Bob Davis - Kỳ tích kinh tế của Trung Quốc đã đến hồi kết thúc?

  • Bởi Admin
    24/11/2014
    16 phản hồi

    Bob Davis<br />
    Athena chuyển ngữ

    Nợ công và nạn tham nhũng thực sự đang ngáng chân gã khổng lồ châu Á.

    Trong một chuyến đi đến Trung Quốc vào năm 2009, tôi đã leo lên tầng cao nhất của một ngôi chùa 13 tầng năm trong khu công nghiệp Thường Châu, cách thành phố Thượng Hải không xa lắm, và phóng tầm mắt nhìn khung cảnh xung quanh. Các loại cần cẩu đang thi công công trình trải dài tít tắp trên đường chân trời mờ sương, ánh lên màu vàng rực dưới nắng mặt trời. Daniel, con trai của tôi, lúc đó đang là giáo viên dạy tiếng Anh cho một trường học ở địa phương, nói với tôi rằng, “Màu vàng tượng trưng cho sự phát triển đấy ba ạ.”

    Trong suốt thời gian tôi ở Bắc Kinh với tư cách là ký giả của tờ Wall Street Journal tìm hiểu về nền kinh tế của Trung Quốc, thì bắt đầu từ năm 2011, Trung Quốc đã trở thành quốc gia có kim ngạch thương mại số một thế giới, vượt qua cả Mỹ, và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, vuợt lên trên Nhật Bản. Các nhà kinh tế học nhận định rằng việc GDP của Trung Quốc vươn lên đứng đầu thế giới chỉ là vấn đề thời gian.

    Trong thời gian này, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bầu ra một vị tổng bí thư đầy quyền lực, đó là Tập Cận Bình, người tự cho mình là một nhà cải cách, đã đề ra kế hoạch 60 điểm để tái cấu trúc nền kinh tế Trung Quốc và tiến hành chiến dịch xóa bỏ nạn tham nhũng trong nội bộ Đảng Cộng sản. Những người ngưỡng mộ ông Tập nói với tôi rằng cuộc thanh trừng này sẽ khiến các quan chức, chính trị gia ở địa phương và giám đốc điều hành các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ - ba chân kiềng của chế độ - lo sợ và phải ủng hộ những thay đổi của ông Tập.

    Vậy thì tại sao tôi lại tỏ thái độ bi quan như vậy, khi rời khỏi Trung Quốc lúc sắp kết thúc 4 năm công tác, về tình hình kinh tế trong tương lai của nước này? Lúc tôi mới đến đó, tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc là gần 10% trong gần 30 năm liên tục, một điều không tưởng trong lịch sử kinh tế học hiện đại. Nhưng hiện tại tỉ lệ đó giảm xuống chỉ còn 7%. Những doanh nhân phương Tây và các nhà chuyên gia kinh tế quốc tế ở Trung Quốc cảnh báo rằng số liệu thống kê GDP của chính phủ chỉ chính xác khi nó là kim chỉ nam cho hướng phát triển, và phương hướng hiện giờ của nền kinh tế Trung Quốc rõ ràng đang đi xuống. Vấn đề được đặt ra ở đây là tốc độ tụt dốc này còn nhanh và xa như thế nào nữa.

    Báo cáo của riêng tôi đã chỉ ra rằng chúng ta đang chứng kiến hồi kết thúc của kỳ tích kinh tế Trung Hoa. Cái mà chúng ta nhìn thấy chỉ là sự thành công chủ yếu dựa vào bong bóng nhà đất dựa trên vay nợ và chi tiêu công đuợc thúc đẩy bởi tham nhũng. Những chiếc cần cẩu xây dựng vuơn lên nhan nhản không phải là biểu tượng cho sức sống của một nền kinh tế; nó chỉ cho thấy nền kinh tế đó đang chạy đua một cách điên cuồng.

    Phần lớn những thành phố ở Trung Quốc tôi từng đến thăm đều đã bị lấp đầy bởi những khu phức hợp gồm các căn hộ lớn nhưng vẫn còn trống, đặc biệt chỉ nhìn thấy vào buổi tối bởi những ánh đèn từ trên tầng cao nhất. Tôi đặc biệt lưu ý điều này trong các chuyến đi về cái gọi là đô thị loại ba và bốn – có đến khoảng 200 thành phố như thế, với dân số từ 500,000 cho đến vài triệu người, nơi mà các du khách phương Tây hiếm khi đến nhưng lại chiếm khoảng 70% doanh số bán nhà đất ở Trung Quốc.

    Ví dụ, nhìn từ cửa sổ phòng khách sạn của tôi ở thành phố Dinh Khẩu thuộc phía đông bắc của Trung Quốc, tôi chỉ thấy những tòa nhà cao tầng trải dài hàng dặm, với số lượng ô tô qua lại trên đường chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nó khiến tôi nghĩ rằng đây chính là hậu quả của vụ nổ bom neutron – chỉ còn các công trình kiến trúc đứng lạc lõng nhưng không ai còn sống.

    Tình hình còn tồi tệ hơn ở Hàm Đan, một trung tâm chuyên về thép cách Bắc Kinh 300 dặm về phía Nam, khiến một nhà đầu tư ở tuổi trung niên lo sợ rằng một nhà phát triển ở địa phương sẽ không đủ khả năng thanh toán các khoản tiền lãi như đã hứa, và dọa sẽ tự tử vào mùa hè năm ngoái. Sau khi nghe những câu chuyện tương tự về sự tuyệt vọng, các nhà chức trách đã cấm người dân không được nhảy từ tầng cao nhất của các tòa nhà. Chính quyền thành phố Hàm Đan đã từ chối bình luận về điều này.

    Trong 20 năm qua, bất động sản đã trở thành nhân tố chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc. Vào cuối thập niên 1990, Đảng Cộng sản cuối cùng đã cho phép người dân thành thị được sở hữu nhà riêng, và từ đó nền kinh tế phát triển tăng vọt. Mọi người đổ hết tiền tiết kiệm vào bất động sản. Các ngành công nghiệp liên quan như thép, thủy tinh và điện gia dụng phát triển đến mức bất động sản chiếm hơn một phần tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc.

    Các khoản nợ phải trả cho sự bùng nổ, bao gồm cả khoản vay của các chính phủ, nhà phát triển và tất cả các ngành công nghiệp. Mùa hè này, quỹ tiền tệ quốc tế đã lưu ý rằng trong suốt 50 năm qua, chỉ có bốn quốc gia trải qua tốc độ tích tụ nợ nhanh như Trung Quốc chỉ trong vòng 5 năm. Bốn nước đó là Brazil, Ireland, Tây Ban Nha và Thụy Điển – đã phải đối mặt với khủng hoảng ngân hàng trong vòng 3 năm tăng trưởng tín dụng với tốc độ khủng khiếp như thế.

    Trung Quốc đã học theo Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc xuất khẩu hàng hóa để thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng quy mô phát triển rộng lớn của Trung Quốc giờ lại trở thành hạn chế. Với tư cách là quốc gia xuất khẩu nhiều nhất thế giới, liệu Trung Quốc có thể tăng trưởng đến mức độ nào nữa từ việc giao dịch thương mại với Hoa Kỳ và đặc biệt là châu Âu? Chuyển dịch kinh tế theo hướng đổi mới? Đó là câu thần chú của mọi nền kinh tế phát triển, và về điểm này thì các đối thủ của Trung Quốc lại có lợi thế hơn hẳn, đó là: xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và tín ngưỡng mang phong cách riêng.

    Khi nói chuyện với các sinh viên đại học người Trung Quốc, tôi thường hỏi họ về các kế hoạch cho tương lai. Tôi thầm thắc mắc rằng, tại sao trong một nền kinh tế với vô số tiềm năng phát triển như vậy mà rất ít sinh viên lựa chọn trở thành doanh nhân? Theo các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Trung Quốc, tỷ lệ sinh viên học kỹ thuật ở Stanford sẵn sàng tham gia các công ty mới khởi nghiệp nhiều gấp 7 lần so với tỷ lệ tương tự ở bất kỳ trường đại học danh giá nào ở Trung Quốc.

    Một cuộc phỏng vấn với sinh viên học ngành kỹ sư môi trường cứ ám ảnh tôi mãi. Bố mẹ của cậu sinh viên ấy trở nên giàu có nhờ phát triển công ty chuyên về sản xuất giày và ống nước. Nhưng cậu ấy lại không hề muốn kế nghiệp gia đình – và bố mẹ cậu ấy cũng chẳng mong muốn điều đó. Họ nói rằng thà cậu đi làm nhà nước còn hơn. Công việc vừa an toàn hơn, và nếu cậu có thể leo lên vị trí cao trong chính quyền thì có thể giúp cho việc kinh doanh của gia đình.

    Liệu chiến dịch của ông Tập có đảo ngược sự suy giảm của Trung Quốc hay ít nhất là hạn chế nó không? Có thể. Nó phụ thuộc vào công thức chuẩn của các nhà cải cách Trung Quốc: tái cơ cấu hệ thống tài chính để khuyến khích đầu tư, phá bỏ thế độc quyền để tạo ra vai trò lớn hơn cho doanh nghiệp tự nhân, chủ yếu dựa vào tiêu dùng trong nước.

    Nhưng ngay cả những nhà lãnh đạo đầy quyền lực của Trung Quốc cũng gặp khó khăn trong việc thực thi mong muốn của họ. Hồi đầu năm nay tôi có nói đến kế hoạch của chính phủ nước này trong việc giải quyết một vấn đề khá đơn giản: giảm sản lượng thép ở Hà bắc, một tỉnh gần Bắc Kinh. Chỉ riêng Hà Bắc đã sản xuất lượng thép thô gấp đôi Mỹ, nhưng từ lâu Trung Quốc đã không còn cần đến lượng thép lớn như vậy, khiến bầu trời Hà Bắc đen kịt bởi khí thải. Cuối cùng ông Tập đã phải cảnh báo các quan chức địa phương rằng, các tiêu chuẩn để đánh giá sẽ không đơn giản là mức tăng trưởng GDP nữa mà còn là đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường.

    Vào cuối năm 2013, Hà Bắc đã tổ chức một sự kiện có tên là “Ngày chủ nhật hành động.” Các quan chức đã cử một đội đi phá dỡ các lò luyện kim và nhà máy, đưa việc này trở thành sự kiện đáng quan tâm trong chương trình thời sự lúc 7h tối. Nhưng cuối cùng mọi chuyện vỡ lở ra rằng các nhà máy bị phá hủy ấy từ lâu đã không còn sản xuất nữa nên việc phá hủy chúng cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sản lượng. Thay vào đó, ngành công nghiệp luyện thép của Trung Quốc vẫn đang trên đà lập kỷ lục vào năm nay.

    Tôi đã học được một điều rằng, ở Trung Quốc, màu vàng không chỉ tượng trưng cho sự phát triển. Nó còn là màu của ánh hoàng hôn.

    ---- Esther Fung và Lingling Wei có đóng góp cho bài viết này.

    Nguồn: The End of China's Economic Miracle?, The Wall Street Journal.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    16 phản hồi

    Điều đáng ngạc nhiên là các bạn yêu chuộng dịch thuật đã không quan tâm đến bản dịch Chủ tịch Hoàng Đế của Trung Quốc - Tập Cận Bình Siết Chặt Kiểm Soát của Elizabeth C. Economy trên DL gần đây. Trong bản dịch này có nhiều vấn đề cần trao đổi để học tập chung.

    Ông NHQ là một nhà phê bình văn học hay nói cho đúng hơn, là người giới thiệu văn học VN cho sinh viên Úc. Ông không phải là nhà ngôn ngữ học và không phải là dịch giả vì tôi không thấy có tác phẩm nào ông dịch từ tiếng nước ngoài (Pháp, Anh) ra tiếng Việt.

    Như tôi đã nói, dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt, ngoài lãnh vực văn chương thơ phú, cần phải dịch cho có văn vẻ, ở những lãnh vực khác phải dịch cho thật chính xác để không phản lại người mình dịch, mặc dầu ngạn ngữ Pháp có câu "Dịch là phản bội". Muốn vậy dịch giả cần phải thật thông hiểu tiếng mình muốn dịch ra, như muốn dịch tiếng Anh phải thông hiểu những tinh tế của tiếng Anh, muốn dịch tiếng Pháp, phải thông hiểu những tinh tế của tiếng Pháp và phải biết sử dụng những từ điển lớn nhất của những tiếng này, chứ không phải những cuốn từ điển Anh-Việt hay Pháp-Việt, chỉ cần thiết cho những người mới học 2 tiếng này.

    Tôi thấy đa số những bài dịch trên DL đều khá chính xác và độc giả DL cũng nhiều người thông hiểu tiếng nước ngoài nên có sai lầm cũng dễ bị chỉnh lại. Chính bác "Nguyễn Phú Trọng" đã đặt câu hỏi về Từ "Beliefs" (số nhiều) dịch là "tín ngưỡng". Tôi vẫn không quên bác Tuấn là người đã phanh phui những lỗi lầm sơ đẳng trong bài của "Visitor" giả làm người Mỹ viết đả kích những người Việt ở Mỹ. Nếu bài này được viết bởi nhà báo điệp viên Phạm Xuân Ẩn thì đố mà biết được.

    Nếu những nhà nghiên cứu về tiếng Việt hiện đại mà biên khảo ra một cuốn sách tiếng Việt, giới thiệu các từ ngữ thông dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội Âu Mỹ bằng cách minh hoạ qua thí dụ và các kiểu phiên dịch khác nhau tuỳ theo văn cảnh, theo đúng mối quan tâm mà bác Phong Uyên bày tỏ như vậy thì tôi sẽ là người đầu tiên mua cuốn sách ấy :)
    Ông N. H. Quốc là một người người giỏi chữ nghĩa và am hiểu văn hoá Tây phương, nhưng rất tiếc hình như ông "đang bận" quan tâm về văn học và các "nhà văn" (đúng ra phải là writer, chứ không phải như cái nghĩa hẹp mà ông vẫn sử dụng), chỉ nội việc có cả ngàn tiến sĩ ở Việt Nam mà chưa thấy ai biên soạn một công trình tương tự khả dĩ xài được cũng là chuyện đáng ngạc nhiên.

    Thưa bác Tuấn

    Lẽ dĩ nhiên là đọc câu của Athena viết thấy xuôi tai hơn vì hoàn toàn Việt, khiến người đọc có cảm tưởng không phải là câu dịch. Nhưng như tôi đã nói, rất khó mà tìm được những Từ Hán-Việt, từ trước tới nay chỉ là những từ ngữ tượng hình nằm trong thơ phú, để dịch cho thật chính xác những từ ngữ trừu tượng đặc biệt của Phương Tây nằm trong những lãnh vực khoa học, triết học, kinh tế học, chính trị học là những lãnh vực phát sinh từ cái nôi Hi- La của Phương Tây. Vì vậy, tôi thấy ở những lãnh vực này, sự chính xác là rất cần thiết và nếu không tìm được một Từ ngữ Hán-Việt nào để có thể dịch sát nghĩa được thì cứ để nguyên chữ Tây phương, như trong Tin học bây giờ hay như ở những nước Thổ Nhĩ Kỳ, Indonêsia...

    Nhận xét của bác Tuấn về cách dịch của tôi cũng rất đúng: Ở những lãnh vực này, tôi thiên về phần cắt nghĩa và làm sao cho thật sát nghĩa hơn là làm sao cho người đọc có cảm tưởng đọc một câu đúng văn cú, ngôn từ tiếng Việt. Trái lại tôi hoàn toàn đồng ý với bác là dịch một cuốn truyện hay một bài thơ thì phải làm sao cho người đọc có cảm tưởng là tác giả cuốn truyện đó, bài thơ đó, là người viết tiếng Việt. Chỉ cần thấy từ cả ngàn năm nay, mỗi năm có cả chục phiên bản tiếng Việt của một bài thơ Đường như bài Hoàng hạc Lâu, là biết dịch, nghĩa là lột tả cho đúng tiếng Việt, rất khó.

    Bác Phong Uyên:
    Bác cắt nghĩa ideosyncratic là "tùy theo cá tính của mỗi người" rất chính xác, tự điển không thể làm hơn thế được :)

    Tuy nhiên, cắt nghĩa và dịch thật sát nghĩa là một chuyện, còn viết sao cho thành câu văn nghe xuôi tai là một chuyện khác.
    Ta thử so sánh hai câu này:

    Athena:
    "xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và tín ngưỡng mang phong cách riêng"

    Và (dựa vào đề nghị của bác):
    "xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và những sự tin chắc tùy theo cá tính của mỗi người"
    hay:
    "xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và những sự tin tưởng tùy theo cá tính của mỗi người"

    Tôi đọc và thấy câu của Athena nghe xuôi tai hơn nhiều, và quan trọng nhất là, thật sự mà nói, nó không diễn giải sai ý hay làm người ta hiểu lầm lập luận của Bob Davis. Còn đọc hai câu sau thì tôi có cái cảm giác của người lái xe đi đến đoạn đường có ổ gà. Bác đã từng viết một số bài khá hay cho DL, và có vốn ngữ vựng phong phú, tôi nghĩ bác có thể cải thiện hai câu ấy được.


    Bác VN2006A:

    Trích dẫn:
    Translation is like a woman. If it is beautiful, it is not faithful. If it is faithful, it is most certainly not beautiful!!!

    Thế chữ "woman" bằng "man" và "beautiful" bằng "pleasing to the ears" thì câu ấy vẫn không bị suy giảm giá trị :)

    Nếu tác dụng của văn xuôi, qua các bài nghị luận hay phân tích, là giúp người đọc nắm được ý tứ và đọc

    Translation is like a woman. If it is beautiful, it is not faithful. If it is faithful, it is most certainly not beautiful!!!

    Jewgeni Alexandrowitsch Jewtuschenko

    (Dịch thuật giống như 1 người phụ nữ, nếu đẹp (hay) thì không "chung thuỷ", nếu "chung thuỷ" thì chắc là không đẹp!!!) :-))

    Dịch như Phong Uyên sát nghĩa hơn!!! Nó là niềm tin chắc chắn!!!

    ...nhìn trong đôi mắt đều thấy mỗi người, nở 1 nụ cười tin chắc tương lai...

    Nguồn: "tiếng chày trên sóc Bom bo"

    Uhm, quên mất dẫn nguồn, lại phải quay trở lại điền thêm vào!

    Đồng ý với bác Tuấn, Athena dịch rất văn vẻ "idiosyncratic beliefstín ngưỡng mang phong cách riêng. Nhưng nếu cho là Athena đã dịch sát nghĩa, và nhất là sát ý của Bob Davis thì không đúng :

    Khi Bob Davis thêm "S" vào "Belief" tức là có ý nói beliefs ở đây không có nghĩa là "tín ngưỡng (một đạo giáo, một chủ nghĩa, một lý thuyết", nghĩa là "niềm tin có hệ thống chung cho cả nhiều người mà có nghĩa là nhũng niềm tin, những tin tưởng, những sự tin chắc riêng biệt tùy theo mỗi cá nhân. Tôi xin nhẵc lại "Belief" có gốc tiếng Đức là "galaub" chỉ có nghĩa là "yêu kính". Từ thế kỷ thứ 12, khi được dùng ở số ít thì chỉ có nghĩa là 'Tin tưởng vào Trời" (Trust in God), đồng nghĩa với "Faith", nhưng Faith đến từ chữ latin "Fides" (tín ngưỡng), có nghĩa hơi khác một chút.

    Đế chứng tỏ "beliefs" không phải là tín ngưỡng (chung của nhiều người), Bob Davis dùng tính từ cớ gốc tiếng Pháp nhưng đến từ chữ cổ Hi Lap là "Idiosyncratic".

    Theo "Online Etymology Dictionnary" "Idiosyncrasy" gồm 2 chữ :

    Ideos, có nghĩa là "one's own" (mỗi người).

    Syncrasis, có nghĩa là temparament, mixture of personal, caracteristic. Tôi tạm dịch là "cá tính'.

    Tôi đề nghị dịch "idiosyncratic beliefs" là " những sự tin tưởng, những sự tin chắc tùy theo cá tính của mỗi người".

    Tôi cũng không thể nói dịch "phong cách riêng" là không đúng. Nhưng tôi thấy hơi mơ hồ tuy rất văn vẻ vì "phong cách" theo Đại Từ điển tiếng Việt có nghĩa là vẻ riêng trong lối sống, làm việc của một người hay của một hạng người nào đó.

    Tôi cũng xin nói thêm là, trừ những văn chương thơ phú, dịch những từ ngữ về khoa học, triết học, chính trị phải làm sao cho thật đúng nghĩa và dễ hiểu. Dịch cái kiểu Proletariat là vô sản, Class là giai cấp, Bourgeois là tư sản, đã đem đến biết bao nhiêu đau thương cho dân tộc.

    Athena dịch câu "Their societies encourage free thought and idiosyncratic beliefs" là "Xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và tín ngưỡng mang phong cách riêng" là quá hay, đầy đủ ý nghĩa và sử dụng ngữ vựng Việt một cách hợp lý.

    Belief, nghĩa thông thường nhất là niềm tin, sự/việc tin tưởng, như: tôi tin ngày mai trời nắng, tôi tin anh vv.
    Tuy nhiên, dựa vào đoạn này của bài viết:

    Trích dẫn:
    Trung Quốc đã học theo Nhật Bản và Hàn Quốc trong việc xuất khẩu hàng hóa để thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng quy mô phát triển rộng lớn của Trung Quốc giờ lại trở thành hạn chế. Với tư cách là quốc gia xuất khẩu nhiều nhất thế giới, liệu Trung Quốc có thể tăng trưởng đến mức độ nào nữa từ việc giao dịch thương mại với Hoa Kỳ và đặc biệt là châu Âu? Chuyển dịch kinh tế theo hướng đổi mới? Đó là câu thần chú của mọi nền kinh tế phát triển, và về điểm này thì các đối thủ của Trung Quốc lại có lợi thế hơn hẳn, đó là: xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và tín ngưỡng mang phong cách riêng.

    Bob Davis đang so sánh chuyện "tin tưởng" (belief) không phải của cá nhân, một nhóm người nhỏ, mà là của nguyên một dân tộc, trải qua khoảng thời gian dài, thấm nhuần vào văn hoá, truyền thống. Đây là loại niềm tin có hệ thống, mang tính dân tộc, dân gian (bên tôn giáo có chữ hay hơn: đức tin, faith), gọi là tín ngưỡng, như tín ngưỡng về việc cúng cơm mời ông bà về, cử quét nhà trong ba ngày Tết, ở hiền gặp lành vv

    Nếu Idiosyncratic (theo bác Phong Uyên) có nghĩa là thuộc về cá nhân mỗi con người, thì thay vì dịch "Idiosyncratic beliefs" là " những tin tưởng, những tin chắc của mỗi cá nhân", nghe hơi cứng mộc mạc, tại sao không dùng câu của Athena: "tín ngưỡng mang phong cách riêng", nghe văn vẻ hơn? Cũng như vậy, câu của Athena "tư duy phóng khoáng" nghe thanh thoát hơn là "tư duy tự do".

    Nghĩa thông thường nhất của từ Prestigious là có tiếng tăm (lẫy lừng), danh tiếng. "Danh giá" bao gồm vừa ý niệm danh tiếng lẫn giá trị, phẩm chất (tức là vừa có "tiếng", vừa có "miếng". (Ở đời có nhiều thứ chỉ có tiếng tăm, chứ thật sự ít có giá trị). Danh giá có thể được dùng cho công ty, hay trường đại học.

    Muốn dịch sao cho thật sát nghĩa một từ ngữ Tây phương, cần phải biết nghĩa gốc latin hay Hi Lạp của nó. Cái khó là chỉ có thể tìm ra một nghĩa tương đương trong những Từ Hán-Việt và những Từ này nhiều khi lại phản lại nghĩa gốc Từ mình muốn dịch:

    - reputable đến từ chữ latin reputare : có thể đếm được, có thể định giá được. Dịch ra tiếng Hán-Việt "danh giá, có giá" là sát nghĩa nhất, nhưng khổ một cái là "danh giá" thường đi đôi với "gia đình": "gia đình danh giá". Dịch "Đại học danh tiếng" thì đúng theo cách nói tiếng Việt hơn, nhưng lại không sát nghĩa.

    - Prestigious đến từ chữ Latin "praestigium có nghĩa là cái gì khác thường như làm trò ảo thuật, tạo ra sự thán phục. Dịch là "tuyệt vời, tuyệt diệu" có vẻ sát nghĩa nhất.

    - "Beliefs là một Từ hoàn toàn Anh. Ở đây không có nghĩa là "tín ngưỡng" mà có nghĩa là "sự tin tưởng, sự tin chắc (conviction) của chính mình".

    - Idiosyncratic đến từ chữ Hi Lạp Idiosynkrasia, có nghĩa là thuộc về cá nhân mỗi con người. "Idiosyncratic beliefs" có thể dịch là " những tin tưởng, những tin chắc của mỗi cá nhân"

    hong anh viết:

    Elite nghĩa là tinh túy, ưu tú, cao cấp.
    Danh giá là reputable, prestigious, established.

    Elite universities nên dịch thành những đại học ưu tú.

    While being a prestigious high education institution UCLA is usually not considered as an elite one. But Ivy League universities are.

    Tôi có nghĩ đến "ưu tú", đấy là một trong những cách dịch từ elite (như elite class = tầng lớp ưu tú), tuy nhiên, tôi thấy từ ngữ "danh giá" mà Admin đã đề nghị có cái gì đó "trúng phóng" trong trường hợp này. Theo câu cắt nghĩa tiếng Anh mà hong anh viết ở trên, chữ "prestigious" diễn tả đúng cái ý "danh giá, tiếng tăm đó".
    Tôi check lại tự điển thì thấy tĩnh từ "ưu tú" thường được dùng kèm với danh từ chỉ người, nhân vật, như nhân viên ưu tú, học sinh ưu tú vv

    Admin viết:
    Cảm ơn bác Tuan34344 đã bắt giò bài dịch, chúng tôi đã sửa lại cho đúng: ... "

    Đã bị "bắt giò", thì Athena hãy xem đến đoạn này luôn:

    xã hội của họ khuyến khích tư duy phóng khoáng và tín ngưỡng mang phong cách riêng.

    Their societies encourage free thought and idiosyncratic beliefs.

    beliefs == tín ngưỡng ?

    Admin viết:
    Cảm ơn bác Tuan34344 đã bắt giò bài dịch, chúng tôi đã sửa lại cho đúng: "Theo các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Trung Quốc, tỷ lệ sinh viên học kỹ thuật ở Stanford sẵn sàng tham gia các công ty mới khởi nghiệp nhiều gấp 7 lần so với tỷ lệ tương tự ở bất kỳ trường đại học danh giá nào ở Trung Quốc."

    Tôi đề nghị như thế này:

    "Theo các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Trung Quốc, khi tốt nghiệp, tỷ lệ Sv học kỹ thuật ở Stanford sẵn sàng tham gia các công ty nhiều gấp 7 lần so với (các Sv của) bất kỳ trường đại học ưu tú nào ở Trung Quốc."

    Nguyễn Jung

    tuan34344 viết:
    Câu dịch của Admin rất chuẩn và dễ hiểu. Tôi học được từ ngữ Việt mới: elite universities = đại học danh giá. Có lời rồi :)

    Elite nghĩa là tinh túy, ưu tú, cao cấp.
    Danh giá là reputable, prestigious, established.

    Elite universities nên dịch thành những đại học ưu tú.

    While being a prestigious high education institution UCLA is usually not considered as an elite one. But Ivy League universities are.

    Câu dịch của Admin rất chuẩn và dễ hiểu. Tôi học được từ ngữ Việt mới: elite universities = đại học danh giá. Có lời rồi :)

    Có một lý do nữa có thể giải thích được thái độ chập chững, quờ quạng về dự tính nghề nghiệp trong tương lai của sinh viên Tàu: trong khi sinh viên Mỹ có tính tự lập, độc lập và thường chọn ngành họ thích, các sinh viên Tàu (và - khổ lắm, nhưng cứ phải nhắc mãi - Việt) hay có thói bắt chước nhau, thấy đồng hương học hay làm cái gì thì cũng nhảy bám đuôi xe đò làm theo cái đó, chứ thật sự không biết họ thích ngành gì nhất. Khi làm thăm dò nghiên cứu, cần để ý đến các yếu tố tâm lý phụ trội ấy, trong khuôn khổ kiểm soát biến số thống kê, thì mới biết các dữ kiện thu thập được ấy thật sự nói lên điều gì.

    Cảm ơn bác Tuan34344 đã bắt giò bài dịch, chúng tôi đã sửa lại cho đúng: "Theo các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Trung Quốc, tỷ lệ sinh viên học kỹ thuật ở Stanford sẵn sàng tham gia các công ty mới khởi nghiệp nhiều gấp 7 lần so với tỷ lệ tương tự ở bất kỳ trường đại học danh giá nào ở Trung Quốc."

    Trích dẫn:
    Khi nói chuyện với các sinh viên đại học người Trung Quốc, tôi thường hỏi họ về các kế hoạch cho tương lai. Tôi thầm thắc mắc rằng, tại sao trong một nền kinh tế với vô số tiềm năng phát triển như vậy mà rất ít sinh viên lựa chọn trở thành doanh nhân? Theo các nhà nghiên cứu ở Mỹ và Trung Quốc, sinh viên học ngành kỹ sư ở Stanford nhiều gấp 7 lần so với số sinh viên theo học tại các trường đại học danh giá ở Trung Quốc có ý định khởi nghiệp.

    Câu này hơi khó hiểu.
    Khi xem bài gốc, tôi hiểu là ở đây Bob Davis đang so sánh chuyện dự tính về tương lai của các sinh viên học ngành kỹ sư người Mỹ (ở Stanford) và người Tàu. Tỷ lệ sinh viên Mỹ có ý định làm ăn, tham gia hay mở doanh nghiệp cao gấp bảy lần so với sinh viên Tàu.
    Điều này có thể do sinh viên Tàu có viễn kiến chính xác, biết được sự thật là tương lai làm ăn ở Tàu không thể khá được (mặc dù ai cũng thấy nhà cửa cao ốc đang được xây mọc nhanh như nấm), tức là cách phỏng đoán của Bob Davis về hiện tượng "bong bóng nhà đất ngập nợ nần" có cơ sở. Tuy nhiên, sự khác biệt về thái khẳng định tương lai có chiều hướng rõ rệt ấy cũng có thể chỉ phản ảnh bản tính quá tự tin, thích "nổ" của người Mỹ mà thôi. Bong bóng có thể xảy ra, nhưng tôi không tin là sinh viên Tàu lại có óc phân tích và tiên liệu thông minh đến như thế.


    Trích dẫn:
    Một cuộc phỏng vấn với sinh viên học ngành kỹ sư môi trường cứ ám ảnh tôi mãi. Bố mẹ của cậu sinh viên ấy trở nên giàu có nhờ phát triển công ty chuyên về sản xuất giày và ống nước. Nhưng cậu ấy lại không hề muốn kế nghiệp gia đình – và bố mẹ cậu ấy cũng chẳng mong muốn điều đó. Họ nói rằng thà cậu đi làm nhà nước còn hơn. Công việc vừa an toàn hơn, và nếu cậu có thể leo lên vị trí cao trong chính quyền thì có thể giúp cho việc kinh doanh của gia đình.

    Có lẽ cậu ấy muốn kế nghiệp, theo dấu chân đi của các lãnh tụ chóp bu trong chế độ CS chăng? Trong chín ông trùm trong Bộ Chính Trị Tàu có đến tám người vốn xuất thân là kỹ sư. Văn hoá chính trị Tàu cộng (và Việt cộng) = giới cai trị phải là kỹ sư. Ở bên Mỹ và Canada thì giới cai trị xuất thân từ luật sư khá nhiều, ít ai từ kỹ sư mà lên nắm quyền cả.