Nguyễn Văn Tuấn - Phê bình văn học thời bao cấp

  • Bởi Admin
    10/12/2014
    4 phản hồi

    Nguyễn Văn Tuấn

    Thỉnh thoảng đọc lại sách báo thời "bao cấp" tôi thấy cũng vui vui. Chẳng hạn như đoạn sưu tầm dưới đây là trích từ cuốn sách "Văn học Giải phóng Miền Nam" xuất bản năm 1976. Trích đoạn viết về Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Nhạc sĩ Phạm Duy, và Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang. Lời lẽ thì khỏi nói các bạn cũng có thể đoán được: xuyên tạc. Viết về Thầy Nhất Hạnh thì tác giả cho rằng "nhân danh con người trừu tượng, tình thương chung chung, tung hoả mù làm lẫn lộn bạo lực cách mạng với bạo lực phản cách mạng, xoá bỏ ranh giới giữa kẻ xâm lược và người bị xâm lược".

    Còn viết về Phạm Duy thì "tung ra những bài tâm ca lời ai oán, nhạc rên rỉ. […] Tâm ca ra vẻ phủ nhận chiến tranh, bất kể chiến tranh chính nghĩa hay phi chính nghĩa, phủ nhận lập trường cả hai bên, đi vào cái gọi là 'tự tình dân tộc'. Tâm ca giả vờ đi tìm một lối thoát, một sự lẩn trốn của người văn nghệ trước thời cuộc, mà thực chất là một thái độ đầu hàng nguỵ trang. […] Phạm Duy bày chuyện 'nước mắt mẹ' để biện hộ khéo léo cho bọn xâm lược tàn bạo. Vì vậy, nhiều giáo sư và học sinh ở Sài Gòn, ở Huế đã gọi Phạm Duy là 'tên phù thuỷ âm thanh' và đã chỉ ra bộ mặt thực của tên bồi bút tâm lý chiến trâng tráo …"

    Đọc những dòng chữ trên, nếu các bạn còn trẻ và không biết gì về những tên tuổi đó thì chắc chẳng có cảm xúc gì, hay tệ hơn là tin vào tác giả. Nhưng đối với những người từng lớn lên trong bối cảnh văn nghệ thời đó, thời của Thiền sư Nhất Hạnh và Nhạc sĩ Phạm Duy, thì chỉ biết mỉm cười. Cười vì sự xuyên tạc thô bỉ và sự chụp mũ thô bạo của tác giả. Cười vì trình độ của tác giả hình như chưa tới. Tất cả những câu chữ trên đều nguỵ biện và diễn giải không đúng bối cảnh của Phạm Duy và Thiền sư Nhất Hạnh. Đúng là họ (hai người đó và nhiều người khác nữa) phản đối bạo lực, phản đối chiến tranh, phản đối Mĩ. Có lẽ chính vì phản đối bạo lực và chiến tranh là đi ngược lại chủ trương của cách mạng vốn dựa vào bạo lực, nên làm tác giả … bực mình.

    Có lẽ vì bực mình và bị lu mờ bởi chính trị, nên những phê phán của tác giả chẳng có gì là học thuật. Tác giả chỉ đơn giản múa may quay cuồng chung quanh những khẩu hiệu giáo điều quen thuộc và ấu trĩ, nhưng đeo mặt nạ "phê bình văn học". Thật tình, tôi chẳng nghe nói Phạm Duy là "phù thuỷ âm thanh" bao giờ; chỉ nghe người ta xưng tụng ông là "Phù thuỷ âm nhạc" thì có. Nhưng sự xưng tụng đó không phải là vì ông biện minh cho "bọn xâm lược tàn bạo", mà vì tài nghệ của ông trong việc hoá chuyển những bài thơ vô danh thành những bài nhạc bất hủ. Tức là tác giả không biết bối cảnh của danh xưng mà viết một cách gán ghép hết sức bậy bạ.

    Mấy người làm công việc "phê bình văn học" thời bao cấp hay có thói quen nguỵ biện và viết bậy. Nhớ trước đây khi Phạm Duy còn sống và sau khi đã về VN định cư, ông được báo chí tán dương, thì có một bài báo của một nhạc sĩ tố cáo rằng bài "Mùa thu chết" của ông là một xuyên tạc Cách mạng Tháng Tám! Trời ạ, bài đó "Mùa thu chết" là do Phạm Duy phổ từ thơ của Guillaume Apollinaire, chứ xuyên tạc gì đâu. Điều đáng nói là ông nhạc sĩ tác giả bài báo rất dở đó lại chính là con của một nhà chính trị và cũng là một học giả từng bị "Cách mạng" cho lên bờ xuống ruộng.

    Tôi đoán những tác giả từng vung bút hay lớn tiếng xuyên tạc và chửi bới các đồng nghiệp ở miền Nam thời trước 1975 bây giờ chắc một số vẫn còn sống. Với thời gian, có lẽ họ đã sáng ra phần nào, đã hiểu hơn một chút về những chủ nghĩa ngoài chủ nghĩa Mác Lê Mao. Có lẽ họ đã có khả năng thẩm thấu chất văn học của những Nhất Hạnh, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Bình Nguyên Lộc, Dương Nghiễm Mậu, Võ Phiến, Bùi Giáng, Thanh Lãng, Lê Tất Điều, v.v. Không biết sau khi ngộ ra cái hay cái đẹp của những tác giả đó, họ có hối hận vì những nhận xét hồ đồ và hung hăn trước đây. Mà, dù có hối hận thì cũng đã muộn, vì chữ viết của họ vẫn còn đó trên giấy trắng mực đen, và con cháu đời sau sẽ đánh giá họ qua những con chữ hung bạo đó.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Bây giờ đọc lại những lời lẽ trong thời bao cấp thì nhiều người chẳng hiểu nói cái gì. Chẳng cứ bây giờ đọc lại mới không hiểu mà ngay thời ấy đọc cũng không hiểu. Đọc không hiểu cũng không biết hỏi ai, vì hỏi mà người ta không đáp mà người ta còn kết tội mình là có động cơ xấu mới hỏi thế, nghĩa là người ta chỉ muốn minh chỉ biết nghe thôi. Xin lấy vài ví dụ những cái thời ấy nói mà lúc bấy giờ cũng như lúc bây giờ đều không hiểu:
    - Người ta lên án "tác phong tiểu tư sản", nhưng hỏi "tác phong tiểu tư sản" là tác phong như thế nào thì cả người nói lẫn người nghe đều không hiểu.
    - Hối trước đánh giá văn học phải có "tính đảng, tính giai cấp, tính đấu tranh". Chẳng biết nay còn còn đánh giá tác phẩm văn học dựa theo những tính đó không? Tôi đã hỏi mấy vị GS TS văn học nhưng chẳng vị nào biết trả lời. Bác nào biết, thử trả lời xem sao.
    - Hồi ấy có chia ra mấy dòng văn học như văn học lãng mạn, văn học hiện thực, văn học hiện thực XHCN là văn học cách mạng, còn gọi tắt alf văn học XHCN. Nhưng chẳng biết ngày nay còn chia ra như thế nữa hay không? Nếu còn chia như vậy thì những tác phẩm văn học hiện nay như những tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tú (Cánh đồng bát tận...) và những bài thơ và truyện ngắn đăng thường xuyên đăng trên các báo có phải là văn học XHCN (văn học cách mạng) hay không? Câu này cũng chẳng tháy các vị GSTS văn học nào trả lời.
    Dưới chế độ HXCN thì chỉ biết nói lúc nào nghe lúc ấy thôi, thắc mắc làm gì cho bận óc và vô bổ, nghĩa là nói và nghe cũng có tính chất sách lược, nhất thời. Nhiều người có nhận xét như thế.
    "Chỉ có di chúc của cụ Hồ mới có tính chất vĩnh cửu thôi." Có người nhận xét như vậy nhưng nhớ là trong ngặc kép đấy.

    Nhà thơ Hoài Thanh Vạch tính chất phản động của bài “Nhất định thắng” của Trần Dần

    Nhà thơ Trần Dần trong bài Nhất định thắng viết:
    Tôi bước đi
    không thấy phố
    không thấy nhà
    Chỉ thấy mưa sa
    trên màu cờ đỏ
    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Miền Bắc trong bài Trần Dần hoàn toàn không đúng với miền Bắc thực của chúng ta. Mới xem lướt qua, có người tưởng lầm là Trần Dần chỉ nói đến những khó khăn. Nhưng xem lại thì thấy rõ Trần Dần đã xuyên tạc và vu khống miền Bắc. Trần Dần đã tạo ra một miền Bắc đen tối và ngột ngạt. Bốn lần Trần Dần day đi day lại cái hình ảnh mưa rơi trên cờ đỏ, cố gây một ấn tượng âm u đối với thực tế tươi sáng của chúng ta. Phải chăng vì một thứ phiền muộn vẩn vơ nào đây mà Trần Dần nhìn cảnh vui lại hóa ra cảnh buồn? Nhưng nếu chỉ có thế thì cũng chỉ là một sự sai lầm bình thường như nhiều sai lầm khác trong các tác phẩm văn nghệ của ta. Đối với những sai lầm ấy, người đọc chỉ phê bình và thường là phê bình một cách thân ái.
    Trần Dần trong bài Nhất Định Thắng viết:
    - Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc...
    Ai dẫn họ đi ?
    Ai ?
    Dẫn đi đâu ? - Mà họ khóc mãi thôi
    Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió
    Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi
    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Hãy lấy một vấn đề di cư. Ai cũng biết không có bàn tay độc ác của Mỹ Diệm thì không làm gì có vấn đề di cư. Tiếng nói thật của quần chúng đi Nam là: chúng tôi bị dụ dỗ, chúng tôi bị cưỡng ép, chúng nó dọa đốt nhà, chúng nó dọa giết người, không đi không được. Nhưng Trần Dần làm lời quần chúng đã gán cho quần chúng những là: di cư vì thiếu tiền, thiếu gạo, thiếu cha, thiếu Chúa, thiếu gió, thiếu mây. Đúng là luận điệu của địch.

    Trần Dần cứ day đi day lại: "Ai dẫn họ đi? Ai?" mà không thấy trả lời, không vạch mặt chỉ tên quân địch.

    Nhà thơ Trần Dần trong bài Nhất định thắng viết:
    Tổ quốc hôm nay
    tuy gọi sống hòa bình
    Nhưng mới chỉ là trang thứ nhất
    Chúng ta còn muôn việc rối tinh...
    Chúng ta
    Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc
    Vợ con đau thì rối ruột thuốc men
    Khi mảng vui - khi chợt nhớ chợt quên
    Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt.
    Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.
    Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù
    Chúng còn đương bày kế hại đời ta ?
    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Ngoài việc vu cáo ta về vấn đề di cư chính do chúng gây ra, bọn Mỹ Diệm còn thường xuyên xuyên tạc về các vấn đề thất nghiệp, đói kém, hàng hóa ế ẩm do chúng để lại. Đối với những sự việc ấy Chính phủ và nhân dân ta giải quyết kịp thời với những kết quả to lớn hiển nhiên. Nhưng bài “Nhất định thắng” đã phủ nhận những thắng lợi đó của ta, đã hoàn toàn rập theo những luận điệu vu khống xảo trá của quân địch. Trần Dần nói đến những vấn đề trên với một giọng oán thán, hằn học. Hằn học ai? Mọi người đều biết khó khăn ta còn gặp phải chính là bọn đế quốc xâm lược, bọn Mỹ Diệm, gây ra. Nhưng Trần Dần đã phản lại nhận định đó.
    Nhà thơ Trần Dần trong bài Nhất định thắng viết:
    Tôi thường tin ở cuộc đấu tranh đây
    Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu
    Tôi là người vô địch của lòng tin
    Sao bỗng hôm nay,
    tôi cúi mặt trước đèn ?
    Gian nhà vắng chuột đêm nó rúc.
    Biết bao nhiêu lo lắng hiện hình ra.
    Hừ ! Chúng đã biến thành tảng đá
    chặn đường ta !
    Em ơi thế ra
    Người tin tưởng nhất như anh
    vẫn có phút giây ngờ vực
    Ai có lý ? Và ai có lực ?
    Ai người tin ? Ai kẻ ngã lòng tin ?
    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Địch không sợ gì hơn là lòng tin tưởng, sức phấn khởi đó. Chúng tìm đủ mọi cách để gieo rắc tinh thần tiêu cực, hoang mang. Trần Dần đã làm đúng như điều mong muốn của chúng.

    Trần Dần khi không dựng đứng lên:

    Cả nước đã bầu tôi toàn phiếu
    Tôi là người vô địch của lòng tin.

    Ta có thể tưởng chỉ là câu nói huênh hoang vô nghĩa của một người điên. Nhưng mà không. Trần Dần nói thế để nói tiếp theo đó:

    Em ơi thế ra
    Người tin tưởng nhất như anh
    Vẫn có những phút giây ngờ vực.

    Trần Dần ngờ vực như thế nào? Trong cuộc đấu tranh giữa nhân dân ta và Mỹ Diệm, Trần Dần gieo mối ngờ:

    Ai có lý? Và ai có lực?

    Chúng ta biết trong khi nhân dân ta tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nắm chắc chính nghĩa trong tay và hoàn toàn tin tưởng vào lực lượng của mình đã được thử thách trong kháng chiến, không phải không có một số ít người ngại đấu tranh, co mình lại nghĩ lẩn thẩn hết chuyện này đến chuyện nọ. Trần Dần ném ra một câu hỏi vu vơ, không giải quyết, chính là đánh trúng vào tâm lý ấy.

    Nhà thơ Trần Dần trong bài Nhất định thắng viết:
    Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc
    Tai bỗng nghe những tiếng thì thầm
    Tiếng người nói xen tiếng đời ầm ã
    - Chúng phá hiệp thương
    - Liệu có hiệp thương
    - Liệu có tuyển cử
    - Liệu tổng hay chẳng tổng ?
    - Liệu đúng kì hay chậm vài năm ?
    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Cả cái giọng nói của Trần Dần cũng góp phần gây hoang mang. Trần Dần có một lối nói chán chường, buông thõng: những tự do tự diếc, Mỹ miếc Ngô nghê hoặc như nói về tổng tuyển cử mà mọi người đang hy sinh phấn đấu để thực hiện cho bằng được thì Trần Dần buông một câu:

    Liệu tổng hay chẳng tổng?

    Từ trong giọng nói toát ra một thứ chán chường nặng trĩu. Trần Dần nuôi dưỡng cái phần hoài nghi, phần khiếp nhược, phần dơ dáy trong một số người. Địch không mong gì hơn là gọi dậy các thứ bùn nhơ ấy nó là cơ sở cho chế độ thối tha của chúng cũng như lòng dũng cảm, chí hy sinh, niềm tin tưởng là cơ sở cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng của chúng ta.

    Nhà thơ Trần Dần trong bài Nhất định thắng viết:
    Dân ta ơi !
    Những tiếng ta hô
    Có sức đâm trời chảy máu.
    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Cũng có đoạn hình như Trần Dần ca ngợi miền Bắc. Trần Dần vẽ lên một cảnh mít-tinh và Trần Dần nói người đói, người no, người lành, người rách, người đang vui, người đang buồn tất cả ra đường hô khẩu hiệu. Rồi máu trời rơi xuống vì

    Những tiếng ta hô
    có sức đâm trời chảy máu

    Cái vĩ đại của miền Bắc là ở sức lao động sáng tạo của hàng triệu người đang xây dựng hòa bình và hạnh phúc ở khắp nơi trên đất nước giầu đẹp của chúng ta. Tuyệt nhiên không nói đến những cảnh ấy mà chỉ nói đến mít-tinh và nói theo kiểu Trần Dần nói thì không phải là ca ngợi mà chính là xuyên tạc.

    Nhà thơ Hoài Thanh viết:
    Toàn bài của Trần Dần toát ra một sự hằn học sâu sắc đối với chế độ tươi sáng ở miền Bắc, đối với sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, thống nhất của nhân dân ta. Tôi không kết luận về người. Tôi chỉ căn cứ vào bài văn. Tự nó, bài “Nhất định thắng” trong lời và chữ của nó, chứa đựng những tư tưởng phản động, đứng về phía địch chống lại nhân dân ta, chống lại cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

    Trong nền văn nghệ chúng ta đầy tin tưởng ở hiện tại và tương lai của chế độ, của dân tộc, bài “Nhất định thắng” của Trần Dần thật đúng như lời đồng chí Nguyễn Tuân nói, là một thứ mụn lở trên một cơ thể lành mạnh.

    Nhưng chúng ta vốn đã biết trong cuộc đấu tranh quyết liệt của chúng ta, những phản ứng như vậy của tư tưởng địch là chuyện tất nhiên. Nó tuyệt đối không thể cưỡng lại sức mạnh của chính nghĩa, của nhân dân đang tiến mau như thác cuốn.

    Theo trang Talawas, nhà thơ Xuân Diệu có bài phê bình thơ Lê Đạt thời nhân văn giai phẩm, một sso ví dụ như:

    Lê Đạt viết:
    Bài Thơ Trên Ghế Đá

    Tác giả: Lê Đạt Đêm mưa lạnh
    Gió không có nhà
    Những cửa phòng khép lại
    Mái nhà ấm biết bao nhiêu,
    Hai bóng người nghiêng nghiêng trên ghế đá
    Vũ trụ đêm nay làm của riêng
    Một áo che chung
    Đôi lòng khép lại
    Mái nhà nào ấm bằng
    Đôi miệng trẻ gặp nhau
    Chớp rạch chân trời lóe sáng.
    Ghế đá bỗng rùng mình
    Lần đầu tiên trong đời
    Bỗng thấy chán cuộc đời làm đá.
    Đêm
    Ghế đá rủ nhau
    Từng đôi
    Từng đôi
    Khoác tay nhau tâm sự
    Đi suốt đêm không ngồi
    Cây trút lá gửi tình hôn mặt nước
    Mưa gió buồn cũng rủ nhau đi nốt.

    Nhà thơ Xuân Diệu bình là

    Nhà thơ Xuân Diệu viết:
    Bài thơ trên ghế đá đầy một điệu hưởng lạc, chết lịm trong tình yêu. Cái con người đòi vần trái đất theo con đường cộng sản ấy, đưa ra cái hình ảnh Trình Giảo Kim xưa “mỗi lần ngửi hơi đất mẹ, lại thấy gấp muôn lần khỏe”, tưởng anh ta sẽ ví với người cán bộ mỗi khi hoà mình vào quần chúng, lại thấy sức lực hồi lại nghìn lần; đó là bài học cổ điển của người cộng sản; nhưng không! Cái “đất mẹ” của Lê Đạt không phải là nhân dân mà chỉ là “em”, em tiếp hơi cháy bỏng cho! Lê Đạt đã từng đề ra một châm ngôn [8] : “Ăn như tư sản – Sống như Lão, Trang – Viết như vô sản”. Ăn thật khoái mồm, sống thật bàng quan, và viết thật cách mạng. Đó là tâm lý con buôn trắng trợn, giành lấy phần sướng, phần lợi nhất trong mọi lĩnh vực. Kiểu tìm cái sướng của Lê Đạt là lối hưởng lạc trối già, trối già không phải của tuổi tác, mà trối già của những giai cấp rẫy chết, bị lịch sử lên án. Trong bản thảo đánh máy của Bài thơ trên ghế đá đưa nhà xuất bản Hội Nhà văn, có bài thơ “Trong hầm bí mật” về sau không in vào sách, rất tiêu biểu cho cái triết lý “máu, sướng và chết” của Lê Đạt. Lê Đạt bày ra một cảnh đôi trai gái gặp nhau trong hầm bí mật, trong khi tiếng cuốc của giặc phá hầm rào rào trên đầu. Trước cái nguy cơ đó, đáng lẽ người ta chuẩn bị một mất một còn với giặc; nhưng Lê Đạt thì lại cho hai người ôm ghì lấy nhau, lấy cái chết ở trên đầu làm một cái kích thích bệnh hoạn!

    Nhà thơ Xuân Diệu cũng viết

    Nhà thơ Xuân Diệu viết:
    Nhà xuất bản Hội Nhà văn, dưới sự lũng đoạn của Hoàng Cầm, in tập thơ Ghế đá, chúng ta không lạ. Nhưng một luồng thơ xấu như thơ Lê Đạt, bị công chúng căm về nội dung, ghét về hình thức, mà tại sao vẫn còn một nhóm người thưa thớt nào đó ra vẻ ưa thích? Điều này cũng dễ hiểu thôi. Đây là một vấn đề giai cấp xã hội, vấn đề hệ loại tư tưởng.
    ...
    Cái màu cá nhân anh hùng rẻ tiền, càn quấy ngổ ngáo của cao bồi đã gặp Lê Đạt là phát ngôn nhân của họ. Thơ Lê Đạt rất nhiều “cá tính”, thích đập phá vô chính phủ, bán trời không văn tự, chống đối lập trường và kỷ luật xã hội chủ nghĩa, thì nhất định là được cao bồi, những sản phẩm còn rớt lại của văn hoá Mỹ, đồng thanh tương ứng.
    ...
    Nhưng Lê Đạt và nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm không dựa được trên chân lý, trên chính nghĩa; cái cơ sở giai cấp mà họ đưa vào cũng đang phân hoá; những cao bồi đã học tập ba nên hai chống; một số ít sinh viên lầm lạc sau khi học tập cải tạo chính trị, đã tỉnh ngộ; các văn nghệ sĩ vạch chân tướng của bọn phá hoại.
    ...
    Văn nghệ là nơi đòi hỏi sự chân thật hơn ở đâu hết, một chút giả dối nào chóng chầy cũng tòi ra. Những con người như Lê Đạt không thể kiếm chác lâu, lừa bịp lâu được.
    ...
    Lấy một Lê Đạt ra làm ví dụ của thứ “văn nghệ” Nhân văn–Giai phẩm, chúng ta đã rút một bài học cảnh giác với chủ nghĩa cá nhân tư sản có nhiều biến hoá mưu mánh. Rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ vạch tính cách giai cấp phản động của nó, bất cứ nó lẩn lút ở đâu; chúng ta cần tiếp tục quét tan chủ nghĩa xét lại và tư tưởng của nhóm phá hoại Nhân văn–Giai phẩm để xây dựng nền văn học cách mạng.

    Những "bồi bút" kiến thức đong chưa đầy cái lá ...mít mà cho viết sách GK thì hậu quả ra sao ngày nay đã được thấy, cần gì đợi 100 năm. Bây giờ lại một đợt "cách mạng giáo dục" nữa, sách đang viết, sẽ viết, không mang hơi hám "Mác-Lê-Mao-Hồ" nữa (tìm và diệt lũ Mỹ-Ngụy), mà mang hơi hám đồng xanh đồng đỏ, không biết rồi sẽ ra sao? Chắc nước ta sẽ tiến nhanh tiến mạnh cho bằng thằng Cam-Bu-Chia!!