc có GDP rất cao ở Châu Á từ ngày xưa.

    Nhìn số liệu được chị Trần Thị Ngự dẫn nguồn từ WB thì mọi người đã rõ tại sao những năm đầu của thập niên 60, GDP của miền Nam VN hơn Nam Hàn và từ 1965 trở đi đã giảm sút,và giờ thì chẳng thể còn cơ hội để bắt kịp Hàn Quốc! Bởi tháng 7 năm 1961 ngay khi lên nắm quyền, tướng Park Chung Hee đã tuyên bố trước 20.000 sinh viên ĐH Seoul "Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng làm việc nếu muốn sống còn.Trong vòng 10 năm chúng ta phải tạo nền kinh tế đứng đầu Đông Á và sau 20 năm chúng ta trở thành cường quốc KT trên thế giới. Hôm nay có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi, nhưng xin đồng bào ấy hiểu cho rằng. Tổ Quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân..." và lời hiệu triệu ấy đã mang lại hiệu ứng tich cực cho nhân dân Nam Hàn - phần chúng ta, loay hoay trong chiến tranh và hệ lụy như thế nào cho nền kinh tế thì bảng so sánh GDP của World Bank qua các năm được Chị Ngự dẫn trên nói rõ.

    Hợp lý hơn là phải so sánh sự phát triển của mỗi nước ở thời gian tương đương sau khi chiến tranh kết thúc (Hàn quốc: 1953, Việt Nam: 1975). Xin xem
    https://www.danluan.org/tin-tuc/20141007/pham-quang-tuan-viet-nam-va-han-quoc-so-sanh-hai-qua-trinh-cong-nghe-hoa

    Cũng xin kèm đây đồ thị phát triển GDP đầu người, tính bằng dollars Mỹ năm 2000, của Hàn quốc và Việt Nam ở thời điểm tương đương sau chiến tranh:
    http://www.tuanpham.org/VN-SKorea-gdp%282000dollars%29%20.gif

    ta sẽ thấy rõ kết quả của sự lãnh đạo thần tình của ĐCSVN.

    Hơn 50 năm trước đây, kinh tế của Nam VN phát triển hơn Nam Hàn, nhưng do chiến tranh kinh tế VN thụt lùi trong khi kinh tế Nam Hàn ngày càng phát triển. Dưới đây là GDP per capita của Nam VN và Nam Hàn (theo USDollar) từ World Bank:

    South VN = USD223(1960) - USD130(1965) - USD123(1970) - USD44(1975)*

    South Korea = USD155(1960) - USD106(1965) - USD279(1970 - USD608(1975)

    http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_projected_GDP_%28nominal%29_per_capita
    ___________

    * GDP per capita của South VN trong năm 1975 chỉ có USD44 có lẽ do chỉ có 4 tháng đầu năm trước ngày 30 tháng Tư.

    40 năm trước, tức là năm 1974.

    Khi đó, đâu có một Việt Nam nói chung chung được.

    Vì ở năm 1974, hai miền Việt Nam quá khác. Hoặc là so sánh Đại Hàn với Bắc Việt cộng sản, hoặc là so sánh Đại Hàn với Việt Nam Cộng Hoà.

    Không xác định rõ ai là ai, thì so sánh cái quái gì, hả mấy ông phân tích da trong nước (Trần Đình Bút), và cả ông N.V.Tuấn cũng đạp ... theo.

    Pages