Nguyễn Gia Định - Việt Nam độc lập từ khi nào

  • Bởi Admin
    25/11/2014
    9 phản hồi

    Nguyễn Gia Định


    Nhật báo Điện tín loan tin Việt Nam độc lập. (Ảnh: Wikipedia)

    “Bởi người Việt Nam am hiểu lịch sử dân tộc đều biết ngày 11-3-1945 Bảo Đại ký đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, ra tuyên bố này khác,… là do sức ép của phát-xít Nhật, qua đó chấp nhận thay thế thế lực ngoại xâm đô hộ này (Pháp) bằng thế lực ngoại xâm đô hộ khác (phát-xít Nhật)”.

    Trong bài viết “Sự tráo trở của một người từng là… luật sư!”, báo Nhân Dân đã có đoạn viết như trên, và cho rằng cựu luật sư Lê Công Định đã “tự chứng tỏ anh ta hoặc là người rất kém hiểu biết lịch sử, hoặc cố tình xuyên tạc lịch sử để phủ nhận một sự kiện, một giá trị quan trọng của đất nước Việt Nam”.

    Sự kiện “giá trị quan trọng” mà báo Nhân Dân muốn nói đến là ngày 02-09-1945 với sự kiện chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”.

    TƯ CÁCH ĐỂ ĐỘC LẬP

    Theo tài liệu của ông Lê Xuân Khoa, nguyên Phó viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, tiến sĩ triết học, sau khi lật đổ chính quyền Pháp trên toàn cõi Đông Dương (9-3-1945), Nhật duy trì hoàng đế Bảo Đại và hứa hẹn sẽ để cho Việt Nam được độc lập.

    Bảo Đại cũng không ngờ rằng Nhật lại để ông tiếp tục làm vua thay vì đưa Hoàng thân Cường Để về nước cầm quyền. Ông đã hỏi Đại sứ Marc Masayuki Yokohama về chuyện này và nói: “Tôi gắn bó với dân tộc tôi chứ không phải ngai vàng”.

    Ngày 11-3-1945, Hoàng đế Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là Đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để chứng kiến việc tuyên bố Việt Nam độc lập. Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo. Bản tuyên cáo có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Nguyễn Phúc Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính.

    Ngày 12-3-1945, Hoàng đế Bảo Đại lại triệu tập Đại sứ Yokoyama Masayuki và trao cho ông bản tuyên cáo. Kể từ ngày hôm sau 13-3-1945, báo giới khắp Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đồng loạt loan tin Việt Nam độc lập.

    Với Dụ số 1 ra ngày 17-3, Hoàng đế nêu khẩu hiệu “Dân vi quý” (Hán-Việt: 民爲貴; lấy dân làm quý) làm phương châm trị quốc. Ông giải tán nội các cũ, các Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được Hoàng đế vời ra Huế trao nhiệm vụ thành lập tân nội các, trở thành Thủ tướng đầu tiên của Đế quốc Việt Nam. Sau đó, vào ngày 18-8-1945, Hoàng đế Bảo Đại tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam một lần nữa.

    Bảo Đại từng thúc giục ông Trần Trọng Kim: “Trước kia, người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”.

    Trần Trọng Kim thành lập chính phủ trong tình trạng độc lập nửa vời vì chưa được trao trả trọn vẹn chủ quyền và lãnh thổ, nhưng như lời nhận định nêu trên của Bảo Đại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn.

    Nếu không nắm lấy cơ hội này, Việt Nam không tránh khỏi tình trạng bị quân phiệt Nhật thay thế Pháp cai trị một cách khắt khe trong những điều kiện của chiến tranh chống quân đội đồng minh.

    TỪ CHỐI NHẬT…

    Trước tình thế rối ren của Cách mạng Tháng Tám, Thủ tướng Trần Trọng Kim được quân đội Nhật cho biết họ “còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội đồng minh đến thay”, nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ chính phủ và muốn duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn.

    Trước đó, trong chuyến đi ra Hà Nội để điều đình với Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuitsu để lấy lại Nam Kỳ và các cơ sở chủ quyền còn lại, Trần Trọng Kim đã tìm hiểu kỹ lưỡng về Mặt trận Việt Minh đang gây thanh thế ở miền Bắc.

    Ông nhận định rằng “Đảng Việt Minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ, ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo”.

    “Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái có chung mục tiêu giành lại độc lập cho nước nhà, vậy nên từ Bắc chí Nam ở đâu cũng có người theo…”

    “Đảng viên cộng sản lại biết giữ kỷ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. Xem như hội truyền bá quốc ngữ khi mới lập thành ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi, và những người nhận việc đi dạy học rất chăm, không quản công lao gì cả. Một tổ chức có kỉ luật và chịu khó làm việc như thế, làm gì mà không mạnh”.

    So sánh một lực lượng cách mạng đã hoạt động lâu năm có ảnh hưởng trong quần chúng và đang có thời cơ với một chính phủ trí thức yêu nước nhưng mới ra đời được bốn tháng, chưa có đủ quyền hành, chưa kịp có quân đội, Trần Trọng Kim đã quyết định đúng khi ông không nhờ quân đội Nhật can thiệp, một quân đội lúc đó đã mất hết tinh thần đang chờ bị tước khí giới và giam giữ.

    Chính phủ Trần Trọng Kim mang tiếng là thân Nhật, nhưng thật ra chỉ là lợi dụng cơ hội Nhật đảo chính Pháp để nắm lấy quyền cai trị nhằm dần dần phục hồi độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Đó là phương cách thực tế và khôn ngoan nhất mà bất cứ một chính trị gia sáng suốt nào, kể cả Hồ Chí Minh, cũng sẽ chọn lựa vào lúc đó.

    Khoảng tháng 6-1945, khi Thủ tướng Trần Trọng Kim gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi để yêu cầu Nhật dứt khoát trả lại ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và toàn bộ đất Nam Kỳ cho Việt Nam.

    Ông đã nói: “Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật… Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn lòng xin lui”.

    Chỉ tiếc rằng vài tháng sau, lúc gần đạt được mục tiêu thì Chính phủ Trần Trọng Kim phải ra đi.

    LỊCH SỬ VINH DANH

    Trong thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, Chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành được việc thống nhất đất nước như đã nói trên.

    Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tưởng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao uỷ Bollaert.

    Có thể thấy rằng lập luận của cựu luật sư Lê Công Định, không phải thiếu căn cứ, hay cảm tính:

    “Với cách đọc sử không lệ thuộc vào ý thức hệ, từ lâu tôi đã bác bỏ lối tường thuật và nhận định lịch sử theo hướng bóp méo vì mục đích chính trị như vậy. Cho nên, nếu gọi đó là ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn có thể đồng ý, nhưng nếu áp đặt đấy là ngày độc lập thì dứt khoát không đúng, bởi với tôi chỉ có thể là ngày 11-3-1945 khi vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam độc lập mà thôi”.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    TQVN viết:
    MÁCH CÓ CHỨNG viết:

    HIỆP ĐỊNH ÉLYSÉE (8-3-1949)- Trần gia Phụng. "Nguồn" Trần gia Phụng? Trần gia Phụng lấy nguồn tin ở "thiên đàng sự thật" nào mà không thấy trích dẫn đến tận nguồn gốc cuối cùng?

    Trần Gia Phụng là một người nghiên cứu sử, trước 1975 ông dạy sử tại các trường Trung học ở miền Nam Việt Nam. Là một người viết về sử thường tổng hợp từ vô số những nguồn, tài liệu sử khác nhau nên thường không dẫn nguồn. Tuy nhiên độc giả MÁCH CÓ CHỨNG có thể tham khảo link dẫn dưới đây, theo tôi rất gần những gì mà ông Trần Gia Phụng viết:

    http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996

    MÁCH CÓ CHỨNG

    Tiểu sử của bất cứ người viết nào cũng đều không quan trọng, ngay cả khi người viết ấy có là giáo sư đại học với 2, 3 bằng tiến sĩ. Đơn giản là khi dẫn ra sự kiện, nhất là sự kiện lịch sử, là phải dẫn nguồn để người đọc có thể kiểm chứng đó là sự kiện bịa đặt hay là sự kiện có thật.

    Điều này rất quan trọng trong thời buổi báo mạng và blog mọc tràn lan như cỏ dại. Nếu quá dễ tính không chịu kiểm tra những gì mình đọc thì rất dễ bị ngu dân hóa bởi những "bài học" lịch sử dỏm.

    Để bắt mạch "bài học lịch sử dỏm", hãy thử kiểm tra nguồn http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996 mà TQVN đã dẫn giúp cho "sử gia" Trần Gia Phụng - một người mà theo TQVN là có thói quen rất phản sử học là "thường tổng hợp từ vô số những nguồn, tài liệu sử khác nhau nên thường không dẫn nguồn" (!).

    Copy và paste http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996 vào Google cho thấy ngay trên trang đầu:

    La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées
    www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_ num_22_1_1996‎
    (2) Le 16 mai, sous réserve d'un dépôt d'un instrument d'acceptation de la Constitution, conformément à l'article 76, le Viet Nam est admis comme membre de ...

    Chỉ đọc cái tựa đề "La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées", có nghĩa là "Các đại diện của Việt Nam tại những tổ chức chuyên ngành", là biết ngay cái "nguồn" này không có liên quan gì đến cái gọi là HIỆP ĐỊNH ÉLYSÉE (8-3-1949) của Trần gia Phụng!

    Ấy vậy mà TQVN "tuyên giáo" cho người đọc Dân Luận là "rất gần những gì mà ông Trần Gia Phụng viết"!

    MÁCH CÓ CHỨNG viết:

    HIỆP ĐỊNH ÉLYSÉE (8-3-1949)- Trần gia Phụng. "Nguồn" Trần gia Phụng? Trần gia Phụng lấy nguồn tin ở "thiên đàng sự thật" nào mà không thấy trích dẫn đến tận nguồn gốc cuối cùng?

    Trần Gia Phụng là một người nghiên cứu sử, trước 1975 ông dạy sử tại các trường Trung học ở miền Nam Việt Nam. Là một người viết về sử thường tổng hợp từ vô số những nguồn, tài liệu sử khác nhau nên thường không dẫn nguồn. Tuy nhiên độc giả MÁCH CÓ CHỨNG có thể tham khảo link dẫn dưới đây, theo tôi rất gần những gì mà ông Trần Gia Phụng viết:

    http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996

    Khách Thiện Hoàng viết:
    Bài này nói chuyện năm 1945. Còn từ sau khi cụ Hồ lên cầm quyền từ 19-8-1945 (quốc khánh là 2-9 cùng năm) thì nước ta độc lập từ bào giờ? Điều này chưa thấy ai bàn cả mà chỉ thấy hình như người ta thống nhất với kiểu "độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo."
    Có ý kiến: khi chính phủ cụ Hồ lên cầm quyền chỉ là thay chế độ mẫu quốc của người Pháp bẳng chế độ huynh quốc của Liên xô và TRung quốc mà thôi, nước ta chưa có độc lập. Cái công của cụ Hồ là "đuổi hùm phía trước, rước beo phía sau". Cần làm rõ điều này đề mọi người không hiểu nhầm, cứ tưởng Hồ Chủ tịch và Đảng CS có công giành độc lập cho dân tộc.
    Thực ra nước ta độc lập là nhờ ơn Liên xô sụp đổ hoàn toàn vào năm 1989- 1990. Năm 1992 nước ta mới ban hành hiến pháp độc lập, còn hiến pháp 1982 vẫn là hiến pháp nô lê, có điều ghi trong hiến pháp là "hợp tác toàn diện với Liên xô". Nhưng thời gian "độc lập" này lại có sự chuyển tiếp sang lệ thuộc Trung cộng với Hội nghị Thành Đô.
    Còn hiện nay nước ta có độc lập hay không thì có người bảo nói thế nào cũng được, cứ để mọi người nói lên ý nghĩ của mình. Có nhiều người nói là dân mình đang là nô lệ.

    Thế ông bạn có động não không trước thực tế CQ Cụ Hồ chỉ được Liên Xô, TQ và các nước khác trong khối XHCN công nhận vào năm 1950 chứ không phải vào năm 1945?

    Nếu xem tuyên bố độcc lập của Bảo Đại trong trích dẫn tại comment dưới đây thì đồng minh có thể kết tội CQ quốc gia VN đã liên kết với phát xít Nhật - tội phạm chiến tranh rồi, có gì mà tự hào nhỉ?

    HIỆP ĐỊNH ÉLYSÉE (8-3-1949)- Trần gia Phụng. "Nguồn" Trần gia Phụng? Trần gia Phụng lấy nguồn tin ở "thiên đàng sự thật" nào mà không thấy trích dẫn đến tận nguồn gốc cuối cùng?

    Có dân trí hay không có dân trí, hoặc cố tình bóp méo sự thật, thấy ngay ở chỗ không dẫn nguồn gốc đáng tin cậy.

    Hai văn kiện do cùng 1 chủ thể Bảo Đại, lần lượt trước sau ký kết về cùng một vấn đề, thì văn kiện ký sau cập nhật và khả chấp hơn, có khi nó hoặc tái khẳng định, hoặc điều chỉnh, hoặc bãi bỏ v/k đã ký trước. Theo tinh thần pháp lý này, văn kiện hiệp định Élyssé về độc lập của VN ký giữa cựu hoàng Bảo Đại và tổng thống Pháp A. Vincent ngày 08/3/1949 (chính thức bãi bỏ hiệp ước bảo hộ 1884), có sau văn kiện tuyên cáo độc lập của vua Bảo Đại ngày 11/3/1945. Bởi vì, lúc 11/3/45 Nhật đang nắm quyền - còn 08/3/49 Pháp lại có quyền. H/Ư 08/3 không phải là một tuyên cáo đơn phương không ai công nhận, mà được xác định bởi bên chủ thể đã đang cướp quyền độc lập VN bằng lòng trả lại.

    Vậy, Đế quốc VN nguyên lập ngày 11/3/45 có trước, do ông Bảo Đại làm nguyên thủ, không còn tồn tại kể từ ngày cũng ông Bảo Đại tân lập Quốc Gia VN 08/3/49. Ngày 08/3 này là ngày độc lập, ngay khi đó ít nhất đã có nước Pháp công nhận, hợp lý hơn (còn VNDCCH, một năm sau, 1950 mới lần đầu tiên được công nhận bởi TC và LX).

    HIỆP ĐỊNH ÉLYSÉE (8-3-1949)- Trần gia Phụng.

    Do những thay đổi ở Trung Hoa và nhất là do sự thúc đẩy của Hoa Kỳ, cuộc thảo luận giữa chính phủ Pháp và Bảo Đại được khai thông nhanh chóng.

    Ngày 12-2-1949, một Hội đồng hỗn hợp Pháp Việt được thành lập. Về phía Pháp có Herzog (trưởng đoàn), Marolles, De Pereya, De Raymond, Risterruci, thiếu tá Ploix, và sau thêm năm chuyên viên tài chánh, kinh tế, kế hoạch, văn hóa, quân sự. Về phía Việt Nam có Bửu Lộc (trưởng đoàn), Nguyễn Đắc Khê, Phan Huy Đán, Phạm Văn Bính, Trương Công Cừu, Nguyễn Quốc Định, Đinh Xuân Quảng, Nguyễn Mạnh Đôn, và Trần Văn Hữu (đại diện cho Nguyễn Văn Xuân). Hội đồng hỗn hợp làm việc đến ngày 28-2-1949 thì kết thúc.

    Sau khi lãnh đạo hai phía xem xét lại các kết quả, ngày 8-3-1949, cựu hoàng Bảo Đại đến điện Élysée, nơi đặt văn phòng tổng thống Pháp ở thủ đô Paris, ký kết hiệp định với tổng thống Pháp là Vincent Auriol Vì vậy hiệp định nầy thường được gọi là hiệp định Élysée, gồm có ba văn kiện:

    1) Văn thư của tổng thống Cộng Hòa Pháp, Chủ tịch Liên Hiệp Pháp,(1) gởi hoàng đế Bảo Đại, nói về các vấn đề thống nhất, ngoại giao, nội chính, tư pháp, văn hóa, quân sự, kinh tế, tài chánh của nước Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp.
    2) Văn thư của hoàng đế Bảo Đại gởi tổng thống Cộng Hòa Pháp, Chủ tịch Liên Hiệp Pháp, xác nhận đã tiếp nhận và đồng ý về nội dung của văn thư trên.
    3) Văn thư của tổng thống Cộng Hòa Pháp gởi hoàng đế Bảo Đại bổ túc thêm, theo lời yêu cầu của Bảo Đại, các điểm liên hệ đến vấn đề thống nhất của Việt Nam và vấn đề ngoại giao, nhất là việc trao đổi đại sứ.

    Trong cả ba văn kiện trên, người Pháp gọi quốc hiệu Việt Nam như dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim. Người Pháp gọi cựu hoàng Bảo Đại là hoàng đế, thật sự chỉ có tính cách tượng trưng.

    Người Pháp cần một giải pháp chính trị để giải quyết tình hình Việt Nam. Pháp buộc lòng phải ký hiệp định Élysée, nhưng không lẽ tổng thống Pháp kiêm chủ tịch Liên Hiệp Pháp, lại ký kết văn bản với một người không có chức vụ tương xứng? Do đó, Pháp mới trở lại danh xưng “hoàng đế”, để giữ thế cân đối chính trị giữa hai bên trước mặt quốc tế.

    Với hiệp định Élysée, chính phủ Pháp chính thức giải kết hiệp ước bảo hộ 1884. Hiệp ước bảo hộ năm 1884 hết sức bất bình đẳng, đã được ký kết ngày 6-6-1884, dưới triều vua Kiến Phúc (trị vì 1883-1884). Tuy nhiên, hiệp ước 1884 chỉ đề cập đến vùng lãnh thổ từ tỉnh Bình Thuận trở ra Bắc, tức là Trung và Bắc Kỳ mà thôi. Còn Nam Kỳ là đất đã được nhượng đứt cho Pháp từ năm 1874, dưới triều vua Tự Đức (trị vì 1848-1883), nên vẫn còn được xem là lãnh thổ của Pháp. Cuộc thương thuyết về Nam Kỳ tiếp tục thêm một thời gian, để đưa đến việc tái thống nhất hoàn toàn đất nước Việt Nam

    Về hiệp định Élysée, có hai điểm cần chú ý: Thứ nhất, khi hai nước ký kết hiệp ước với nhau, thông thường là đại sứ hoặc ngoại trưởng đại diện hai nước ký kết hiệp ước. Đàng nầy, đích thân tổng thống Pháp đứng ra ký kết. Lúc đó, ông Vincent Auriol ký kết hiệp định với hai tư cách pháp nhân: vừa là tổng thống Pháp, vừa là chủ tịch Liên Hiệp Pháp.

    Thứ hai, sau khi hiệp định Élysée được ký kết, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp, mà trở thành một nước độc lập trong Liên Hiệp Pháp (LHP). Một chế độ mới được thành lập. Đó là chế độ Quốc Gia Việt Nam. Lúc đó, quân đội Pháp hiện diện ở Việt Nam không phải với tư cách quân đội Pháp, mà với tư cách là quân đội Liên Hiệp Pháp, giúp bảo vệ độc lập của Quốc Gia Việt Nam, một quốc gia thành viên trong LHP.

    3. PHẢN ĐỐI CỦA CỘNG SẢN VÀ THỰC DÂN

    Phản đối mạnh mẽ trước việc ký kết hiệp định Élysée giữa Vincent Auriol và Bảo Đại, Hồ Chí Minh trả lời như sau trong cuộc phỏng vấn ngày 3-4-1949 của Dân Quốc Nhật Báo [một báo của Trung Hoa lúc đó]: “...Đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai...Vĩnh Thụy cam tâm bán nước, đó là sự thực...”(2)

    Hồ Chí Minh kết án Bảo Đại bán nước khi ký hiệp định Élysée. Nhớ lại điều 1 thỏa ước Sơ bộ ngày 6-3-1946 giữa Hồ Chí Minh và Sainteny, nói rằng Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre) trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. Hiệp định Élysée cũng thừa nhận Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, theo điều 2 của thỏa ước Sơ bộ, Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật, nghĩa là Hồ Chí Minh chính thức đồng ý việc Pháp trở lại Việt Nam. Trong khi đó, qua hiệp định Élysée, Bảo Đại tranh đấu để đem lại độc lập và thống nhất cho đất nước. Hồ Chí Minh còn ký Tạm ước (14-9-1946) để nhượng bộ Pháp. Vậy việc ký kết các hiệp ước với Pháp giữa hai người, Hồ Chí Minh và Bảo Đại, ai là kẻ thực sự bán nước?

    Hiệp định Élysée bị các dân biểu cộng sản Pháp và các dân biểu thuộc đảng De Gaulle phản đối. Các dân biểu cộng sản lập đi lập lại một điệp khúc duy nhất là chỉ muốn chính phủ Pháp thương lượng với Hồ Chí Minh. Các dân biểu thuộc đảng De Gaulle muốn giữ thuộc địa Nam Việt lại cho nước Pháp và không bằng lòng về sự thống nhất Việt Nam. Các dân biểu nầy viện dẫn một điều luật trong Hiến pháp ngày 27-10-1946 của nền Đệ tứ Cộng hòa Pháp, theo đó “không một ai có thể phạm vào sự sứt mẻ của lãnh thổ được.”(Bảo Đại, sđd. tr. 344.)

    Ngược lại, cựu hoàng Bảo Đại cương quyết đòi hỏi Pháp phải trả Nam Việt. Dầu hiệp định Élysée đã được ký kết, nhưng Pháp chưa trả Nam Việt về lại cho Việt Nam, thì cựu hoàng cũng chưa chịu lên đường về nước.

    Bảo Đại viết:
    Tuyên ngôn "Độc Lập" của Bảo Đại ngày 11 tháng 3 năm 1945:

    "Cứ theo tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập. Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên. Khâm thử.”

    Lê Công Định: " ... Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11-3-1945".

    Từ ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại nguyện đem hết tài sản trong nước cho phát-xít Nhật (thay vì cho thực dân Pháp) để đạt được mục đích độc lập cho Việt Nam? Phát-xít Nhật, vì nhu cầu chiến tranh trong Thế chiến 2, đã trưng thu lúa gạo cùng bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ cuộc chiến, châm ngòi cho nạn đói Ất Dậu ở miền Bắc và miền Trung, làm khoảng 2 triệu người chết đói.

    Bảo Đại tuyên bố "độc lập" hủy "Hòa ước Bảo hộ" với thực dân Pháp, hợp tác với phát-xít Nhật, đồng nghĩa với chống lại phe Đồng Minh, thế nhưng khi thực dân Pháp quay lại Việt Nam thì lại thần phục tiếp với thực dân Pháp!

    Bài này nói chuyện năm 1945. Còn từ sau khi cụ Hồ lên cầm quyền từ 19-8-1945 (quốc khánh là 2-9 cùng năm) thì nước ta độc lập từ bào giờ? Điều này chưa thấy ai bàn cả mà chỉ thấy hình như người ta thống nhất với kiểu "độc lập trong phe XHCN do Liên xô lãnh đạo."
    Có ý kiến: khi chính phủ cụ Hồ lên cầm quyền chỉ là thay chế độ mẫu quốc của người Pháp bẳng chế độ huynh quốc của Liên xô và TRung quốc mà thôi, nước ta chưa có độc lập. Cái công của cụ Hồ là "đuổi hùm phía trước, rước beo phía sau". Cần làm rõ điều này đề mọi người không hiểu nhầm, cứ tưởng Hồ Chủ tịch và Đảng CS có công giành độc lập cho dân tộc.
    Thực ra nước ta độc lập là nhờ ơn Liên xô sụp đổ hoàn toàn vào năm 1989- 1990. Năm 1992 nước ta mới ban hành hiến pháp độc lập, còn hiến pháp 1982 vẫn là hiến pháp nô lê, có điều ghi trong hiến pháp là "hợp tác toàn diện với Liên xô". Nhưng thời gian "độc lập" này lại có sự chuyển tiếp sang lệ thuộc Trung cộng với Hội nghị Thành Đô.
    Còn hiện nay nước ta có độc lập hay không thì có người bảo nói thế nào cũng được, cứ để mọi người nói lên ý nghĩ của mình. Có nhiều người nói là dân mình đang là nô lệ.

    Tuyên ngôn "Độc Lập" của Bảo Đại ngày 11 tháng 3 năm 1945:

    "Cứ theo tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập. Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên. Khâm thử.”

    Trích dẫn:
    “Với cách đọc sử không lệ thuộc vào ý thức hệ, từ lâu tôi đã bác bỏ lối tường thuật và nhận định lịch sử theo hướng bóp méo vì mục đích chính trị như vậy. Cho nên, nếu gọi đó là ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn có thể đồng ý, nhưng nếu áp đặt đấy là ngày độc lập thì dứt khoát không đúng, bởi với tôi chỉ có thể là ngày 11-3-1945 khi vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam độc lập mà thôi”.

    Chả hiểu do đâu bạn Định từ khi vô tù rồi ra tù đến nay đã trở thành 'phản động cực đoan', ngày càng 'trầm trọng' hơn xưa !

    Rõ ràng là các đ/c quản giáo chỉ làm tốt được mỗi việc 'quản', chả thấy 'giáo' được bạn Định chút gì cả ! Mừng cho bạn Định :)