Ngô Minh - Nguyễn Trường Thọ: Đặt tay lên ngực trống đồng

  • Bởi Sapphire
    04/12/2014
    0 phản hồi

    Ngô Minh


    Chuyến đi Trại viết văn do Bộ Giao thông vận tải tổ chức ở Cửa Lò tháng 6/2014 rồi, qua nhà thơ Nguyễn Văn Hùng , tôi được biết thêm ở Vinh có một người làm thơ bút danh (cũng là tên thật) là Nguyễn Trường Thọ . Anh tặng tôi tập thơ mới in năm 2014 có cái tựa đề rất đắt: ĐẶT TAY LÊN NGỰC TRỐNG ĐỒNG. Thấy cái tít sách hay quá, tôi đọc một mạch. Hóa ra Nguyễn Trờng Thọ là cây bút thơ chuyên nghiệp, viết lục bát rất hay. Dường như anh chỉ lặng lẽ viết, ít gửi in thơ trên các báo. Gõ Google tìm “thơ Nguyễn Trường Thọ” chỉ thấy vài trang mạng như vanvn.net, hay nguyentrongtao.info…in thơ anh. Trò chuyện với tôi, anh bảo :”Thọ làm thơ từ hồi học sinh cấp 3, nhất là thời giạn ở bộ đội”. Thế mà từ chục năm nay anh chỉ in 3 tập thơ: Lắng lại phù sa (2004); Lặng lẽ thương (2006); Đặt tay lên ngực trồng đồng (1014). Lặng lẽ ấy âu cũng là một cách ứng xử với thơ, trân trọng thơ. Tôi nhớ nhà thơ Nguyễn Viết Lãm có câu thơ hay về sự tĩnh lặng ấy : Một sát –na tĩnh lặng/ Cơ may một trái chín sinh thành…Tôi thấy nhiều người khác mỗi năm in một vài tập, nhưng thơ không đọng lại chút gì trong lòng người đọc cả !

    Cuộc đời Nguyễn Trường Thọ cũng lặng lẽ như thơ vậy. Anh kể rằng, anh có 8 năm 11 tháng ở bộ đội ( Sư đoàn 312), 10 năm làm công nhân Cảng Nghệ Tĩnh. Lám lính trơn thôi, công nhân thôi, chẳng chức quyền gì. Sau đó do đói quá anh xin về “một cục” ( 176). Hai vợ chồng kiếm được sạp hàng trong chợ Vinh. Từ đó, anh làm “xe lai” hàng ngày chở vợ đi chợ. Khi vợ bận hay ốm, anh lại thay vợ ra chợ ngồi bán hàng. Nghĩa là Nguyễn Trường Thọ đích thị là dân lao động thuộc tầng lớp “công dân hạng hai”, “dưới đáy xã hội”. Có lẽ cuộc sống vất vả đời thường từng trải như thế làm cho thơ anh thấm thía nỗi đau đất nước, nỗi đau cuộc đời. Thơ anh là thơ thật thốt lên từ trái tim của mình.

    Trong tập thơ Đặt tay lên ngự trống đồng , anh viết nhiều về đất nước, nhân dân, về biển đảo Trường Sa, Nơi biên cương Tổ Quốc, về nỗi đau thời hậu chiến… Trong tập thơ nhiều nhất là thể lục bát. Nguyễn Trường Thọ lục bát rất nhuyễn, ám ảnh người đọc. Bài thơ in đầu tập Đặt tay lên ngực trống đồng là bài tiêu biểu của lục bát Nguyễn Trường Thọ. Hình tượng “ngực trống đồng” lần đầu tiên xuất hiện trong thơ Việt Nam. : Đặt tay lên ngực trống đồng / Để nghe vọng tiếng Lạc Hồng ngàn năm. Ngực trống đồng trở thành vòm ngực chứa trái tim đang thổn thức của mỗi người dân Việt. Với cái tứ thơ mới mẻ ấy, truyền thuyêt lịch sử bỗng trở nên gần gũi, riêng tư, lay động lòng người: Dấu đường lông ngỗng còn đau /Trắng phau chìm nổi bể dâu kiếp người/…/Một trăm chiếc trống làng tôi / Năm mươi xuống bể năm mươi lên rừng /…/ Nước non thủa ấy hao gầy / Cháu con vun đắp tròn đầy nơi nơi…

    Non sông xã tắc hưng vong

    Đặt tay lên ngực trống đồng… lắng nghe!

    Đối với đề tài Đất nước, nhân dân, lâu nay, nhiều nhà thơ chỉ viết cái “ta”, tức viết cái ngoài mình . Với cấu tứ tài hoa, Nguyễn Trường Thọ đã biến cái ”ta” thành cái tôi trữ tình chân thật. Tôi cho rằng đây bài thơ lục bát hay trong kho tàng lục bát Việt Nam.

    Đọc lục bát Nguyễn Trường Thọ, tôi chợt nhớ Phan Hồng Khánh, một cây lục bát siêu của Nghệ An đã mất ( Gánh khô gánh khát ta đi / Khát thì đắng họng, khô thì cháy gan…- PHK) Viết về Nhân Dân, cũng là đề tài lớn, là cái “chúng ta” lớn, Nguyễn Trường Thọ cũng làm cho nó trở thành “chuyện của mình”

    Là giọt bấc là ngọn đèn

    Thanh bần thắp sáng nỗi niềm áo cơm
    Là cay đắng là thảo thơm
    Đồng xa bóng rạ bóng rơm gọi làng

    Câu thơ Thanh bần thắp sáng nỗi niềm áo cơm là câu thơ mới và hay. Không phải giàu có mới “vinh hoa phú quý” mà thanh bần cũng đầy ắp ước mơ. Nguyễn Trường Thọ quan niệm về Tô Quốc rất cụ thể :Đó là hòn đất : Gieo hạt nắng gặt vầng dương /Chân người có mỏi dặm đường có xa / Hòn đất ủ ấm tình cha / Từ đây Tổ Quốc mở ra chân trời. Bài thơ chỉ bốn câu mà nới được cái sâu xa cần nói. Viết về Trường Sa, Nguyễn Trường Thọ có bài thơ lục bát xúc động :

    Đảo ơi không thể tròng trành

    Phía em năm tháng đâu thành nỗi xa
    …. Bắt đầu từ đó màu xanh
    Trăng liềm hình đảo mong manh khoảng trời
    …Biẻn sâu sao sóng quặn dài
    Ai làm mắt sóng vỗ hoài nỗi đau
    ( Sóng quăn Trường Sa)

    Nguyễn Trường Thọ viết nhiều về Trường Sơn, về nỗi đau thời hậu chiến. Là người lính lái xe của Sư đoàn 312, những cung đường Trường Sơn chiến tranh đã đúc nên tâm hồn, bản lĩnh và nỗi đau của anh. Trong anh khắc khoải bóng hình của Mẹ ở miền Trung: Mẹ làm chiếc bóng chờ mong / Cạn đêm sương giá buốt cong nỗi niềm /giọt ngày đã thức ngoài hiên / quờ tay…Bóng mẹ chạm miền cỏ lau. Hay :

    Những chân hương cháy đỏ
    Lặng lẽ như nỗi dau
    Lặng lẽ như bạt ngàn bia mộ
    Lặng lẽ như Trường Sơn
    ( Trái tim Trường Sơn)

    Có hai câu thơ rất hay về bếp lửa Trường Sơn mà những người từng trải mới chiêm cảm được : Khuya sâu lụi bếp lửa tàn / Hòn than ấm với đại ngàn tìm nhau ( Cánh rừng ngọn lửa). Nghĩa rằng đêm gian nan ấy đại ngàn luôn ở bên người lính, sẽ chia và an ủi. Về những cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc, Nguyễn Ttrường Thọ phát hiện ra tiếng chim vẫn chuyền cành gọi tên các cô : Thời gian mong nhớ vá lành

    Tiếng chim Đồng Lộc chuyền cành… gọi tên…
    (Tiếng chim ở Ngã ba Đồng Lộc)

    Viết về người dì có chồng hy sinh trong chiến tranh, Nguyễn Trường Thọ có cái tứ “Gió lỡ thì” rất thơ : Cuối Động con gió lỡ thì / len vào mái tóc của dì hờn ghen. Nghe tin đôi vợ chồng ở Quảng Bình từ chiến tranh trở về sinh ra mười hai đứa con nhiễm chất độc da cam, không nuôi được đứa nào, Nguyễn Trường Thọ đau đớn viết :” Một nấm cát một nỗi đau / mười hai nấm cát tứa màu khói nhang ( Ru cát )

    Thơ thời hậu chiến của Nguyễn Trường Thọ là thổn thức của tấm lòng tri ân tri kỷ với đồng đội. Cơm áo không đùa với khách thơ, nhưng anh không vô cảm như nhiều người giàu có,chức quyền. Trong anh vẫn đau đáu những hình ảnh tàn khốc của chiến tranh : Tôi ngỡ thấy lá mang hình sợi tóc /…/Nằm yên bình bên ngực vỗ về anh ( Dưới những lớp lá rừng )

    Trong tập thơ Đặt tay lên ngực trống đồng, Nguyễn Trường Thọ có một mảng thơ rất tinh tế là mảng thơ về làng quê, lối xóm, những suy ngẫm về cuộc sống đời thường. với những cái đầu đề rất lạ như Chân mùa , lưng mùa, Áo cỏ,…Chợt nghe rét cuối con đường / Chân mùa chạm phía vô thường… gọi Đông ( Chân Mùa); hay Trâu gầy kéo nỗi long đong / Ách cày nhẫn nại uốn cong lưng mùa ( Lưng mùa); hay hình ảnh người mẹ Từ trong ký ức :

    Chợ chiều mẹ lỏng dây quang

    Bờ vai trĩu xuống đường làng gió xô

    Nguyễn Trường Thọ luôn dằn vặt chuyện thế thái nhân tình. Đêm ở bãi rác Hưng Đông, Nguyễn Trường Thọ mơ cho những người bới rác kiếm sống : Hừng đông lưng áo nhú mầm ban mai; Viết về đồng tiền gây bao tại họa cho con người, Nguyễn Trường Thọ tổng kết: Lật nghiêng hai mặt đồng tiền / Để nghe vật vả nỗi niềm nhân gian ( Hai mặt đồng tiền). Viết về cây Tầm gửi , anh đúc kết thành chuyện đời trái khoáy : Tuổi tên mượn đắp mà thành tuổi tên…

    Thơ tâm huyết như thế nên tuy mới xuất hiện, Nguyễn TRường THọ đã nhận được nhiều giải thưởng thơ: Giải nhì ( không có giải nhất) của tạp chí Áo trắng năm 2000 với bài thơ Một nửa; Giải thưởng thơ lục bát Ngàn năm thương nhớ cua lucbat.com năm 2010 với bài thơ Lá thư từ biên cương; Giải thưởng Hồ Xuân Hương 2005-2010 của UBND tỉnh Nghệ An với taapjt hơ Lặng lẽ thương ; Bằng khen tỉnh Nghệ An về văn học…

    Lúc bát là thể thơ khó viết hay, không khéo sẽ thành văn vần nôm na. Lục bát ca dao hò vè thường ngắt nhịp 2-2-2 / 2 – 2-2-2. Còn lục bát hiện đại cách ngắt nhịp rất biến thể để làm cho câu thơ lay động , ám ảnh hơn , ví dụ :

    Làn thu thủy / nét xuân sơn ( 3-3_
    Hoa ghen thua thắm / liễu hờn kém xanh ( 4-4)
    (Kiều , Nguyễn Du )

    Hay lục bát Phan Hồng Khánh mà tôi nói ở trên : Thế rồi bèo dạt mây trôi/Lệ đầm vạt áo, nón rơi chân cầu ( 2-2-2 / 4-4). Câu bát ngắt nhịp 4-4 thành những vế đối làm cho câu thơ sâu hơn. Trong lục bát hiện đại còn có cách dùng hư tự, tức là những chữ không có nghĩa gì nhưng khi đừng bên nhau sẽ thành câu thơ đa nghĩa , vì du Truyện Kiều : Mai sau du có bao giờ/Đốt lò hương ấy, so tơ phím này. Mai sau dù có bao giờ là câu thơ toàn hư tự nhưng đọc lên nghe rợn ngợp tâm hồn..

    Tôi nói đôi điều về nghệ thuật lục bát để nói rằng Nguyễn Trường Thọ trong nhiều bài thơ lục bát đã chạm đến cõi vi diệu của thể thơ này. Ví dụ câu : Em nghiêng về phía bồi hồi không còn là câu tả mà đã thành câu cảm. Hay câu : Ngước nhìn về phía mênh mông / Thiên tai vô lối bão dông vô hồi…; hay Là cay đắng là thảo thơm / Đồng xa bóng rạ bóng rơm gọi làng…cũng là lối ngắt nhịp thơ lục bát hiện đại.

    Tin rằng, nếu chăm chút hơn những bài thơ lục bát của mình theo hướng hiện đại, cảm nhiều hơn tả, Nguyễn Trường Thọ còn viết lục bát hay hơn nữa.

    Huế, ngày bế mạc WorldCup
    14-7- 2014

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi