Nguyễn Tiến Dũng - Một số câu hỏi về tự chủ đại học

  • Bởi Admin
    02/12/2014
    1 phản hồi

    Nguyễn Tiến Dũng

    Hôm thứ bẩy 29/11/2014 vừa qua ở Paris có diễn ra một “Table Ronde” (thảo luận bàn tròn) về vấn đến tự chủ đại học do AVSE (Hội chuyên gia người Việt tại Pháp) tổ chức, và tôi có được mời vào panel. Vì thời gian hạn chế và có nhiều người muốn nói nên hôm đó chỉ nói được ít, và nói bằng tiếng Pháp vì nhiều người đến dự là người Pháp. Tôi viết nhanh lại đây một vài suy nghĩ và hiểu biết của mình về vấn đề này cho những ai quan tâm. (Các quan điểm trong bài này là của cá nhân, không đại diện cho tổ chức nào).


    Tư tưởng của ĐH Princeton: “In the service of all nations”

    1) “Tự chủ đại học” nghĩa là gì?

    Nếu hiểu từ “đại học” theo nghĩa “university”, thì bản thân trong định nghĩa của nó đã có tính chất tự chủ. Gốc của từ universitas có nghĩa là tổ chức hiệp hội tự quản, ví dụ như hiệp hội của các thương nhân. Tuyên bố “Magna Charta Universitatum” của EAU (Liên hiệp các đại học châu Âu, xem: http://www.magna-charta.org/library/userfiles/file/mc_english.pdf) về đại học trang đầu có câu:

    “The university is an autonomous institution at the heart of societies… ”

    Tự chủ tức là tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về những vấn đề gì đó. Càng tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về nhiều thứ thì tức là độ tự chủ càng cao.

    Đi vào cụ thể hơn thì những người khác nhau (kể cả các hiệu trưởng đại học) hiểu cụm từ “tự chủ đại học” theo nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Theo một báo cáo của EAU, tự chủ đại học bao gồm sự tự chủ trong 4 lĩnh vực sau, chia nhỏ hơn nữa thành rất nhiều mục khác nhau:

    - Tự chủ về nội dung khoa học (academic autonomy), hay còn có thể gọi là tự chủ về học thuật.

    - Tự chủ về quản lý tài chính (financial autonomy), hay còn có thể gọi là tự chủ về vật chất.

    - Tự chủ về tổ chức (organisational autonomy), trong đó có tự chủ về ban lãnh đạo.

    - Tự chủ về cán bộ và nhân viên (staffing automony)

    Mức độ tự chủ của đại học ở các nơi trên thế giới khá là khác nhau, có nơi tự chủ hơn về mặt này, có nơi lại tự chủ hơn về mặt khác. Nhưng nhìn chung, hệ thống đại học của Anh và Mỹ được coi là có độ tự chủ vào loại cao nhất thế giới.

    2) Vì sao đại học cần có tự chủ?

    Như Luc Weber (chủ tịch hiệp hội quốc tế các trường đại học, và nguyên hiệu trưởng ĐH Geneva) đã có nói (xem: http://www.euniam.aau.dk/fileadmin/user_upload/Luc_Weber.pdf), tự chủ đại học là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ, để đại học (theo nghĩa university) có thể thực hiện được xứ mệnh của nó đối với toàn xã hội. Đại học có 3 xứ mệnh chính, đó là:

    - Nghiên cứu (tìm ra các kiến thức, hiểu biết mới)

    - Giảng dạy (truyền đạt lại các hiểu biết)

    - Phản biện xã hội (phân tích các vấn đề của xã hôi một cách khoa học)

    Trong lịch sử, các thế lực lớn (chính trị, tôn giáo, tư bản, v.v.) hay có xu hướng muốn “can thiệp thô bạo” vào các đại học, và mỗi khi các đại học bị can thiệp như vậy, mất tự chủ, thì thoái hóa, đi theo hướng giả khoa khọc hay trở thành công cụ phục vụ những kẻ nắm quyền thay vì phục vụ cho toàn xã hội.

    Một số ví dụ của thoái hóa đại học trong thế kỷ 20 do sự can thiệp từ các thế lực bên ngoài: Đức Phát Xít đốt sách và biến đại học thành công cụ truyên truyền cho chủ nghĩa phát xít; Liên Xô tiêu diệt các giáo sư di truyền học, kinh tế học v.v. vì các khoa học đó “đi ngược lại chủa nghĩa Mac-Lenin”, Mao tống các giảng viên đại học đi “cải tạo lao động” trong thời kỳ cách mạng văn hóa ở Trung Quốc. Ở Việt Nam, như một nhà khoa học có uy tín lớn có nói, “chưa có khoa học xã hội”. Lý do tất nhiên là do chưa có tự chủ về tư tưởng, nên các khoa học xã hội và nhân văn bị phát triển một cách méo mó, thiếu tính khoa học.

    Ngay ở những nơi mà các đại học đã có độ tự chủ cao, vẫn luôn luôn có nguy cơ bị các thế lực bên ngoài lợi dụng hoặc tấn công. Một báo cáo của Simone Sandry (http://fqppu.org/assets/files/publications/cahiers/cahiers_fqppu_6.pdf) về tự do học thuật ở Quebec năm 2001 có chứa nhiều vi dụ về vấn đề này. Một trong các ví dụ như sau: vào năm 1996, khi giáo sư Lacey ở Anh công bố phát hiện của ông về bênh bò điên có thể lây sang người, ông đã bị các doanh nghiệp nuôi hay chế biến thịt bò và cả bộ nông nghiệp tấn công thóa mạ kịch liệt, đến mức ông phải từ chức. Về sau thì người ta phải công nhận răng Lacey đúng, sau hàng chục trường hợp người chết vì ăn thịt bò điên. Hay một ví dụ khác: hãng thuốc Novartis “thông đồng” với ĐH California Berkeley để nhằm chiếm kiềm quyển soát các khám phá về biotech ở đó với mục đích vị lợi nhận. (Đại học Berkeley là đại học công nhưng lại bị công ty tư lợi dụng). Việc các công ty tư đầu tư vào nghiên cứu ở đại học công là chuyện bình thường, nhưng lạm dụng chuyện đầu tư để biến các nghiên cứu mà phần lớn vẫn dựa vào tiền công thành tài sản tư là vấn đề khác.

    Trong thời đại toàn cầu hóa, có sự cạnh tranh ở tầm quốc tế giữa các đại học trong việc thu hút sinh viên, giảng viên, đề tài nghiên cứu, v.v. Để có thể cạnh tranh được ở tầm quốc tế, các đại học càng cần có sự tự chủ để có thể nhanh chống thực hiện các sáng kiến, đổi mới chính mình nhằm tăng chất lượng, trở nên hấp dẫn hơn, và có ích hơn cho xã hội.

    3) Làm sao để đảm bảo đại học có tự chủ?

    Các nước trên thế giới có các đạo luật nhằm đảm bảo quyền tự chủ của các đại học. Thậm chí, trong hiến pháp của một số nước (trong đó có Phần Lan, và cả Việt Nam Cộng Hòa trước đây) có cả một điều khoản trong hiến pháp ghi là đại học là tự chủ. Những đạo luật như vậy đảm bảo cho đại học được độc lập, không bị chính quyền can thiệp một cách tùy tiện.

    Để đại học có được sự độc lập tự chủ đích thực, thì ngoài các văn bản pháp luật (đặc biệt đảm bảo về tự chủ học thuật), còn cần những yếu tố khác như:

    - Được đầu tư thích đáng từ phía nhà nước và xã hội, có sự ổn định và đảm bảo về tài chính

    - Có cơ chế và bộ máy quản lý minh bạch, hiệu quả để đảm nhiệm được trách nhiệm tự điều hành

    - Có đội ngũ giáo sư đủ mạnh để đảm bảo khả năng tự chủ về học thuật.

    Ở những nơi đã có truyền thống lâu đời, thì các điều kiện trên “hiển nhiên” đã được thỏa mãn và sự tự chủ của đại học là đương nhiên. Nhưng ở một số nơi khác, việc xây dựng lên các đại học tự chủ có thể là cả một quá trình dài, khi mà về mặt học thuật hay về mặt quản lý cũng đều chưa đủ khả năng để mà tự chủ thực sự, hay là có tự chủ nhưng cũng không đạt được sự ưu tú.

    Đặc biệt là, chính quyền và xã hội có trách nhiệm đảm bảo nguồn tài chính cho đại học (mà không can thiệp vào công việc của đại học) thì đại học mới có thể tồn tại. Vì sao chính phủ và xã hội (gồm có cả các công ty, các tổ chức phi chính phủ, các hội cựu sinh viên, v.v.) lại có trách nhiệm đầu tư vào đại học? Đó là bới kế ước giữa đại học (hiểu là non-for-profit university) với xã hội. Các hoạt động của các đại học trong lịch sử từ trước đến nay đem lại lợi ích dương rất lớn cho toàn xã hội. (Lấy một ví dụ đơn giản: chỉ tính riêng lợi ích kinh tế của phát minh ra laser đã bù lại được toàn bộ tiền đầu tư vào nghiên cứu ở đại học từ trước đến nay), và như vậy có thể nói rằng, về phía mình thì đại học đã thực hiện được kế ước. Xã hội cũng có trách nhiệm thực hiện kế ước đó.

    4) Tự chủ đại học ở Pháp ra sao?

    So với các nước khác ở châu Âu thì mức độ tự chủ đại học ở Pháp được đánh giá vào loại trung bình. Tự chủ về học thuật luôn khá cao. Về tài chính thì cho đến gần đây mức độ tự chủ không cao, và phần lớn nguồn thu (đến 90%) là do nhà nước cấp, các nguồn thu khác tương đối khiêm tốn, và mức học phí cũng rất thấp.

    Từ năm 2007 Quốc Hội Pháp thông qua luật LRU (Libertés et Réponsabilités des Universités), hay còn được biết đến với tên gọi “luật tự chủ đại học” hay “luật Pecresse” (vì là do bộ trưởng GD lúc đó là bà Pecresse đưa ra), nhằm tăng tự chủ của các đại học, đặc biệt là về mặt tài chính. Ví dụ như các khoản tiền lương và tiền thưởng của giáo sư nếu trước kia là do Bộ trả thì ngày nay do các trường tự trả, trường tự do hơn trong việc tuyển người. Ngoài ra có các qui định thay đổi về việc tuyển việc và các việc khác, ví dụ mỗi hội đồng tuyển việc bây giờ phải có ít nhất 1/2 số người là từ bên ngoài trường (nhằm giảm thiểu các trò “chim chuột” tuyển “con em cháu cha”). Cùng với bộ luật LRU là việc chuyển một phần lớn các khoản đầu tư nghiên cứu cho đại học theo kiểu thường xuyên sang kiểu theo “dự án ưu tú” (IDEX, LABEX, ANR projects, v.v.) nhằm bắt các nhà khoa học phải hăng hái cạnh tranh với nhau hơn.

    Khi bộ luật LRU và các biện pháp đi kèm (LABEX, IDEX, v.v.) mới đưa ra, thì được nhiều hiệu trưởng đồng tình, nhưng cũng có những hiệu trưởng phản đối, và đặc biệt là bị rất nhiều các công đoàn và hội sinh viên phản đối. Những người phản đối đưa ra những mối lo ngại như:

    - Luật này là một cách “rũ bỏ trách nhiệm” của chính phủ đối với đại học về tài chính. Trên thực tế, có một lượng lớn các trường rơi vào khủng hoảng tài chính, vì tiền bộ rót cho không đủ chi tiêu, dẫn đến việc cắt giảm các thứ như là cắt giảm tiền thưởng (tiền lương cơ bản thi không giảm được vì được qui định theo luật), cắt giảm biên chế (không tuyển giáo sư mới thay thế người về hưu), cắt giảm các suất giáo sư mời, v.v.

    - Luật này làm giảm tính độc lập của các giáo sư, trao quyền tập trung quá nhiều vào các hiệu trưởng, nhưng lại bóp nghẹt sự tự chủ ở các cấp thấp hơn (như ở các khoa, các đơn vị nghiên cứu thuộc trường), khiến cho tương lai “ở phía dưới” trở nên rất mù mờ khó xác định.

    - Một trong những múc đích của tự chủ đại học là nhằm giảm quan liêu, nhưng thực tế ở đại học Pháp là độ quan liêu còn tăng lên.

    - Chính quyền không tăng đáng kể tiền đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (hiện tại Pháp đang bị thua nhiều nước về đầu tư cho khoa học và có nguy cơ thụt hậu), mà chỉ làm cho việc đấu đá để nhận tiền đầu tư căng thẳng lên, các nhà khoa học mất quá nhiều thời gian vào việc viết các dự án, làm giấy tờ hành chính, v.v. và như vậy chỉ còn ít thời gian để thực sự làm khoa học. Ttự chủ hay không thì lương giáo sư ở Pháp so với các ngành khác càng ngày càng trở nên kém hấp dẫn. Tự chủ nhưng không có đầu tư tương xứng thì vẫn không thay đổi tình trạng xuống cấp đó.

    v.v.

    Bộ luật LRU được chí phủ của tổng thống Sarkozy coi là một trong những thành công của thời ông ta nhằm tăng sức cạnh tranh của các đại học Pháp. Nhiều người cho rằng, tuy có nhiều vấn đề cần được chỉnh lý, nhưng dù sao nó cũng là một bước tích cực trong việc cải tổ đại học. Nhưng không phải ai cũng đồng tình, và luật LRU vẫn đang tiếp tục bị chỉ trích mạnh, với các bài báo (ngay trên các báo phổ biến như là Le Monde) gọi nó là “tự chủ hình thức”, “ảo ảnh”, v.v.

    Kể cả sau khi đã có luật LRU thì không có nghĩa là các đại học ở Pháp hoàn toàn tự chủ về học thuật. Ngay trong năm 2014 lại xuất hiện chỉ thị từ phía bộ giáo dục ép các trường phải gộp các chương trình Master vào thành chung 1 bằng Master, ví dụ như là không còn có “Master nghiên cứu toán học” hay “Master giảng dạy toán học” mà từ sang năm chỉ còn thành chung 1 bằng, gây khó khăn cho các trường trong việc tạo các chương trình thích hợp cho định hướng nghề nghiệp của sinh viên.

    Khác với các trường Anh-Mỹ, các trường Pháp có nguồn thu nhập từ bên ngoài chính phủ rất thấp. Sau luật LRU, các trường có lập các “Foundation” nhằm thu hút thêm đầu tư từ bên ngoài, lòng hảo tâm của các cựu sinh viên, v.v., nhưng chắc phải hàng thập kỷ nữa truyền thống quyên tiền phi chính phủ cho đại học mới có thể hình thành rõ nét ở Pháp.

    Về mặt lý thuyết, với luật LRU thì các trường ĐH công được tự do hơn trong việc trả lương (không thể trả thấp hơn mức qui định của nhà nước, nhưng có thể trả phụ cấp hay thưởng thêm vào tùy ý cho lương cao lên để cạnh tranh với thế giới), nhưng trên thực tế thì hầu như chưa nơi nào (trừ một vào nơi hiếm hoi đã có được tài trợ từ bên ngoài từ trước) làm được chuyện đó.

    5) Triển vọng tự chủ đại học ở Việt Nam ra sao?

    Theo tôi hiểu thì bắt đầu có các văn bản về tự chủ đại học ở Việt nam, và có 4 trường ĐH công lớn được thí điểm tự chủ.

    Con đường đi đến tự chủ đại học ở Việt Nam còn rất dài, với nhiều chông gai và nhiều vướng mắc cơ bản cần giải quyết, đạc biệt là hai vấn đề sau:

    - Sự can thiệp của đảng, ban khoa giáo TW, v.v. dẫn đến không có tự chủ về học thuật và về lãnh đạo đại học. Những người có trình độ và tâm huyết thực sự đã rất ít, lại còn không được dùng thực sự.

    - Vấn nạn tham nhũng và thiếu trung thực (ngay các lãnh đạo ĐH cũng có thể là bằng rởm), thiếu minh bạch không có cách nào giải quyết đơn giản. Đại học tự chủ nhưng bản thân những người lãnh đạo nó thiếu tư cách, thiếu trung thực có khi còn đem lại các hậu quả to hơn so với không có tự chủ.

    Trong điều kiện hết sức khó khăn như vậy, tất nhiên vẫn có những bước có thể thực hiện được nhằm tăng tự chủ và hiệu quả công việc của giảng viên và nghiên cứu viên ở đại học. Việc thành lập NAFOSTED cáp tiền phụ cấp trực tiếp cho những người làm khoa học là một ví dụ theo chiều hướng tích cực.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Nguyễn Tiến Dũng viết:
    Tự chủ tức là tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về những vấn đề gì đó. Càng tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về nhiều thứ thì tức là độ tự chủ càng cao.

    Đi vào cụ thể hơn thì những người khác nhau (kể cả các hiệu trưởng đại học) hiểu cụm từ “tự chủ đại học” theo nghĩa không hoàn toàn giống nhau. Theo một báo cáo của EAU, tự chủ đại học bao gồm sự tự chủ trong 4 lĩnh vực sau, chia nhỏ hơn nữa thành rất nhiều mục khác nhau:

    - Tự chủ về nội dung khoa học (academic autonomy), hay còn có thể gọi là tự chủ về học thuật.

    - Tự chủ về quản lý tài chính (financial autonomy), hay còn có thể gọi là tự chủ về vật chất.

    - Tự chủ về tổ chức (organisational autonomy), trong đó có tự chủ về ban lãnh đạo.

    - Tự chủ về cán bộ và nhân viên (staffing automony)

    Mức độ tự chủ của đại học ở các nơi trên thế giới khá là khác nhau, có nơi tự chủ hơn về mặt này, có nơi lại tự chủ hơn về mặt khác. Nhưng nhìn chung, hệ thống đại học của Anh và Mỹ được coi là có độ tự chủ vào loại cao nhất thế giới.

    Nhân có bài viết của tác giả Nguyễn Tiến Dũng, tôi xin góp thêm về tự chủ đại học ở Mỹ.

    Trước hết, tự chủ về học thuật bao gồm tự chủ về nghiên cứu và nội dung giảng dạy. Về nghiên cưú, tự chủ bao gồm lựa chọn đề tài và phương pháp. Cách đây 30 năm, các ngân khoản của chính phủ cấp cho nghiên cứu khoa học (kể cả khoa học xã hội) rất dồi dào, và các nhà nghiên cứu có khá nhiều tự do trong việc lựa chọn đề tài nghiên cưú theo sở thích. Trong vòng 20 năm trở lại đây, tự chủ về nghiên cứu chỉ có tính cách tương đối vì chính quyền và các tổ chức tài trợ có thể giới hạn các đề tài mà họ muốn hỗ trợ. Thí dụ trong thời gian TT Reagan phát động "chiến tranh" chống drugs, thì bộ tư pháp chủ ý hỗ trợ các nghiên cứu về cai nghiện. Có một thời gian dài, chính phủ có nhiều chương trình tài trợ các nghiên cứu về chống bạo lực gia đình. Các chương trình nghiên cứu về khoa học xã hội từng bị de doạ cắt giảm nhiều lần trong thời gian gần đây. Một nhà lập pháp từ Texas không muốn hỗ trợ các nghiên ở ngoài nước Mỹ mà không liên quan trực tiếp đến lợi ích của Hoa Kỳ. Hiện nay, các quỹ hỗ trợ nghiên cứu bị cắt giảm nên vấn đề cạnh tranh để tìm kiếm nguồn tài trợ từ chính phủ và các foundation trở nên khốc liệt. Dĩ nhiên, không có tài trợ thì cũng vẫn cứ làm nghiên cứu được, nhưng vì làm nghiên cứu rất tốn kèm nên đối với những người không có hỗ trợ về tài chánh qui mô nghiên cứu bị giới hạn rất nhiều.

    Về vấn đề giảng dạy thì giáo chức đại học ở Mỹ vẫn còn có rất nhiều tự chủ về nội dung giảng dạy và tài liệu học tập. Nói chung, giáo chức đại học có khuynh hướng liberal nhiều hơn quần chúng, nhất là ở các tiểu bang phía Nam. Các quan điểm liberal của giáo chức đại học từng làm cho những nhà lập pháp tiểu bang có quan điểm bảo thủ không hài lòng. Họ toan tính đưa ra các luật đòi hỏi giáo chức đại học phải có quan điểm trung dung trong viêc giảng dạy, nhưng các dự luật đã bị hiệp hội giáo chức đại học phản đối vì nó xâm phạm vào quyền tự do học thuật truyền thống của đại học.

    Các đại học ở Mỹ vẫn còn có tự chủ cao về quản lý tài chánh. Vấn đề tự chủ về quản lý tài chánh không nhất thiết liên quan đến việc đại học phải nhận tài trợ tài chánh từ chính quyền. Phải nói là tất cả đại học ở Mỹ, từ công tới tư, đều ít nhiều nhận tài trợ từ chính quyền. Đại học tư nhận tài trợ từ chính quyền thông qua tài trợ của chính quyền cho các sinh viên thuôc gia đình có lợi tức thấp và tiền hỗ trợ các chương trình nghiên cứu (research grants). Đối với đại học công, một phần tiền điều hành lấy từ học phí, phần còn lại là từ tài trợ của chính quyền. Mặc dù nhận tài trợ của chính quyền, các đại học có quyền tự chủ rất lớn trong việc quản lý tài chánh, từ việc ấn định học phí, các chương trình học thuật, sinh hoạt văn hoá, ấn định mức lương giáo chức, hay khen thưởng, v.v. Tuy nhiên, quyền tự chủ về tài chánh cũng phải phù hợp với các nguyên tác chi tiêu công, vốn luôn luôn được giám sát một cách chặt chẽ. Thí dụ nguyên tắc không được dùng tiền công để tổ chức tiệc tùng liên hoan. Đi công tác chỉ dưọc trả tiền khách sạn theo giá chính phủ, vé máy bay theo hạng economy, và nếu lái xe thì khoãng 40cents/mile.

    Vấn đề tự chủ về tổ chức thì đại học tư hay công đều có quyền tự chủ gần nhau qua hình thức cùng quản lý (shared governance). Hội đồng đại diện giáo chức (Faculty Senate) có nhiệm vụ tương tự như một cơ quan lập pháp ở đại học. với rất nhiều tiểu ban để lập ra các tổ chức hay chương trình liên quan đến học thuật, hay giáo trình (curriculum) của các khoa và ngành. Họ cũng có nhiệm vụ giám sát hoat động quản lý của ban giám hiệu (administration) và đưa ra các đề nghị để cải tổ giáo trình và các chương trình học thuật hay quyền lợi của giáo chức.

    Về nhân sự, các đại học tư cũng như công, có quyền tự chủ rất lớn. Ngoài chức vụ president cần phải có sự chấp thuận của thống đốc tiểu bang, thông thuờng, việc tuyển dụng giáo chức ở những đại học lớn phần lớn bắt đầu ở cấp khoa (department). Nguyên tắc là chỉ có nhũng người có chuyên (giaó chức ở khoa) mới có thể đánh giá đúng mức khả năng của các ứng viên. Khoa cũng có toàn quyền đặt ra tiêu chuẩn về chuyên môn cho các chức vụ tuyển dụng. Thông thường, một tiểu ban tuyển chọn (search committee) được thành lập ở khoa để phụ trách phần sơ tuyển các ứng viên. Danh sách sơ tuyển được mang ra bàn bạc với toàn thể giaó chức trong khoa để chọn ngưòi đưọc mời phỏng vấn. Danh sách này phải được sự chấp thuận của cấp trên (college) để bảo đảm không vi phạm các nguyên tắc chống kỳ thị giới, chủng tộc, hay sắc tộc. Sau khi phỏng vấn, các giáo chức trong khoa sẽ quyết định người họ ưng ý nhất để đề nghị lên cấp trên. Thông thường, cấp trên sẽ chấp thuận đề nghị của khoa và ra quyết định tuyển dụng. Việc thăng thưởng cũng bắt đầu ở cấp khoa bằng sự đánh giá của các đồng nghiêp.

    Nói tóm lại, nguyên tắc tự chủ đại học đặt căn bản trên nguyên tắc dân chủ và quyền tự do tư tường. Khi dân chủ và quyền tự do tư tưởng chưa đưọc tôn trọng, thì rất khó để có tự chủ đại học. Ở VN, chỉ khi nào không còn điều 4 HP trong hiến pháp thì tụ chủ đại học mới có thể thực hiện được.